HIệU LựC Dị NGUYÊN DERMATOPHAGOIDES PTERONYSSINUS QUA TEST CHẩN ĐOáN VIÊM MũI Dị ứNG Nguyễn Trọng Tài - Đại học Y khoa Vinh Tóm tắt Số bệnh nhân đến khám và điều trị về dị ứng đường hô
Trang 1HIệU LựC Dị NGUYÊN DERMATOPHAGOIDES PTERONYSSINUS
QUA TEST CHẩN ĐOáN VIÊM MũI Dị ứNG
Nguyễn Trọng Tài - Đại học Y khoa Vinh Tóm tắt
Số bệnh nhân đến khám và điều trị về dị ứng
đường hô hấp ngày một tăng nên việc nuôi cấy, tách
chiết và nghiên cứu các đặc tính hóa sinh, miễn dịch
của dị nguyên Dermatophagoides pteronyssinus (D.pt)
là cần thiết để tiến tới sản xuất thuốc dùng, nâng cao
hiệu quả chẩn đoán và điều trị các bệnh dị ứng, góp
phần tiết kiệm ngoại tệ nhập thuốc của nước ngoài Đối
tượng và phương pháp: Dị nguyên D.pt do khoa Dị
nguyên, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương sản xuất
Dị nguyên D.pt của Stallergen (Pháp), Challergen
(Trung Quốc); Người tình nguyện: bệnh nhân được xác
định viêm mũi dị ứng và người khỏe mạnh Kết quả: dị
nguyên D.pt điều chế an toàn, có hoạt tính sinh học
tương đương với dị nguyên của Stallergen (Pháp) và
Challergen (Trung Quốc)
Summary
Number of patients to examination and treatment of
respiratory allergies are increasing so cultured,
extracted and studied the biochemical characteristics,
immunity to allergens Dermatophagoides
pteronyssinus (D.pt) is needed to produce drugs,
improve diagnosis and treatment of allergic diseases,
saving foreign exchange imported drugs Subjects and
methods: Irritating raw D.pt by science allergens,
Central Hospital ENT production Allergens D.pt of
Stallergen (France), Challergen (China); Volunteers:
patients identified with allergic rhinitis and healthy
Result: modulation allergens D.pt safety, biological
activity equivalent to allergens of Stallergen (France)
and Challergen (China)
ĐặT VấN Đề
Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là một trong những bệnh
dị ứng đường hô hấp, hay gặp trong chuyên khoa tai
mũi họng (TMH) và chuyên khoa dị ứng Trên thế giới
cũng như ở nước ta, bệnh có chiều hướng ngày càng
gia tăng, điều này được coi là có liên quan tới tình trạng
ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn Để
chẩn đoán một bệnh dị ứng, trước hết cần phải xác
định nguyên nhân gây dị ứng Vì vậy tiến hành test
mẫn cảm với các dị nguyên điều chế được vẫn là
phương pháp chủ yếu để tìm nguyên nhân của bệnh
Mặt khác, phương pháp điều trị bằng DN còn gọi là
phương pháp “giảm mẫn cảm đặc hiệu” hoặc “liệu pháp
miễn dịch” là phương pháp điều trị hiệu quả, nhất là khi
người bệnh phải thường xuyên tiếp xúc với DN
Hiện nay, việc điều chế cũng như ứng dụng DN nói
chung và DN D.pteronyssinus nói riêng đã được tiến
hành ở nhiều trung tâm dị ứng của nhiều nước trên thế
giới với nhiều loại DN sản xuất ra mỗi năm, cung cấp
