1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NHẬN THỨC và HÀNH VI rửa TAY BẰNG xà PHÒNG của NGƯỜI dân tại 2 xã PHƯỜNG TỈNH sơn LA năm 2011

3 409 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 118,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHậN THứC Và HàNH VI RửA TAY BằNG Xà PHòNG CủA NGƯờI DÂN TạI 2 Xã/PHƯờNG TỉNH SƠN LA NĂM 2011 Vũ Phong Túc - Trường Đại học Y Thái Bình Nguyễn Thị Liễu - Sở Y tế tỉnh Sơn La TóM TắT Ng

Trang 1

Y học thực hành (866) - số 4/2013 163

biệt không có ý nghĩa thống kê chứng tỏ thuốc nghiên

cứu không ảnh hưởng đến quá trình tăng cân của thỏ

3 ảnh hưởng trên cơ quan tạo máu

Kết quả thu được ở các bảng từ 2 đến 6 cho thấy

các chỉ số dùng để đánh giá chức năng hệ thống tạo

máu của cơ thể như số lượng Hồng cầu, Huyết sắc tố,

Hematocrit, Bạch cầu và số lượng tiểu cầu không thay

đổi có ý nghĩa thống kê ( p> 0,05) ở 2 lô dùng chế

phẩm Mecook liên tục 4 tuần, so với trước khi dùng

thuốc và so với lô chứng Điều đó chứng tỏ chế phẩm

Mecook với liều 0,12g/kg và 1,2g/kg không làm ảnh

hưởng tới chức phận hệ thống tạo máu của thỏ thực

nghiệm

KếT LUậN

- Chế phẩm Mecook với mức liều 50g/kg chuột

nhắt là liều gấp 16,5 lần liều thường dùng trên người

không gây độc tính cấp

- Chế phẩm Mecook liều 0,12g/kg và 1,2g/kg thể

trọng thỏ sau 4 tuần dùng liên tục làm tăng trọng lượng

thỏ so với trước nghiên cứu, không ảnh hưởng tới thể trạng và chức năng hệ thống tạo máu của thỏ thực nghiệm

TàI LIệU THAM KHảO

1 Bộ y tế( 2002), Dược điển Việt Nam III, NXB y học,

tr 309-310; 314-315; 320-321; 324-325; 420-421; 423-424; 430-431; 435-436; 470-471; 480-481; 485-486; 503-504; 510-511; 520-521;

2 Bộ y tế (1996), Hướng dẫn kèm theo quyết định số 371/BYT-QĐ ngày 12/3/1996 về xác định độ an toàn cho thuốc cổ truyền

3 Đỗ Tất Lợi (2003), Những cây thuốc và vị thuốc việt nam, NXB khoa học và kỹ thuật, Tr 220-221; 270-272; 285-288; 290-292; 295-298; 310-312; 320-321; 324-326; 420-422; 460-463; 520-523; 530-532; 540-543; 620-622;

4 Đỗ Trung Đàm (1996), Phương pháp xác định độc tính cấp của thuốc, NXB Y học

5 Sarah wolfensohn et al (1998), Small Laboratory Animal, Hand book of Labolatory Animal Management and welfare 2nd Edition, pp 206-216

NHậN THứC Và HàNH VI RửA TAY BằNG Xà PHòNG CủA NGƯờI DÂN

TạI 2 Xã/PHƯờNG TỉNH SƠN LA NĂM 2011

Vũ Phong Túc - Trường Đại học Y Thái Bình Nguyễn Thị Liễu - Sở Y tế tỉnh Sơn La TóM TắT

