Tuy nhiên vẫn 7,5% bà mẹ không đưa con đi tiêm chủng vì các lý do: 2,5% bà mẹ không nhớ đưa con đi tiêm, 1.7% bà mẹ thấy con còn quá nhỏ; một tỷ lệ thấp 0,8% không đưa con đi tiêm do bận
Trang 1Y học thực hành (866) - số 4/2013 11
KHảO SáT KếT QUả TIÊM CHủNG Mở RộNG Và CáC YếU Tố LIÊN QUAN
TạI Xã DIễN NGọC, HUYệN DIễN CHÂU, TỉNH NGHệ AN NĂM 2011
Nguyễn Cảnh Phú - Đại học Y khoa Vinh Phạm Văn Hán - Đại học Y Hải Phòng TóM TắT
Mục tiêu: (1) Khảo sát kết quả tiêm chủng mở rộng
tại trạm Y tế xã Diễn Ngọc- Diễn Châu- Nghệ An năm
2011 và (2) Khảo sát một số yếu tố liên quan đến thực
trạng tiêm chủng mở rộng tại Diễn Ngọc- Diễn Châu-
Nghệ An
Phương pháp: Mô tả cắt ngang
Kết quả: Tỷ lệ người bà mẹ có con < 12 tháng tuổi
biết về chương trình TCMR là 98,3% Trong đó 89,2%
biết lịch tiêm chủng có 96,7% trẻ kiểm tra có sẹo BCG
(trong số 110 trẻ được TCĐĐ); Có tới 91,7% trẻ được
TCĐĐ theo hướng dẫn của cán bộ y tế; có 85% trẻ
được tiêm chủng theo đúng lịch của chương trình
TCMR Quốc gia; Trong 120 đối tượng được phỏng vấn
có 9 bà mẹ không đưa trẻ đi tiêm chủng chiếm 7,5% Lí
do không nhớ có tỷ lệ cao nhất 2,5%, tiếp đến con còn
nhỏ 1,7%, do bận việc 0,8%, lo sợ tai biến sau tiêm
0,8%, lý do khác 1,7%; Nguồn cung cấp thông tin
chính về chương trình TCMR cho các bà mẹ và người
chăm sóc trẻ tại xã Diễn Ngọc chiếm lần lượt là: Cán
bộ y tế 93,3%, tivi: 84,2%, hệ thống truyền thanh thôn-
xóm 89,1%, các buổi truyền thông: 71,7%
Từ khóa: tiêm chủng mở rộng
SUMMARY
Objectives: (1) To survey results of EPI in Dien
Ngoc ward – Dien chau district - Nghe An province in
2011 and (2) Surveying related factors of the EPI
situation in Dien Ngoc - Dien Chau-Nghe An
Method: Cross-sectional descriptive study
Results: Percentage of mothers with children <12
months of age to know about the EPI program is
98.3% Of which 89.2% knew immunization schedule
96.7% of 110 children with BCG vaccination had scar;
91.7% of children were fully immunized under the
guidance of medical staff; 85% of children were
immunized according to the schedule of the National
EPI program; 9 of 120 (7.5%) mothers interviewed did
not take the child vaccinated The reason; forget
immunization schedule that was the highest rate was
2.5%, too young was 1.7%, 0.8% due to busy work,
fear of complications after injection was 0.8%, other
reasons was 1.7%; The main sources giving
information about the EPI program for mothers and
carers of children in Dien Ngoc were: 93.3% from
medical staffs, 84.2% from television, 89.1% from rural
radio system, 71.7% from communications sessions
Keywords: EPI, children
ĐặT VấN Đề
Tiêm chủng là biện pháp hiệu quả để phòng bệnh
Tổ chức Y tế Thế giới đã phát động việc tiêm chủng
phòng một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho trẻ
em Trước khi chương trình Tiêm chủng mở rộng được
triển khai, hằng năm các bệnh truyền nhiễm như Sởi, Bạch hầu, Uốn ván sơ sinh, Bại liệt đã cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu trẻ em trên thế giới [1] Tại Việt Nam đến năm 1985 Chương trình TCMR