cho nhiều nước như allergam, allergen, allerglobulin
ở Việt Nam, trong nhiều năm gần đây các tác giả
Nguyễn Năng An, Nguyễn Văn Hướng, Nguyễn Văn
Sửu, Vũ Minh Thục, Phan Quang Đoàn, v.v… đã đi
sâu nghiên cứu các đặc tính sinh học, hóa sinh, miễn dịch của các dị nguyên nói trên, sử dụng các dị nguyên này trong chẩn đoán và điều trị các bệnh dị ứng đã mang lại hiệu quả tích cực
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
• Dị nguyên D.pteronyssinus do khoa Dị nguyên, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương sản xuất
Dị nguyên D.pteronyssinus của Stallergen (Pháp), Challergen (Trung Quốc)
• Người:
+ Nhóm người tình nguyện:
Những người khỏe mạnh, lứa tuổi từ 18–55, không
có tiền sử dị ứng (sinh viên, cán bộ công chức) + Nhóm bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định VMDƯ
2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp xác định hoạt lực dị nguyên D.pteronyssinus
2.1 Phản ứng phân hủy tế bào mast
* Nguyên lý: Dựa vào sự biến đổi hình thái của tế bào mast dưới tác dụng của DN và KT IgE trong huyết thanh bệnh nhân Sau khi đã mẫn cảm, nếu DN lại xâm nhập vào cơ thể thì sẽ có sự kết hợp DN với KT
đặc hiệu gắn trên màng tế bào mast Phức hợp này làm tế bào mast bị phân hủy
Đọc kết quả phản ứng phân hủy tế bào mast theo các mức độ sau:
Mức độ Ký hiệu Biểu hiện
Âm tính - Tỉ lệ tế bào vỡ ≤ 10% Dương tính nhẹ + Tỉ lệ tế bào vỡ 11-20% Dương tính vừa ++ Tỉ lệ tế bào vỡ 21-30% Dương tính mạnh +++ Tỉ lệ tế bào vỡ 31-40% Dương tính rất mạnh ++++ Tỉ lệ tế bào vỡ > 40% 2.2 Phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu
* Nguyên lý:
Phức hợp DN - kháng thể gắn ở màng tế bào bạch cầu hạt khi có tác động của bổ thể sẽ làm phân huỷ bạch cầu hạt
Tính chỉ số bạch cầu (CSBC) đặc hiệu theo công thức: CSBC = Bk - B0
Bk x 100%
BK: Số bạch cầu đếm được ở ống chứng
B0: Số bạch cầu đếm được ở ống thí nghiệm Phản ứng được coi là dương tính khi chỉ số tiêu bạch cầu đặc hiệu từ 10% trở lên Có thể chia thành từng mức độ phản ứng như sau:
Dương tính 1 (+) nếu chỉ số tiêu bạch cầu từ 10%-20%
Dương tính 2 (+) nếu chỉ số tiêu bạch cầu từ 21%-300%
Dương tính 3 (+) nếu chỉ số tiêu bạch cầu từ 31%-40%
Trang 2Dương tính 4 (+) nếu chỉ số tiêu bạch cầu trên 40%
2.3 Test Lẩy Da (Prick-Test)
Nguyên lý (Theo phương pháp Dreborg)
Khi đưa dị nguyên đặc hiệu qua da, dị nguyên sẽ
kết hợp với kháng thể IgE đang bám trên bề mặt các tế
bào mastocyte ở tổ chức dưới da Phức hợp dị nguyên -
kháng thể này tác động trực tiếp làm phân huỷ tế bào
mastocyte, giải phóng ra các chất trung gian hoá học
mà chủ yếu là histamin, serotonin v.v… gây phù nề,
xung huyết, ngứa nơi thử test Dựa vào đường kính của
sẩn nổi và mức độ xung huyết để đánh giá kết quả
Đánh giá kết quả sau 15 - 20 phút
Bảng 3 Đánh giá mức độ phản ứng của test lẩy da