Nghiên cứu dịch tễ học mô tả được thực hiện dựa

trên phỏng vấn và quan sát 200 chủ hộ gia đình với

mục tiêu mô tả nhận thức và hành vi rửa tay bằng xà

phòng của người dân tại 2 xã/phường thuộc tỉnh Sơn

La năm 2011

Kết quả cho thấy nhận thức của người dân về rửa

tay bằng xà phòng trước khi ăn, khi chế biến thức ăn

và sau khi đại tiện chỉ chiếm từ 31,5% đến 52,5%

Thực hiện hành vi rửa tay bằng xà phòng sau khi đại

tiện chỉ chiếm 14,5%, trước khi ăn là 11,0%; trước khi

chế biến thức ăn và sau khi tiểu tiện chỉ chiếm tỷ lệ rất

thấp từ 2,0% đến 7,5%

Từ khóa: Rửa tay, xà phòng

SUMMARY

The descriptive epidemiological study was

implemented among 200 head of households with the

objective as to describe knowledge and practice of

hand washing with soap of people at two

ward/commune of Sonla Province, 2011

The results showed that people's knowledge of

hand washing with soap before eating, when

preparing food and after defecating accounted for

only 31.5% to 52.5%, respectively Practicing of hand

washing with soap after defecating and before eating

were only 14.5% and 11.0%, respectively; before

preparing food and after urination were very low rate

from 2.0 % to 7.5%

Keywords: hand washing, soap

ĐặT VấN Đề

Nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường là vấn

đề đáng quan tâm ở nhiều nước đang phát triển, đặc

biệt ở Việt Nam, với sự giúp đỡ của nhiều tổ chức trên

thế giới và những nỗ lực của các ban ngành, tổ chức tại Việt Nam về việc giảm bớt tình trạng thiếu nước sạch, tăng cường nhận thức và hành vi rửa tay bằng xà phòng với nước sạch trong sinh hoạt thông thường hàng ngày của người dân như trước khi ăn, sau khi đại tiểu tiện, trước khi cho con bú, ăn…là một trong những thói quen quan trọng liên quan đến can thiệp giảm tỷ lệ bệnh tật đường tiêu hóa như tiêu chảy, bệnh tả và các bệnh nhiễm giun, sán

Nhận thức và thực hành rửa tay bằng xà phòng trong cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam còn rất thấp, đặc biệt tại các khu vực nông thôn miền núi, vùng biên giới nơi người dân ít có điều kiện tiếp xúc với các phương tiện truyền thông sức khỏe kèm theo

điều kiện kinh tế, xã hội còn thấp Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu: Mô tả nhận thức và hành vi rửa tay bằng xà phòng của người dân tại 2 xã/phường, thành phố Sơn

La năm 2011

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Phường Chiềng Lề và xã Hua La, tỉnh Sơn La

- Đối tượng nghiên cứu là chủ hộ gia đình tại 2 xã/phường

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 10 năm 2010

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang

Trang 2

Y học thực hành (866) - số 4/2013 164

2.2 Kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu

Chọn mẫu thuận tiện 2 xã/phường vào nghiên cứu

thông qua việc lập danh sách chủ hộ gia đình, áp dựng

kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn với chủ hộ gia đình

tham gia trả lời phỏng vấn, cỡ mẫu được tính theo công

thức tính cỡ mẫu cho cuộc điều tra cắt ngang là 200

chủ hộ gia đình

Bảng kiểm quan sát và phiếu phỏng vấn trực tiếp

chủ hộ gia đình theo bộ câu hỏi cấu trúc được chuẩn bị

trước

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được nhập bằng phần mềm EPI DATA

ENTRY 3.1 Phân tích kết quả bằng phần mềm SPSS

16.0 Sử dụng phương pháp phân tích số liệu bằng

thống kê y học, các chỉ số được thể hiện bằng tần số,

tỷ lệ phần trăm

KếT QUả NGHIÊN CứU

Bảng 1: Nhận thức của người dân về hành vi rửa

tay bằng xà phòng

Thời điểm Số lượng (n=200) Tỷ lệ (%)

