Y HỌC THỰC HÀNH 914 - SỐ 4/2014 164 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT LẤY THỂ THỦY TINH BẰNG NHŨ TƯƠNG HÓA ĐẶT KÍNH NỘI NHÃN TRONG ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ NẶNG TẠI KHOA MẮT BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NG
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 164
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT LẤY THỂ THỦY TINH BẰNG NHŨ TƯƠNG HÓA ĐẶT KÍNH NỘI NHÃN TRONG ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ NẶNG TẠI KHOA MẮT BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
NGÔ VĂN HỒNG, NGUYỄN HỮU CHỨC
Khoa Mắt - Bệnh viện Chợ Rẫy
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá đặc điểm lâm sàng trên mắt bệnh nhân
cận thị nặng
- Đánh giá hiệu quả về chức năng thị giác, các tai
biến, biến chứng của phẫu thuật
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân
cận thị nặng, đến khám, điều trị và được theo dõi tại
khoa Mắt Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 12/2008 đến
tháng 12/2012
Kết quả:
Với 35 mắt của 18 bệnh nhân đủ điều kiện đưa vào
nhóm nghiên cứu
Tỷ lệ thị lực sau mổ chưa chỉnh kính >5/10 là 32
trường hợp (91%) Thị lực trung bình có chỉnh kính sau
phẫu thuật 24 tháng là 0,71±0,14 Chỉ số hiệu quả =
1,02 Chỉ số an toàn = 1,11 Độ cầu tương đương (SE)
trung bình trước phẫu thuật là -13±4,67D và sau 24
tháng là - 0,52±0,45D
Kết luận:
- Phẫu thuật nhũ tương hóa thể thủy tinh đặt kính
nội nhãn điều trị cận thị nặng đem lại kết quả thị lực
khá tốt cho bệnh nhân, khúc xạ được điều chỉnh một
cách hiệu quả
- Phẫu thuật an toàn, sau phẫu thuật bệnh nhân
không phải mang kính cận, sự hài lòng của bệnh nhân
cao
Từ khoá: Phaco điều trị cận thị nặng
SUMMARY
EFFICACY OF PHACOEMULSIFICATION IN
OPHTHALMOLOGY DEPARTMENT OF CHO RAY
HOSPITAL
Objectives: To discuss the safety and efficacy of
phacoemulsification in the treatment of severe myopia
at the eye department of Cho Ray Hospital
Subjects and methods: This non-randomised
interventional study comprised of 18 patients with a
total of 35 highly myopic eyes They were treated by
phacoemulsification with either phaco Chip & flip or
Chop & Stop technique by one surgeon The IOL that
was inserted was a monofocus lens The visual acuity,
refractive error, and complications were recorded
pre-operatively, during operatively and post-operatively at
1 day, 1 month, 3 months and 6 months, 12 months,
24 months
Results: The mean visual acuity pre-operatively
was 0,02±0.01 The mean visual acuity 1 month
post-operatively was 0.64±0.11, at 6 months was
0.65±0.12, at 12 months 0.65±0.13 and at the last
examination(24 months) was 0.65±0.13 The mean
refractive error pre-operatively was -13±4.67D The
mean refractive error postoperatively at 1 month was
-0.47±0.46, at 6 months was -0.49±0.46D, at 12 month
was -0.54±0.46, and at 24 month was -0.52±0.45 No
complications were recorded during the operation There are 4 complications recored post operatively: rise IOP, uveitis, cataracte posterior capsular, and hemorrhage vitreous, Overall, there was good patient satisfaction with the procedure
Conclusion: Phacoemulsification has been proven
as a safe and effective treatment for severe myopia in clinical results and almost of patients satisfaction No severe complications recorded