Mức độ hiệu Ký kính sẩn Đường Biểu hiện khác
Âm tính (-) 1mm Giống chứng âm
Nghi ngờ ± <3mm Ngứa nhẹ chỗ tiêm
Dương tính nhẹ (+) 3-5mm Ngứa, có ban đỏ
Dương tính vừa (++) 6-8mm xung huyết rộng Ngứa, ban đỏ,
Dương tính mạnh (+++) 9-12mm Giống (++),có thêm chân giả
Dương tính
rất mạnh (+++) >12mm Ngứa, ban đỏ, xung huyết rộng, nhiều chân giả
2.4 Test kích thích mũi (Nasal provocation test)
Nguyên lý: (Theo phương pháp Ad Ado)
Người ta đưa một lượng nhỏ dị nguyên nghiên cứu
vào niêm mạc mũi để tỏi tạo lại bệnh cảnh lõm sàng và
theo dõi nếu thấy ở bệnh nhân có xuất hiện các phản
ứng như hắt hơi, chảy nước mũi trong, ngạt mũi… thì
test được coi là dương tính Hiện nay có nhiều tác giả
áp dụng các biện pháp khác nhau để đưa dị nguyên vào hốc mũi
3 Xử lý số liệu
Xử lý thống kê tiến hành theo chương trình STA-WIN
KếT QUả NGHIÊN CứU
1 Test lẩy da (Prick test)
Test lẩy da được tiến hành cho 2 nhóm: nhóm bệnh nhân VMDƯ gồm 400 người và nhóm chứng 80 người khỏe mạnh, kết quả thu được ở bảng 9
Bảng 1 Kết quả test lẩy da với các dị nguyên
Dị nguyên Kết quả
Bụi nhà toàn phần4
D.pt tách chiết1
D.pt (Pháp)2
D.pt (Trung quốc)3 p Nhóm
chứng (n=80)
Âm tính (n, %)
80 0%
77 96,25%
78 97,5%
77 96,25%
P1-2>0,05
P1-3>0,05
P1-4>0,05
Dương tính (n, %)
0 0% 3,75% 3 2,5% 2 3,75% 3 Nhóm
bệnh nhân (n=400)
Âm tính (n, %)
139 34,8%
111 27,8%
122 30,5%
102 25,5%
Dương tính (n, %)
261 65,2% 72,2% 289 69,5% 278 74,5% 298
pchứng-bệnh < 0,01 Kết quả cho thấy mức độ mẫn cảm với cả 4 loại dị nguyên ở nhóm chứng và nhóm bệnh nhân khác nhau
rõ rệt cả về tỉ lệ test dương tính mức độ dương tính
Sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm bệnh nhân
có ý nghĩa thống kê (p<0,01)
Kết quả mức độ phản ứng dương tính của test lẩy da ở bệnh nhân được trình bày ở biểu đồ sau
18%
41.40%
28.40%
12.20%
17.30%
42.10%
27.00%
13.70%
15.80%
42%
27.20%
15.00%
17.30%
41.50%
27.30%
13.90%
1 (+)
2 (+)
3 (+)
4 (+)
Bụi nhà D.pte (Phỏp) D.pte (Trung quốc) D.pte tỏch chiết
Hình 1 Mức độ dương tính của test lảy da trên nhóm viêm mũi dị ứng với các dị nguyên Hầu hết các trường hợp có mức độ dương tính 2(+) và 3(+) Sự khác biệt giữa dị nguyên D.pt của Pháp; dị nguyên D.pte của Trung quốc và dị nguyên D.pt của chúng tôi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
2 Test kích thích mũi
Kết quả đáp ứng của test kích thích mũi được trình
bày ở bảng sau:
Bảng 2 Kết quả đáp ứng của test kích thích mũi
Dị nguyên Nhóm chứng (n=30) Nhóm thử (n= 45)
Dị nguyên 0 30 0 45 0 0
D.pt (0%) (100%) (0%) (100%) (0%) (0%) Điều đó cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa Prick-test và test kích thích mũi
Trang 320
40
60
Hình 2 Kết quả mức độ test kích thích mũi của dị nguyên D.pt
Phương pháp sử dụng test kích thích được coi là tin
cậy trong chẩn đoán nguyên nhân VMDƯ và việc xác