Thực trạng nhận thức của người dân về hành vi rửa

tay bằng xà phòng chủ yếu là sau khi tay bị dính chất

bẩn và có mùi hôi thối từ 62,5% đến 89,0% Tỷ lệ

người dân cho rằng nên rửa tay bằng xà phòng trước

khi ăn, khi chế biến thức ăn và sau khi đại tiện chỉ

chiếm từ 31,5% đến 52,5% Trong khi đó tỷ lệ rửa tay

bằng xà phòng sau khi tiểu tiện, sau khi tiếp xúc với vật

nuôi chỉ chiếm 10,0% đến 14,5%

Bảng 2: Nhận thức về bàn tay không rửa sạch và

một số bệnh

Tên bệnh Số lượng (n=200) Tỷ lệ (%)

Phần lớn người dân cho biết bàn tay bẩn thường

gây các bệnh như: bệnh tiêu chảy 54,5%, bệnh đau

mắt chiếm 45,0 %, bệnh giun sán 41,0% Tuy nhiên

liên quan đến không rửa tay bằng xà phòng với một số

bệnh về tiêu hóa và bệnh ngoài da chỉ chiếm từ 8,5%

đến 12,5%

Bảng 3: Thực hiện hành vi rửa tay bằng xà phòng

Hành vi rửa tay Số lượng (n=200) Tỷ lệ (%)

Quan sát việc thực hiện hành vi rửa tay bằng xà

phòng của người dân tại 02 xã/phường cho thấy tỷ lệ

rửa tay bằng xà phòng sau khi đại tiện chỉ chiếm 14,5%, trước khi ăn là 11,0%, trước khi chế biến thức

ăn và sau khi tiểu tiện chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp từ 2,0%

đến 7,5% người dân rửa tay bằng xà phòng

Bảng 4: Quan sát quy trình rửa tay bằng xà phòng của người dân (n=70)

Thời điểm Đúng quy trình SL Tỷ lệ (%) Không đúng quy trình SL Tỷ lệ (%)

Trước khi chế biến

Tỷ lệ người dân rửa tay bằng xà phòng không đúng quy trình theo 6 bước trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi đại tiện là từ 21,4% đến 30,0% trong khi rửa tay đúng quy trình tương ứng các thời điểm trên chỉ từ 8,6% đến 11,4% Hành vi người dân rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn và sau khi đi tiểu tiện đều không đúng quy trình

BàN LUậN Hành vi rửa tay bằng xà phòng của người dân cho rằng nên rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, khi chế biến thức ăn và sau khi đại tiện chỉ chiếm từ 31,5% đến 52,5% thấp hơn so với nghiên cứu của Đặng Cẩm Tú với nhận thức về hành vi rửa tay bằng xà phòng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi từ 60,0% đến 87,0% tại Gia Sơn, Ninh Bình [3]

Nhận thức của người dân cho biết bàn tay bẩn thường gây các bệnh như bệnh tiêu chảy 54,5%, bệnh

đau mắt chiếm 45,0 %, bệnh giun sán 41% cũng thấp tương ứng như kết luận và bàn luận của Nguyễn Cẩm

Tú về xu hướng đánh giá chưa cao về các bệnh liên quan đến bàn tay chưa được rửa sạch bằng xà phòng Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ rửa tay bằng

xà phòng sau khi đại tiện chỉ chiếm 14,5%, trước khi ăn

là 11,0%, trước khi chế biến thức ăn và sau khi tiểu tiện chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp từ 2,0% đến 7,5% là thấp hơn nghiên cứu của Trần Đắc Phu tại 8 tỉnh trong cả nước năm 2008 về hành vi rửa tay của các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi là phù hợp theo suy luận kiến thức và thực hành về rửa tay bằng xà phòng của người dân thuộc tỉnh miền núi phía Bắc cũng còn có những điểm hạn chế [1]

Theo nghiên cứu Đặng Cẩm Tú cũng tương ứng tỷ

lệ người dân rửa tay bằng xà phòng không đúng quy trình theo 6 bước chỉ chiếm 3,0% cũng tương ứng với nghiên cứu của chúng tôi cụ thể: thực hiện rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi đại tiện là từ 21,4% đến 30,0% trong khi rửa tay đúng quy trình tương ứng các thời điểm trên chỉ từ 8,6% đến 11,4% Hành vi người dân rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn và sau khi đi tiểu tiện