Keywords: Phaco for severe myopia
ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, điều trị tật khúc xạ là vấn đề được quan tâm của xã hội và các nhà nhãn khoa, đặc biệt là với những người bị cận thị nặng hay còn gọi là bệnh cận thị, cận thị ác tính[1][2],[4],[5] Những phương pháp điều trị cận thị hiện nay như phẫu thuật bằng laser excimer đặt kính tiếp xúc nội nhãn (Intra Contact Lens ICL, hay Phakic IOL), phẫu thuật lấy thể thủy tinh
đã được nhiều nhà nhãn khoa thực hiện, song mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm[3][4][5],[6,[7]
Với những bệnh nhân có độ cận thị cao, giác mạc quá mỏng, phẳng hoặc quá dốc, sẽ chống chỉ định can thiệp trên bề mặt giác mạc Phương pháp nhũ tương hóa lấy thể thủy tinh (Phaco) và đặt kính nội nhãn với công suất phù hợp đặc biệt được quan tâm và là một lựa chọn có nhiều lợi thế, do không phải can thiệp trên
bề mặt giác mạc, nguy cơ tái phát không cao, giác mạc không bị dãn, đục Mặt khác đục thể thủy tinh là bệnh lý thường rất hay xảy ra ở những bệnh nhân cận thị nặng Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và báo cáo[2],[3],[4][5],[6],[7]
Tại Việt Nam, có một số cơ sở nhãn khoa đã thực hiện, song chưa có nghiên cứu nào có hệ thống để đánh giá hiệu quả của phương pháp này Vì vậy, đề tài: “Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật lấy thể thủy tinh bằng phương pháp nhũ tương hóa đặt kính nội nhãn trong điều trị cận thị nặng tại khoa Mắt Bệnh viện Chợ Rẫy” được thực hiện, với các mục tiêu:
Đánh giá đặc điểm lâm sàng trên mắt bệnh nhân cận thị nặng
Đánh giá hiệu quả về chức năng thị giác, các tai biến, biến chứng của phẫu thuật
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, lấy loạt ca lâm
sàng không có nhóm chứng
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân cận thị nặng, đến khám, điều trị và được theo dõi tại khoa Mắt Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 12/2008 đến tháng 12/2012
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân có độ cận cao tương đương cầu ≤ -8.00D
Trang 2Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 165
- Giác mạc mỏng, độ dốc lớn không cho phép phẫu
thuật bằng phương pháp can thiệp trên bề mặt giác
mạc
- Cận thị nặng có hay không kèm đục thể thủy tinh
- Thị lực chỉnh kính trước phẫu thuật tối thiểu ≥
2/10
- Có nhu cầu và tự nguyện
- Có điều kiện theo dõi hậu phẫu 24 tháng
Tiêu chuẩn loại trừ
- Mắt cận thị nặng có kèm loạn thị >1,0D
- Mắt độc nhất
- Lệch hoặc bán lệch thể thủy tinh
- Bệnh lý về mắt như viêm màng bồ đào, bệnh lý
giác mạc
- Thoái hóa giậu có nguy cơ gây bong võng mạc
trên mắt cận thị nặng
- Bệnh lý thị thần kinh
Phương tiện nghiên cứu
- Hệ thống đo khúc xạ, thử kính, máy siêu âm mắt
- Máy phẫu thuật Phaco
- Bộ dụng cụ phẫu thuật
- Kính nội nhãn mềm
Định nghĩa biến số trong nghiên cứu
- Thị lực nhìn xa: Thị lực nhìn xa là khả năng nhìn
rõ của mắt khi vật ở khoảng cách 5,0 m so với mắt Thị
lực nhìn xa của bệnh nhân đo bằng bảng thị lực
Snellen sau đó đổi ra số thập phân để làm thống kê
- Khúc xạ cầu tương đương (SE): Tổng của khúc
xạ cầu với 1/2 giá trị tuyệt đối của độ loạn[2]
Bảng 1 Bảng quy đổi thị lực ra số thập phân
- Đục nhân thể thủy tinh
+ Đục nhân độ 1: Nhân mềm màu xám nhạt
+ Đục nhân độ 2: Nhân hơi cứng màu vàng nhạt
+ Đục nhân độ 3: Nhân cứng vừa, màu vàng ở