định tác dụng sinh học của dị nguyên nghiên cứu
3 Phản ứng phân hủy tế bào mast
Bảng 3 Kết quả phản ứng phân hủy tế bào mast
với chế phẩm dị nguyên D.pt
Dị
nguyên Đối tượng
Dương tính (n, %)
Âm tính (n, %)
Tỉ lệ tế bào bị phân hủy (%) Nhỏ
nhất nhất Lớn Χ± SD
D pte
điều
chế
Nhóm
chứng
(n = 80)
3 (3,75)
77 (96,2) 3 19 6,5 ± 2,98 Nhóm
bệnh
nhân (n=
400)
288 (72) 112 (28) 3 71 22,85 ±
15,23
Tỉ lệ tế bào mast bị phân hủy ở nhóm bệnh nhân
cao hơn so với nhóm chứng, Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p<0,01)
Về mức độ dương tính của phản ứng phân hủy tế
bào mast với các chế phẩm dị nguyên được trình bày ở
hình 2
18.75%
42.71%
24.65%
13.89%
0.00%
5.00%
10.00%
15.00%
20.00%
25.00%
30.00%
35.00%
40.00%
45.00%
1 (+) 2 (+) 3 (+) 4 (+)
Hình 3 Mức độ dương tính của phản ứng phân hủy tế bào mast ở
nhóm viêm mũi dị ứng Kết quả cho thấy trong nhóm bệnh nhân, mức độ
phản ứng dương tính tập trung chủ yếu ở mức 2(+) và
4(+)
3.4 Kết quả xét nghiệm tiêu bạch cầu đặc hiệu
Bảng 4 Kết quả xét nghiệm tiêu bạch cầu đặc hiệu
Ph.ứng
Nhóm n/c Dương tính Âm tính
Tỷ lệ tiêu bạch cầu % Nhỏ nhất Lớn nhất Χ± SD Nhúm
chứng
(n = 80)
3/80
(3,7%) (96,3%) 77/80 3% 21% 5,6 ± 3,14%
Nhóm
VMDƯ
(n= 400)
288/400
(72%) 112/400 (28%) 3% 64% 21,5 ±
14,2%
Tỷ lệ tiêu huỷ bạch cầu ở 2 nhóm VMDƯ và nhóm chứng khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)
21.88%
39.93%
24.31%
13.89%
0.00%
5.00%
10.00%
15.00%
20.00%
25.00%
30.00%
35.00%
40.00%
45.00%
Tỷ lệ %
Hình 4 Mức độ dương tính của phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng do dị nguyên D.pte tách chiết Mức độ dương tính 2 (+) chiếm tỷ lệ cao nhất 39,93%; 4(+) chiếm tỷ lệ thấp 13,89%
BàN LUậN
1 Test lẩy da (Prick test) Test lẩy da là phương pháp đơn giản nhất, được sử dụng rộng rãi nhất, là phương pháp in vivo chính để
đánh giá hiệu năng chiết xuất dị nguyên Để nghiên cứu hiệu lực của chế phẩm dị nguyên D.pte tách chiết bằng các test dị ứng in vivo, sau khi xác định các tính chất trong đó có độ vô trùng, độ an toàn và tính chất miễn dịch chúng tôi dùng chế phẩm này để tiến hành test lẩy da cho các bệnh nhân VMDƯ tình nguyện Có
sự so sánh với dị nguyên bụi nhà và dị nguyên D.pte cùng nồng độ 1000 PNU/ml của Stallergenes (Pháp)
và Challergen (Trung quốc)
Anthony PW Yuen và cộng sự nghiên cứu trên 651 bệnh nhân có test da dương tính (với ít nhất một trong
6 nhóm dị nguyên: bụi, gián, lông mèo, lông chó, nấm mốc, phấn hoa) cho thấy có 99% cho test lẩy da dương tính với hỗn hợp 2 dị nguyên D.pte và D.farine Nghiên cứu của Petrova (1987) cho thấy trong số 81 bệnh nhân HPQ và VMDƯ 88,9% có phản ứng dương tính với dị nguyên D.pte Kết quả test lẩy da với dị nguyên D.pte của Vũ Thị Minh Thục là 71,4% cho phản ứng dương tính, trong số đó mức độ 1(+) 35,0%; 2(+) 42,5%; 3(+) 22,5% Kết quả của Trịnh Mạnh Hùng (2002) là 71,9% dương tính với dị nguyên D.pte trong