đều không đúng quy trình [2]

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy khoảng cách giữa nhận thức và thực hành thực tế rửa tay bằng

xà phòng còn khá lớn, cần có những can thiệp lâu dài

để thay đổi hành vi rửa tay và tăng tỷ lệ rửa tay bằng

xà phòng với người dân đặc biệt với người chăm sóc trẻ

em dưới 5 tuổi [4]

Trang 3

Y học thực hành (866) - số 4/2013 165

KếT LUậN

Nhận thức của người dân về hành vi rửa tay bằng

xà phòng trước khi ăn, khi chế biến thức ăn và sau khi

đại tiện chỉ chiếm từ 31,5% đến 52,5% Trong khi đó

tỷ lệ rửa tay bằng xà phòng sau khi tiểu tiện, sau khi

tiếp xúc với vật nuôi chỉ chiếm 10,0% đến 14,5%

Thực hiện hành vi rửa tay bằng xà phòng sau khi

đại tiện chỉ chiếm 14,5%, trước khi ăn là 11,0%, trước

khi chế biến thức ăn và sau khi tiểu tiện chỉ chiếm tỷ

lệ rất thấp từ 2,0% đến 7,5%

Tỷ lệ người dân rửa tay bằng xà phòng không

đúng quy trình theo 6 bước trước khi chế biến thức ăn,

trước khi ăn, sau khi đi đại tiện là từ 21,4% đến

30,0% Hành vi người dân rửa tay bằng xà phòng

trước khi chế biến thức ăn và sau khi đi tiểu tiện đều

không đúng quy trình

TàI LIệU THAM KHảO

1 Trần Đắc Phu, Nguyễn Huy Nga, Thái Thị Thu

Hà, Lê Thị Tuyết, Hành vi rửa tay bằng xà phòng của

bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi tại một số tỉnh Việt Nam Tạp chí Y học thực hành Số 6(666), tr 78-80

2 Đặng Cẩm Tú, Nguyễn Văn Yên, Khương Văn Duy, 2011 Nghiên cứu về kiến thức rửa tay với xà phòng của những người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi ở xã Gia Sơn, Ninh Bình năm 2010.Tạp chí Y học thực hành

Số 4(759), tr 65-67

3 Đặng Cẩm Tú, Nguyễn Văn Yên, Khương Văn Duy, 2011 Nghiên cứu về hành vi rửa tay với xà phòng khi chăm sóc trẻ nhỏ ở xã Gia Sơn, Ninh Bình năm

2010 Tạp chí Y học thực hành, số 5(765), tr 29.-31

4 Sifat E Rabbi and Nepal C Dey, 2013 Exploring the gap between hand washing knowledge and practices in Bangladesh: a cross-sectional comparative study BMC Public Health 13:89 doi:10.1186/1471-2458-13-89

TáC DụNG CủA cao KHáNG MẫN THÔNG Tỵ LÊN MộT Số TRIệU CHứNG LÂM SàNG

ở BệNH NHÂN VIÊM MũI Dị ứNG

Tạ Văn Bình - Đại học Y Hà Nội

Hà Lê Xuân Lộc - Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Nội tóm tắt

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mở,

có đối chứng trên bệnh nhân từ 18-70 tuổi, chẩn đoán

bị bệnh viêm mũi dị ứng thuộc 2 thể phong hàn và

phong nhiệt nhằm đánh giá tác dụng của cao kháng

mẫn thông ty lên một số triệu chứng lâm sàng cho

thấy: Cao kháng mẫn thông tỵ có tác dụng cải thiện rõ

rệt các triệu chứng lâm sàng: ngứa mũi, chảy nước

mũi, ngạt mũi, thay đổi sắc thái niêm mạc mũi, hắt hơi,

sưng nề, ngứa và chảy nước mắt Sự khác biệt trước

sau điểu trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Từ khóa: cao kháng mẫn thông tỵ, viêm mũi dị