đã được nâng lên là một trong những chương trình Y tế Quốc gia Tỉ lệ tiêm chủng tăng dần trong các năm, năm 1989 đạt 80%, năm 1995 đạt 82%, năm 1998 đạt gần 86% Song song với tăng tỷ lệ tiêm chủng thì tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm trong chương trình tiêm chủng mở rộng đã giảm rõ rệt [2]
Tuy nhiên, chất lượng và tỷ lệ tiêm chủng mở rộng tại Nghệ An là một vấn đề còn gặp rất nhiều khó khăn
do địa bàn rộng, đi lại khó khăn nhất là các huyện miền núi, sự hiểu biết về chăm sóc sức khỏe của người dân còn kém, cán bộ làm công tác tiêm chủng chưa
đáp ứng được nhu cầu thực tế Đứng trước thực trạng trên việc tiến hành đánh giá tỷ lệ TCMR đạt được và các yếu tố ảnh hưởng là rất cần thiết Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với hai mục tiêu:
1 Khảo sát các kết quả tiêm chủng mở rộng tại trạm Y tế xã Diễn Ngọc- Diễn Châu- Nghệ An năm
2011
2 Khảo sát một số yếu tố liên quan đến thực trạng tiêm chủng mở rộng tại Diễn Ngọc- Diễn Châu- Nghệ
An
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP
1 Địa điểm nghiên cứu Tại trạm Y tế xã Diễn Ngọc - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An
2 Thời gian nghiên cứu Từ tháng 06 đến tháng
12 năm 2011
3 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em < 12 tháng tuổi
Bà mẹ có con trong độ tuổi (người chăm sóc trẻ)
4 Phương pháp nghiên cứu 4.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: 120 trẻ < 12 tháng tuổi
và 120 bà mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ 4.3 Cách tiến hành nghiên cứu: Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi nhằm đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về TCMR của bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ
4.4 Xử lý số liệu: Số liệu được làm sạch và phân tích bằng mềm Epi- Info
KếT QUả
1 Kết quả nghiên cứu thông tin về TCMR của các bà mẹ có con < 12 tháng tuổi
1.1 Hiểu biết về tiêm chủng mở rộng Bảng 1 Hiểu biết về tiêm chủng mở rộng của các
bà mẹ có con < 12 tháng tuổi (n= 120)
Trang 2Y học thực hành (866) - số 4/2013 12
Nội dung khảo sát Thực trạng SL(n) Tỉ lệ (%)
Biết về chương trình
TCMR
Biết 118 98,3 Không biết 2 1,7 Biết về lịch TCMR Không biết Biết 107 13 89,2 10,8
Biết về phản ứng phụ
của tiêm chủng
Biết 99 82,5 Không biết 21 17,5
Đưa trẻ đi tiêm chủng
đúng lịch
Đúng 102 85,0 Không đúng 18 15,0
Số có phiếu tiêm
chủng
Có 84 70,0 Không có 36 30,0
1.2 Khi nào đưa trẻ đi tiêm chủng
Biểu đồ 1: Thông tin để bà mẹ biết đưa con đi tiêm chủng
1.3 Hiểu biết của các bà mẹ có con <12 tháng
tuổi về các biểu hiện của phản ứng phụ khi tiêm
chủng
Biểu đồ 2: Tỷ lệ bà mẹ biết các biểu hiện của phản ứng phụ
2 Các lý do không đưa trẻ đi TCMR
Biểu đồ 3: Tỷ lệ các lý do không đưa trẻ đi tiêm chủng
3 Tình trạng tiêm chủng của trẻ
3.1 Về tình trạng tiêm chủng
Bảng 2: Về tình trạng tiêm chủng của trẻ < 12
tháng tuổi (n=120)
Nội dung khảo sát Thực trạng Tỉ lệ %
Tiêm chủng đầy đủ Đầy đủ 92,0
Không đầy đủ 1,0
Không tiêm chủng 8,0 Tiêm đúng lịch Không đúng lịch Đúng lịch 85,0 15,0
3.2 Về tình trạng tiêm BCG cho trẻ