số 171 bệnh nhân dị ứng, 47% có mức độ dương tính 1(+)
Tiến hành test lẩy da cho 400 bệnh nhân viêm mũi
dị ứng và 80 người khỏe chúng tôi nhận thấy mức độ mẫn cảm với cả 4 loại dị nguyên ở nhóm chứng và nhóm bệnh nhân khác nhau rõ rệt cả về tỉ lệ test dương tính
Tỉ lệ test lẩy da dương tính với dị nguyên D.pte của Pháp: 69,5% và 2,5 %; với dị nguyên D.pte của Challergen (Trung quốc): 74,5% và 3,75 %; với dị nguyên D.pte do chúng tôi tách chiết: 72,2% và 3,75
% Kết quả này của chúng tôi phù hợp với tỉ lệ test lẩy
da dương tính của Vũ Thị Minh Thục và Trịnh Mạnh Hùng
Tỉ lệ phản ứng da dương tính với dị nguyên D.pte do chúng tôi tách chiết (72,2%) cao hơn dị nguyên bụi nhà (65,2%) và dị nguyên D.pte của Pháp (69,5%), thấp
Trang 4hơn so với dị nguyên D.pte của Trung quốc (74,5%)
song sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p >
0,05)
Trong nhóm chứng gồm những người khỏe mạnh
thấy có 3 người cho kết quả dương tính với chế phẩm
dị nguyên D.pte, điều đó chứng tỏ một số người khỏe
vẫn có khả năng mẫn cảm tiềm ẩn với dị nguyên mạt
Kết quả mức độ phản ứng dương tính của test lẩy
da trình bày ở hình 3.1 cho thấy hầu hết các trường
hợp có mức độ dương tính 2(+) và 3(+)
Đối với cả 4 dị nguyên có sự tương xứng về tỉ lệ
phản ứng dương tính giữa các mức độ Mức độ 2(+)
chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả 4 dị nguyên: bụi nhà 41,4%,
D.pte của Pháp 41,4%, D.pte của Trung quốc 42,0%;
D.pte do chúng tôi tách chiết 41,5%
Sự khác biệt giữa dị nguyên D.pte của Pháp; dị
nguyên D.pte của Trung quốc và dị nguyên D.pte của
chúng tôi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Xét về mức độ phản ứng dương tính của test lẩy da
với chế phẩm dị nguyên D.pte do chúng tôi tách chiết
thì kết quả tập trung chủ yếu ở các mức độ 2(+) và
3(+) Kết quả tương tự cũng thu được đối với dị nguyên
bụi nhà, dị nguyên D.pte của Pháp và dị nguyên D.pte
của Trung quốc Mức độ 2(+) và 3(+) của các dị
nguyên như sau: D.pte do chúng tôi tách chiết 41,5%
và 27,3%; dị nguyên D.pte của Pháp 41,4% và 27,0%;
dị nguyên D.pte của Trung quốc là 42,0% và 27,2%; dị
nguyên bụi nhà 41,4% và 28,4% Xét về mức độ
dương tính của test lẩy da giữa 4 dị nguyên không có
sự khác biệt lớn, tuy vậy có nhận xét rằng hoạt tính của
chế phẩm dị nguyên D.pte do chúng tôi tách chiết cao
hơn so với dị nguyên bụi nhà, với dị nguyên D.pte của
Pháp và thấp hơn dị nguyên D.pte của Trung quốc,
song sự cao hơn hay thấp hơn không có ý nghĩa thống
kê (với p > 0,05)
2 Test kích thích mũi
Test kích thích mũi là phương pháp rất nhạy cảm và
có giá trị trong chẩn đoán dị ứng đặc hiệu Đa số các
tác giả đều cho rằng nếu Test kích thích mũi làm đúng
qui cách sẽ cho kết quả tuyệt vời và phù hợp với Test