ứng

summary

Randomized Clinical trial, opened, have

placebo-group in patients aged 18 to 70 years, were dianosed

with rhinitis allergic to evaluates the effects of “Cao

kháng mẫn thông tỵ” in some clinical symptoms The

study showed that “Cao kháng mẫn thông tỵ” has

signigicant effect in improving the symptons of itchy

nose, runny nose, stuffy nose, changes the color of

nasal mucosa, sneezing, swelling, itchy and watery

eyes The difference between before and after

treatment was statistically significant with p value is

<0.05

Keywords: “cao khang man thong ty”, rhinitis

allergic

ĐặT VấN Đề

Trong các bệnh dị ứng, viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là

một bệnh thường gặp nhất Tỷ lệ mắc bệnh này ở Việt

Nam khoảng 50-60%, Hồng Kông: 43%, Australia: 15 -

25% dân số Bệnh nhân viêm mũi dị ứng chiếm đến

50% số lượng bệnh nhân đến các phòng khám tai mũi

họng [9]

“Cao kháng mẫn thông tỵ” là bài thuốc điều trị viêm mũi dị ứng được giới thiệu trong sách “Trung - Tây y lâm sàng khoa tai mũi họng” có gia giảm cho phù hợp với đặc điểm bệnh tật và con người Việt Nam

Để đánh giá tác dụng của bài thuốc trên lâm sàng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu đánh giá tác dụng của cao kháng mẫn thông tỵ lên một số triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Ngũ quan - Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Nội, từ 02/2006 - 6/2006

2 Thuốc nghiên cứu

Cao lỏng "Kháng mẫn thông tỵ" do Khoa Dược - Bệnh viên Y học cổ truyền Hà Nội sản xuất

3 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân tuổi từ 18 - 70, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, được chẩn đoán xác định bệnh viêm mũi

dị ứng Thể phong hàn hoặc phong nhiệt theo y học cổ truyền Tự nguyện tham gia nghiên cứu, thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ trong đề cương nghiên cứu

4 Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, nhãn mở, có đối chứng

Nhóm nghiên cứu: 31 bệnh nhân uống cao lỏng

"Kháng mẫn thông tỵ" Ngày uống 50ml chia làm 2 lần, uống sau bữa ăn x 15 ngày

Nhóm đối chứng: uống thuốc Kháng histamin LORATADINE, mỗi viên nén không bao có chứa 10mg

Ngày đăng: 21/08/2015, 10:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Thực hiện hành vi rửa tay bằng xà phòng - NHẬN THỨC và HÀNH VI rửa TAY BẰNG xà PHÒNG của NGƯỜI dân tại 2 xã  PHƯỜNG TỈNH sơn LA năm 2011
Bảng 3 Thực hiện hành vi rửa tay bằng xà phòng (Trang 2)
Bảng  1:  Nhận  thức  của  ng−ời  dân  về  hành  vi  rửa - NHẬN THỨC và HÀNH VI rửa TAY BẰNG xà PHÒNG của NGƯỜI dân tại 2 xã  PHƯỜNG TỈNH sơn LA năm 2011
ng 1: Nhận thức của ng−ời dân về hành vi rửa (Trang 2)
Bảng  2:  Nhận  thức  về  bàn  tay  không  rửa  sạch  và - NHẬN THỨC và HÀNH VI rửa TAY BẰNG xà PHÒNG của NGƯỜI dân tại 2 xã  PHƯỜNG TỈNH sơn LA năm 2011
ng 2: Nhận thức về bàn tay không rửa sạch và (Trang 2)
Bảng  kiểm  quan  sát  và  phiếu  phỏng  vấn  trực  tiếp - NHẬN THỨC và HÀNH VI rửa TAY BẰNG xà PHÒNG của NGƯỜI dân tại 2 xã  PHƯỜNG TỈNH sơn LA năm 2011
ng kiểm quan sát và phiếu phỏng vấn trực tiếp (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w