bệnh nhân > 60 tuổi
+ Đục nhân độ 4: Nhân cứng nhiều, màu vàng hổ
phách (hoặc trắng sửa)
+ Đục nhân độ 5: Nhân rất cứng màu nâu và nâu
đen
- Tăng nhãn áp: Đo bằng nhãn áp kế Goldmann
>19mmHg
Phương pháp thống kê và phân tích số liệu
Số liệu được xử lý dựa vào phần mềm spss version16.0 và Microsoft excel 2010
KẾT QUẢ Đặc điểm lâm sàng
Với 35 mắt của 18 bệnh nhân đủ điều kiện đưa vào nhóm nghiên cứu Trong đó có 17 bệnh nhân được phẫu thuật 2 mắt và 1 bệnh nhân được phẫu thuật 1 mắt Có 18 mắt phải, và có 17 mắt trái Do một phẫu thuật viên thực hiện tại khoa Mắt Bệnh viện Chợ Rẫy Tuổi: Tuổi trung bình 45 7,09 (từ 33 đến 56 tuổi) Giới: Nữ: 16 bệnh nhân (88,82%), nam: 2 bệnh nhân (11,18%)
Nghề nghiệp: 06 công nhân viên (35%), 11 nội trợ
và buôn bán (65%)
Tình trạng đáy mắt: 100% đáy mắt có liềm cận thị rộng, thoái hóa hắc võng mạc
Chiều dài trục nhãn cầu trung bình là 28,24 1,33mm (từ 26,5mm đến 33mm)
Tình trạng thể thủy tinh: Trong 35 trường hợp có
21 trường hợp thể thủy tinh còn trong và có 14 trường hợp có đục thể thủy tinh, chủ yếu là đục nhân và nhân mềm độ 1-2
Công suất thể thủy tinh nhân tạo được thay vào có
độ cầu từ -9,00D đến+12,00D
100% mắt có giãn lồi củng mạc và vẩn đục dịch kính nhẹ trên siêu âm Không trường hợp nào phát hiện tổn thương thoái hóa võng mạc chu biên cần điều trị quang đông dự phòng
Kết quả phẫu thuật
Thị lực:
Bảng 2 Kết quả thị lực trung bình không kính trước
và sau phẫu thuật (n=35)
bình
Thấp nhất
Cao nhất
Độ lệch chuẩn
Tỷ lệ thị lực sau phẫu thuật chưa chỉnh kính >5/10
là 32 trường hợp (91,0%)
Thị lực không kính (TLKK) trước phẫu thuật và lần khám cuối cùng sau phẫu thuật 24 tháng
Khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 3 Thị lực trung bình có chỉnh kính trước và sau phẫu thuật (n=35)
bình
Thấp nhất
Cao nhất
Độ lệch chuẩn
Sau phẫu thuật 1
Sau phẫu thuật 6
Sau phẫu thuật 12
Sau phẫu thuật 24
Trang 3Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 166
Chỉ số hiệu quả: Thị lực không kính sau phẫu thuật
24 tháng / Thị lực có chỉnh kính trước phẫu thuật =
1,02
Chỉ số an toàn: Thị lực có chỉnh kính sau phẫu
thuật 24 tháng / Thị lực có chỉnh kính trước phẫu thuật
= 1,11
Tật khúc xạ:
Bảng 4 Kết quả khúc xạ cầu tương đương trung
bình trước và sau phẫu thuật (n=35 mắt)
bình
Thấp nhất
Cao nhất
Độ lêch chuẩn
Khúc xạ trung bình trước và sau phẫu thuật 24
tháng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Biến chứng trong lúc phẫu thuật
Không có trường hợp nào được ghi nhận có biến
chứng trong phẫu thuật
Bảng 5: Biến chứng sau phẫu thuật (n=35)
Có 11 trường hợp (31,4%) xuất hiện đục bao sau
trong khoảng thời gian từ tháng thứ 5 đến tháng thứ
14 sau phẫu thuật, chủ yếu từ độ 2, độ 3, ảnh hưởng
đến thị lực, được mở bao sau bằng laser YAG, thị lực
được phục hồi tốt, không có biến chứng võng mạc
BÀN LUẬN
Về yếu tố dịch tễ: Trong lô nghiên cứu chủ yếu
bệnh nhân ở vào lứa tuổi trung niên Thường với lứa
tuổi này có kèm cận thị nặng sẽ dễ bị đục thể thủy tinh,
chủ yếu là đục nhân Vì vậy, độ cận thị của bệnh nhân
thường hay gia tăng nhanh, thị lực giảm nhiều Đây là
một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến
chất lượng sống và khả năng học tập, lao động, khiến
bệnh nhân khó chịu và có nhu cầu phẫu thuật
Bệnh nhân gặp ở nữ: 16 bệnh nhân (88,8%) Có lẽ
nữ giới là những người có nhu cầu được phẫu thuật