lẩy da
Điều kiện trước khi thử Test phải đảm bảo các yêu
cầu sau:
BN trong giai đoạn ổn định về lâm sàng: hố mũi
thông thoáng, chu kỳ mũi bình thường, niêm nhầy mũi
ở tình trạng ổn định khi khám
BN không dùng các thuốc điều trị dị ứng: dừng ít
nhất trước 3 ngày đối với corticoid xịt tại chỗ, thuốc co
mạch; dừng ít nhất trước 15 ngày đối với các thuốc
kháng histamin
Thực hiện Test trong phòng yên tĩnh, có nhiệt độ và
độ ẩm thích hợp Bệnh nhân được giải thích để tránh
yếu tố tâm lý lo lắng, căng thẳng và nghỉ ngơi 30 phút
trước khi thử Test
Test kích thích mũi là đưa dị nguyên vào mũi rồi
phân tích một cách khách quan các hậu quả xẩy ra
qua sự quan sát và các phép đo Ghi chép các phản
ứng của niêm nhầy mũi như hắt hơi từng tràng, chảy
mũi, ngạt mũi khi có dị nguyên cho thấy sự có mặt của
các kháng thể dị ứng làm thay đổi niêm dịch mũi
Nghiên cứu đánh giá các chỉ số lâm sàng là phương pháp đơn giản nhất của Test kích thích mũi nhưng ít khách quan hơn vì các biểu hiện đó có thể gặp khi không có sự kích thích của dị nguyên và chỉ xuất hiện trong vài phút Bệnh nhân viêm mũi nói chung dễ xuất hiện các triệu chứng khi có thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm, chất kích thích và tâm sinh lý Tất cả các yếu tố này kích thích cơ chế không đặc hiệu gây hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi Điều kiện thực hiện Test càng chặt chẽ càng loại bớt các kích thích không đặc hiệu này Tóm lại, Test kích thích mũi có một vị trí quan trọng trong nghiên cứu chẩn đoán căn nguyên của bệnh VMDƯ và để phân biệt VMDƯ với các bệnh viêm mũi mãn tính khác
Trong số 45 bệnh nhân VMDƯ có đáp ứng dương tính với Test kích thích ở các mức độ khác nhau từ 1 (+)
đến 4 (+) thấy rằng: tỷ lệ 1 (+) chiếm 2,2%, tỷ lệ 2 (+) chiếm 46,67%, tỷ lệ 3 (+) chiếm 40%, tỷ lệ 4 (+) là 11,11%
Điều đó cho thấy mức độ mẫn cảm cao của bệnh nhân với dị nguyên D.pt
3 Phản ứng phân hủy tế bào mast
Đây là phương pháp gián tiếp định lượng IgE đặc hiệu Phản ứng tiến hành đơn giản, ít tốn kém và còn giá trị để chẩn đoán bệnh dị ứng nói chung
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên nhóm VMDƯ có 400 bệnh nhân, nhóm chứng 80 bệnh nhân, thấy rằng ở nhóm chứng tỷ lệ dương tính chiếm 3,75 % trong khi đó nhóm VMDƯ chiếm tỷ lệ 72% Có
sự sai khác tỷ lệ phân huỷ mastocyte ở 2 nhóm khá rõ rệt Sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Và số bệnh nhân có mức độ phản ứng dương tính, mức độ phân huỷ tế bào mast thấp nhất là 11 %, cao nhất là 71%
Theo cách đánh giá đó, kết quả của Petrova (1987)
là 63,7 ± 2,79% số mẫu có phản ứng dương tính, trong