Biểu đồ 4: Kết quả tiêm vắc xin phòng lao BCG
4 Về nguồn cung cấp thông tin TCMR cho các
bà mẹ Bảng 3: Khảo sát về nguồn cung cấp thông tin TCMR cho các bà mẹ(n=120)
Nội dung khảo sát SL (n) Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ nhận được thông tin về chương trình TCMR
Nguồn cung cấp thông tin về TCMR
Đài, loa truyền thanh 107 89,2 Báo, tạp chí 26 21,7 Cán bộ y tế 112 93,3 Sinh hoạt các đoàn thể 48 40,0 Các buổi truyền thông 86 71,7
Tỷ lệ các nguồn thông tin mà các bà mẹ mong muốn nhận
Đài, loa truyền thanh 104 86,7 Báo, tạp chí 17 14,2 Cán bộ y tế 115 95,8 Sinh hoạt các đoàn thể 45 37,5 Các buổi truyền thông 92 76,7
Tại sao lại mong muốn nhận nguồn thông tin đó Thuận tiện 115 95,8 Phù hợp thời gian 108 90,0
Dễ hiểu/ dễ nhớ 93 77,5
BàN LUậN
1 Hiểu biết của các bà mẹ về tiêm chủng và các vấn đề trở ngại
Chương trình TCMR triển khai trong nhiều năm đã làm giảm tỷ lệ mắc và chết một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em Điều này đã được toàn thể cộng
đồng nhìn nhận và ủng hộ và khẳng định qua kết quả
điều tra, các bà mẹ đều nhận thấy tầm quan trọng của việc tiêm chủng và tác dụng phòng bệnh Kết quả điều
Trang 3Y học thực hành (866) - số 4/2013 13
tra cũng khẳng định điều đó: 98,3% bà mẹ hiểu biết về
công tác tiêm chủng, 89,2% biết lịch tiêm chủng,
82,5% biết những phản ứng phụ có thể xảy ra…
Thái độ của bà mẹ về TCMR tốt cũng là kết quả
của công tác xã hội hóa cao trong TCMR trong nhiều
năm qua Các bà mẹ có nhận thức tốt tỷ lệ thuận với
việc 92,5% bà mẹ đưa con đi tiêm, (trong tổng số 120
trẻ điều tra) Tuy nhiên vẫn 7,5% bà mẹ không đưa con
đi tiêm chủng vì các lý do: 2,5% bà mẹ không nhớ đưa
con đi tiêm, 1.7% bà mẹ thấy con còn quá nhỏ; một tỷ
lệ thấp 0,8% không đưa con đi tiêm do bận việc hoặc
lo sợ tai biến, điều đó nói lên rằng ý thức và mặt trái
của các tác động như kinh tế, truyền thông… vẫn còn
có những ảnh hưởng nhất định
2 Kết quả tiêm chủng đạt được
Kết quả điều tra cho thấy 100% trẻ được tiếp xúc
với dịch vụ tiêm chủng, thì có 91,7% trẻ được tiêm
chủng đầy đủ Kết quả này cho thấy chương trình
TCMR đã được xã hội hóa cao, người dân hiểu biết về
lợi ích của TCMR, sự hưởng ứng của các bà mẹ đưa
con đi tiêm chủng đầy đủ Kết quả điều tra về tỷ lệ tiêm
chủng đầy đủ tại tỉnh Nghệ An là 93,1% đây là một tỷ
lệ cao, đạt và vượt yêu cầu so với chương trình TCMR
Quốc gia đề ra
Tỷ lệ trẻ được tiêm vắc xin BCG có sẹo là 96,7%
song số trẻ được tiêm nhưng không có sẹo vẫn còn
3,3%, một trong những lí do có thể liên quan đó là trình
độ chuyên môn của cán bộ y tế vì đây là một kỹ thuật
tiêm khó (tiêm trong da) đòi hỏi cán bộ y tế phải có
trình độ và được thực hành tiêm chủng nhiều lần
Về các phản ứng phụ như: sốt, quấy khóc,… sau
tiêm và cách chăm sóc trẻ tại nhà sau khi tiêm chủng
đã được cán bô Y tế tư vấn tốt cho các bà mẹ Vì vậy,
mặc dù sau khi tiêm chủng trẻ có sốt, quấy khóc, bà
mẹ thậm chí phải nghỉ việc nhưng các bà mẹ vẫn tiếp
tục đưa trẻ đến tiêm liều tiếp theo, có thể đây là một lý
do giúp cho tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cao