cao hơn vì lý do thẩm mỹ, không muốn mang kính
Thị lực trung bình trước phẫu thuật: Không chỉnh
kính, tính theo thị lực thập phân là 0,02 0,01 có chỉnh
kính: 0,64 0,12 Sau phẫu thuật 24 tháng thị lực
trung bình không chỉnh kính: 0,65 0,13 và thị lực
trung bình có chỉnh kính: 0,71 0,14 Có 3 trường hợp
thị lực sau phẫu thuật đạt 0,40, có lẽ do việc tính toán
công suất kính nội nhãn chưa thật chính xác cùng với
thoái hóa biểu mô sắc tố võng mạc trên bệnh nhân cận
thị nặng làm cho thị lực khó hồi phục một cách hoàn
hảo Trong nhóm nghiên cứu, thị lực trung bình chưa
chỉnh kính sau phẫu thuật > 5/10 chiếm 91,0% Tỷ lệ
này tương đồng với một số nghiên cứu trên thế giới và
trong nước.[1],[2],[4],[5],[7]
Chỉ số hiệu quả bằng 1,02, chứng tỏ đa số bệnh nhân có thị lực không kính sau phẫu thuật tốt hơn thị lực có chỉnh kính trước phẫu thuật Mặt khác, hầu hết bệnh nhân rất hài lòng với kết quả sau phẫu thuật, vì thị lực cải thiện rõ rệt, bệnh nhân không còn lệ thuộc vào cặp kính cận dày nữa
Về khúc xạ và lựa chọn công suất kính nội nhãn: Kính đơn tiêu, có công suất thấp (từ -4,0D đến +12D) được tính theo công thức SRK-T Khi chọn công suất kính cho bệnh nhân, thường lấy công suất thấp hơn công suất thực đo từ -0,5D đến -1,0D, vì sau phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân đều có nhu cầu nhìn ở mức
độ gần và trung gian Khúc xạ trung bình trước phẫu thuật: 13,11 0,47D (từ -25,00D đến -8,00D), sau phẫu thuật, độ khúc xạ được điều chỉnh khá tốt Tính theo khúc xạ cầu tương đương trung bình sau phẫu thuật 24 tháng: -0,52 0,45D (từ -1,00 đến + 0,50) Độ khúc xạ này, qua theo dõi thấy ổn định, không hoặc ít thay đổi từ một tháng sau phẫu thuật trở đi, không có hiện tượng thoái triển như trong phẫu thuật lasik hay lasek, vì vậy thị lực bệnh nhân cũng ổn định hơn sau phẫu thuật Phù hợp với nhận xét của một số tác giả trong nước và thế giới.[1],[2],[4],[5],[7]
Về biến chứng: Bệnh nhân cận thị nặng, có thị lực kém, mặc dù đã được điều chỉnh kính đủ độ, vì hiện tượng quang sai, lệch tâm kính, thoái hóa của lớp thần kinh võng mạc Ngoài ra những bệnh nhân bị cận thị nặng, thường có đục thể thủy tinh sớm Trong phẫu thuật cũng dễ có tai biến và biến chứng sau phẫu thuật.[3],[4],[6]
Trong nhóm nghiên cứu, có 14 trường hợp bị đục nhân thể thủy tinh độ I và II còn lại bệnh nhân có thể thủy tinh còn trong Khi dùng phương pháp nhũ tương hóa, năng lượng phaco không cần cao, từ đó cũng hạn chế tình trạng tổn thương nội mô
Ở mắt cận thị nặng, tiền phòng thường rất sâu, nhãn áp thấp hơn, nhãn cầu mềm, dây Zinn yếu [],[4],[5] Nên, trong quá trình phẫu thuật cần hạn chế thay đổi tiền phòng đột ngột, cũng như sử dụng năng lượng phaco cao không cần thiết Theo y văn trên thế giới, phẫu thuật nhũ tương hóa trên mắt cận thị nặng thường dễ có các tai biến như: xuất huyết tiền phòng, xuất huyết dịch kính Để tránh các biến chứng này, nên thực hiện phẫu thuật với đường mở vào tiền phòng nhỏ, khi thao tác lấy thể thủy tinh, nhãn cầu luôn luôn kín, giữ áp lực và hình dạng ổn định Thực hiện xé bao trước với đường kính khoảng 5,0 mm, tránh xé lớn, nhằm không bị co kéo bao trước đồng thời dễ dàng quan sát vùng chu biên đáy mắt khi bao
bị đục sau phẫu thuật Tại nghiên cứu này, những tai biến trên không xuất hiện Song chưa kết luận được,