đó mức độ (++) là chủ yếu (46,8%) Theo Poriadin (1999) khi nghiên cứu một số chỉ số hóa học, sinh học của dị nguyên toàn phần, 4 phân đoạn thu được bằng lọc gel và dị nguyên được tinh chế bằng thấm tách, tác giả nhận thấy rằng số phản ứng dương tính trong phản ứng phân hủy tế bào mast là 67,1 ± 2,31%, mức độ phân hủy nằm trong giới hạn kiểm tra của thí nghiệm (tỉ
lệ phân hủy tế bào mast của dị nguyên toàn phần và dị nguyên được thấm tách 26,06 ± 0,71% và 26,52 ± 1,93%, của 4 phân đoạn còn lại từ 19,57 ± 1,32% đến 5,64 ± 1,44%)
Nghiên cứu của Trịnh Mạnh Hùng (2002) cho thấy
tỉ lệ phản ứng phân hủy tế bào mast dương tính đối với
dị nguyên D.pte là 66,67% Phần lớn các trường hợp cho phản ứng dương tính với mức độ từ 2(+) và 3(+) Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ phân hủy trung bình của tế bào mast đối với dị nguyên mạt đạt 22,85 ± 15,23%, trong đó mức độ 2(+) chiếm 42,71%; mức độ 3(+) 24,65% trên tổng số bệnh nhân viêm mũi
dị ứng có phản ứng phân hủy tế bào mast dương tính với dị nguyên D.pte
Kết quả của chúng tôi về tỉ lệ dương tính trong phản ứng này gần tương đương với kết quả của Petrova
Trang 5(1987) và phù hợp với kết quả của Trịnh Mạnh Hùng
(2002) Về mức độ phân hủy của tế bào mast, kết quả
của chúng tôi tương đương với kết quả của Poriadin đối
với dị nguyên toàn phần và dị nguyên được thấm tách
và kết quả của các tác giả trên
4 Kết quả xét nghiệm tiêu bạch cầu đặc hiệu
Sự tương tác dị nguyên với kháng thể trên bề mặt tế
bào hoặc rất gần bề mặt tế bào đã lôi cuốn các bach
cầu do những đặc điểm chức năng của chúng trong
quá trình khử hoạt hóa phức hợp miễn dịch bằng cách
bắt giữ và tiêu hóa nội bào các phức hợp đó Trong
quá trình tương tác đó các bạch cầu bị biến đổi về hình
thái cũng như về enzym, và cuối cùng bản thân chúng
bị các men đã giải phóng tiêu hủy
Vũ Thị Minh Thục và cộng sự nghiên cứu trên 33
bệnh nhân viêm mũi dị ứng và 30 người nhóm chứng;
cho phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu với dị nguyên
D.pte ở nhóm chứng là 16,7%, ở nhóm viêm mũi dị
ứng là 81,8%; mức độ dương tính tập trung chủ yếu ở
mức độ 2(+) {chiếm 31,3%}, mức độ 1 (+) {31,3%} và
thấp nhất là mức độ 4(+) {9,1%}
Chúng tôi thực hiện phản ứng tiêu bạch cầu đặc
hiệu trên 400 bệnh nhân VMDƯ do dị nguyên D.pte và
80 người nhóm chứng Kết quả ở bảng 3.11 cho thấy
nhóm chứng có tỷ lệ dương tính 3,7% ở nhóm viêm
mũi dị ứng mức độ dương tính chiếm 72% Tỷ lệ tiêu
huỷ bạch cầu ở 2 nhóm VMDƯ và nhóm chứng khác
nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,01)
Về mức độ dương tính của phản ứng TBCĐH ở
bệnh nhân VMDƯ do dị nguyên D.pte tách chiết (hình
3.3): mức độ dương tính 2 (+) chiếm tỷ lệ cao nhất
39,93%; 4(+) chiếm tỷ lệ thấp 13,89%
Nghiên cứu V.B Gervazieva thấy trung bình có
75% tế bào bạch cầu bị phá hủy dưới tác dụng của dị
nguyên đặc hiệu, so với đối chứng là 5%
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với
kết quả của Vũ Thị Minh Thục và cộng sự, sự sai khác