Số trẻ được tiêm BCG qua điều tra (có sẹo) đạt tỷ
lệ cao, chứng tỏ rằng các bà mẹ đến sinh con tại các
cơ sở y tế và công tác TCMR đã được quan tâm và đầu
tư đúng mức
3 Các nguồn thông tin
Nguồn tiếp cận các thông tin về chương trình
TCMR chính của người dân là qua cán bộ y tế 93,3%,
qua tivi: 84,2%, qua loa đài truyền thanh: 89,1%, qua
các buổi truyền thông: 71,7% Thực tế người dân
không có điều kiện để mua- đọc sách báo, cho nên tỷ
lệ người dân tiếp cận thông tin qua sách, báo rất thấp chỉ chiếm 21,7% Còn có 1,7% bà mẹ chưa biết về chương trình TCMR, 17,5% bà mẹ không biết về những phản ứng phụ có thể xảy ra, do vậy cần tăng cường tiếp cận thông tin người dân và kênh hiệu quả nhất là qua hệ thống truyền thanh, truyền hình và tư vấn của CBYT
KếT LUậN Sau khi khảo sát thực trạng tiêm chủng mở rộng tại xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An năm
2011 Chúng tôi có một số kết luận sau:
1 Tỷ lệ bà mẹ có con < 12 tháng tuổi biết về chương trình TCMR là 98,3% Trong đó 89,2% biết lịch tiêm chủng Có 96,7% trẻ kiểm tra có sẹo BCG (trong
số 110 trẻ được tiêm chủng đầy đủ)
2 Có tới 91,7% trẻ được tiêm chủng đầy đủ theo hướng dẫn của cán bộ y tế; có 85% trẻ được tiêm chủng theo đúng lịch của chương trình TCMR Quốc gia
3 Trong 120 đối tượng được phỏng vấn có 9 bà mẹ không đưa trẻ đi tiêm chủng chiếm 7,5% Lí do không nhớ có tỷ lệ cao nhất 2,5%, tiếp đến con còn nhỏ 1,7%, do bận việc 0,8%, lo sợ tai biến sau tiêm 0,8%,
lý do khác 1,7%
4 Nguồn cung cấp thông tin chính về chương trình TCMR cho các bà mẹ và người chăm sóc trẻ tại xã Diễn Ngọc chiếm lần lượt là: Cán bộ y tế 93,3%, tivi: 84,2%, hệ thống truyền thanh thôn- xóm 89,1%, các buổi truyền thông: 71,7%
TàI LIệU THAM KHảO
1 Chương trình Tiêm chủng mở rộng - Tổ chức Y tế Thế giới (5/1987), "Tiêm chủng cho trẻ em trên thế giới", Báo cáo về dân số - Các vấn đề sức khoẻ toàn cầu (5),
Hà Nội
2 Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia (2005),
"Chương trình Tiêm chủng mở rộng thành quả 20 năm của Việt Nam", Quĩ Nhi đồng Liên hợp quốc, Hà Nội
3 Dự án Tiêm chủng mở rộng Quốc gia (2005), Tổng kết 20 năm tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam 1985 - 2005, giấy phép xuất bản số 387/GF-CXB
4 Dự án Tiêm chủng mở rộng Quốc gia (2006), Hướng dẫn loại trừ bệnh Sởi, Tài liệu hướng dẫn cán bộ y
tế (dựa theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới)
5 Dự án Tiêm chủng mở rộng Quốc gia (2008), Báo cáo tổng kết Tiên chủng mở rộng năm 2007, đánh giá công tác tiêm chủng mở rộng taik Thành phố Hồ Chí Minh
BƯớC ĐầU XáC ĐịNH Tỷ Lệ ĐáI THáO ĐƯờNG THAI Kỳ TạI BệNH VIệN HữU NGHị ĐA KHOA NGHệ AN
Nguyễn Đình Hợi, Ngô Đức Kỷ Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An
Đặt vấn đề
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một thể đặc biệt
của đái tháo đường ĐTĐTK nếu không được chẩn
đoán và điều trị sẽ gây nhiều tai biến cho cả mẹ và thai
nhi Về lâu dài, nhiều nghiên cứu về tỷ lệ mắc đái tháo
đường type 2 nhận thấy rằng những phụ nữ có tiền sử
ĐTĐTK dễ mắc đái tháo đường type 2