vì số mẫu còn khiêm tốn Những khuyến cáo về tai biến và biến chứng khi phẫu thuật thể thủy tinh trên mắt cận thị nặng vẫn rất cần lưu tâm
Về biến chứng sau phẫu thuật, gặp 2 trường hợp (5,7%) tăng nhãn áp sau phẫu thuật ngày đầu tiên, do tác động của chất nhày còn lại trong tiền phòng và hậu phòng Điều trị hạ nhãn áp bằng nội khoa, sau 2 ngày, nhãn áp ổn định, bệnh nhân hết đau nhức và thị lực cải thiện
Trang 4Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 167
Viêm màng bồ đào: có 4 trường hợp có dấu hiệu
phản ứng thể mi mức độ nhẹ, tyndall(+) ở tiền phòng
trong ngày thứ nhất sau phẫu thuật Có thể, trong quá
trình phẫu thuật, tác động trên mống mắt tạo nên Các
triệu chứng này biến mất sau 1 đến 3 ngày được điều
trị với corticoide tại chỗ
Bong võng mạc là một biến chứng đáng sợ và trầm
trọng nhất đối với những trường hợp phẫu thuật can
thiệp nội nhãn nói chung và đặc biệt là đối với những
bệnh nhân cận thị nặng nói riêng Trong nghiên cứu
của chúng tôi không gặp trường hợp nào bị biến
chứng này, có lẽ do số lượng chưa đủ lớn và thời gian
theo dõi chưa dài, mặc dù theo các nghiên cứu của tác
giả khác trên thế giới cho thấy tỉ lệ bong võng mạc dao
động từ 0 - 8,1% và tỉ lệ này thường tăng lên theo thời
gian[2],[4],[5] Do vậy, cần phải theo dõi định kỳ về tình
trạng võng mạc để có thể phát hiện sớm và dùng laser
argon để điều trị dự phòng bong võng mạc
Có 31,4% bệnh nhân bị đục bao sau thể thủy tinh
độ 2 và 3 sau 14 tháng theo dõi Những bệnh nhân
này đều được laser YAG bao sau Cần thận trọng khi
làm laser bao sau, vì năng lượng lớn của laser có thể
làm rung chuyển khối pha lê thể, dễ dẫn đến biến
chứng bong võng mạc sau này Vì vậy, nên quyết định
dùng laser YAG can thiệp vào bao sau bị đục sớm,
năng lượng sử dụng sẽ không cần cao, tránh hậu quả
xấu
KẾT LUẬN
Phẫu thuật nhũ tương hóa thể thủy tinh đặt kính
nội nhãn điều trị cận thị nặng đem lại kết quả thị lực
khá tốt cho bệnh nhân, khúc xạ được điều chỉnh một cách hiệu quả
Phẫu thuật an toàn, sau phẫu thuật bệnh nhân không phải mang kính cận, sự hài lòng của bệnh nhân cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Phương Thu, Phạm Thị Bích Thủy, (2007),
“Hiệu quả và tính an toàn của phẫu thuật phaco điều trị
cận thị nặng”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 11 (Số
4), Trang: 29-35
2 Bruno Z., Mohamamad S.,Stephen T., (2009)
“Phacoemulsification in eyes with extreme axial myopia” Journal of Cataracte and Refractive Surgery., Volume 35 issue 2, pp 335-340
3 Duffey RJ., Leaming D., 2003 “US trends in
refractive sur-gery: 2002 ISRS survey, J Refract Surg.,
19, pp:357–63
4 Devgan U., (2011) “Cataracte surgery in highly
myopic eyes” Premier Surgeon, pp:346-350
5 Kohnen S., Brauweiler P (1996), “First results of cataract surgery and implantation of negative power
intraocular lenses in highly myopic eyes”, J Cataract
Refract Surg 22, pp:416–20
6 Petermeier K., Gekeler F., Messias A., Spitzer MS., Haigis W., Szurman P., (2009), “Intraocular lens power calculation and optimized constants for highly myopic
eyes”, J Cataract Refract Surg., 35, pp:1575–81
7 Terzi E., Wang L., Kohnen T.,(2009), “Accuracy of modern intraocular lens power calculation formulas in refractive lens exchange for high myopia and high
hyperopia”, J Cataract Refract Surg, 35(7), pp: 1181-9