không có ý nghĩ thống kê, có thể do lượng bệnh nhân
của chúng tôi ở khu vực khác
KếT LUậN
Dermatophagoides pteronyssinus là một trong
những nguyên nhân chính gây ra các bệnh dị ứng
đường hô hấp như HPQ, VMDƯ
Hiện nay, số bệnh nhân đến khám và điều trị về dị ứng đường hô hấp ngày một tăng nên việc nuôi cấy, tách chiết và nghiên cứu các đặc tính hóa sinh, miễn dịch của dị nguyên D.pteronyssinus là cần thiết để tiến tới sản xuất thuốc dùng, đồng thời góp phần làm phong phú bộ dị nguyên, nâng cao hiệu quả chẩn đoán và
điều trị các bệnh dị ứng, góp phần tiết kiệm ngoại tệ nhập thuốc của nước ngoài
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt lực dị nguyên D.pt có hoạt tính sinh học tương đương với dị nguyên của Stallergen (Pháp) và Challergen (Trung quốc) TàI LIệU THAM KHảO
1 Ado A.D (1986), Dị ứng học đại cương, Người dịch: TSKH Nguyễn Năng An, TS Trương Đình Kiệt, NXB Mir, Matxcơva, tr 74-85
2 Boggs P.B (2000), Viêm mũi dị ứng, Tài liệu dịch tiếng Việt, Nxb Y học, Hà Nội
3 Vũ Minh Thục, Lương Xuân Hiến, Võ Thanh Quang, Phạm Văn Thức và CS (2010), Mạt bụi nhà Dermatophagoides pteronyssinus, lý luận và thực hành, Nhà xuất bản y học
4 Anthony J Frew, et al (2006), “Efficacy and safety
of specific immunotherapy with SQ allergen extract in treatment-resistant seasonal allergic rhinoconjunctivitis”, J Allergy Clin Immunol,pp 319 - 25
5 Canonica G.W et al (2009), “Sub-Lingual Immunotherapy - (World Allergy Organization Position Paper 2009)”, WAO Journal, pp 236-239, 242-243,
258-260
6. Dennis K.Ledford (2000), “Allergic Rhinitis: Diagnosis and Treatment”, Allergic Diseases: Diagnosis and Treatment, Hummana Press, Totowa, NJ, pp 143 –
165
7 Meinir G.Jones, Penny Lympany (2008), Allergy method and protocols, Humana Press, pp 133-145
8 Yoshitaka Okamoto, Syuji Yonekura, Daiju Sakurai, Shigetoshi Horiguchi, Toyoyuki Hanazawa, Atsuko Nakano, Fumiyo Kudou, Yoji Nakamaru, Kohei Honda, Akira Hoshioka, Naoki Shimojo, Yoichi Kohno (2010), “Sublingual Immotherapy with House Dust Extract for House Dust-Mite Allergic Rhinitis in Children”, Allergology International, 59, pp 381 – 388
NGHIÊN CứU Sự THấT BạI ĐIềU TRị BệNH NHÂN HIV/AIDS BằNG PHáC Đồ BậC 1 ARV
Hà Văn Tâm, Trần Đỗ Hùng TóM TắT
Qua khảo sát 603 bệnh nhân điều trị ARV tại
phòng khám ngoại trú HIV/AIDS Bệnh viện Đa khoa thị
xã Tân Châu tháng 8/2006 đến 01/2012
Tỷ lệ thất bại điều trị bằng phác đồ bậc 1 ARV và tử
vong
Tỷ lệ 3,5% thất bại điều trị bằng phác đồ bậc 1
ARV
Tỷ lệ tử vong trong thời gian 60 tháng điều trị là 19,2% Trong đó, tỷ lệ tử vong cao nhất ở nhóm < 6 tháng là 62,1%, tiếp theo là nhóm 6 - < 24 tháng 13,8%, nhóm 24 đến dưới 48 tháng là 4,3% và thấp nhất ở nhóm từ 48 – 60 tháng 1,7% Tử vong ở giai
đoạn lâm sàng 3 chiếm tỷ lệ cao nhất 41,4%