Các tài liệu về các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi có xu hướng khẳng định hiệuquả của chính sách tiền tệ trong việc tác động tổng cầu, với cú sốc chính sách tiền tệ gâyảnh hưởng mạnh m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ GV: NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
BÁO CÁO NHÓM 7
DANH SÁCH NHÓM 7
1 Nguyễn Thị Kim Hòa
2 Lê Văn Bé Tư
3 Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 2CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CÓ HIỆU QUẢ NHƯ THẾ NÀO Ở NHỮNG NƯỚC CÓ THU NHẬP THẤP? MỘT CUỘC KHẢO SÁT VỚI BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM.
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một mảng nghiên cứu lớn đã nổi lên trong những năm gần đây dành cho việc đo
lường thực nghiệm về tác dụng chính sách tiền tệ đối với tổng cầu Phần lớn của
mảng nghiên cứu này đã tập trung vào các trải nghiệm của Hoa Kỳ và các nước tiên tiếnkhác, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đáng kể về các nền kinh tế mới nổi Ngược lại, mặc
dù ên cứu về hiệu quả lan truyền của chính sách tiền tệ ở các nước đó lại hạn chế hơn hầuhết các ngân hàng trung ương trên thế giới hoạt động ở các nước có thu nhập thấp,nghinhiều, và vẫn còn trong giai đoạn trứng nước
Các tài liệu về các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi có xu hướng khẳng định hiệuquả của chính sách tiền tệ trong việc tác động tổng cầu, với cú sốc chính sách tiền tệ gâyảnh hưởng mạnh mẽ và có hệ thống về cả sản lượng và giá cả Tuy nhiên, có những lý domạnh mẽ không chỉ đơn giản cho rằng kết quả tương tự sẽ đúng cho các nước có thunhập thấp Đặc biệt, các cơ cấu tài chính của quốc gia này về cơ bản là khác nhau từ cácnền kinh tế tiên tiến và mới nổi Nó được đặc trưng bởi sự vắng mặt của các thị trườnghoạt động tốt đối với chứng khoán thu nhập cố định, chứng khoán vốn và bất động sản.Ngân hàng là bởi đến nay các trung gian tài chính chính thức chiếm ưu thế ở các nướcnhư vậy, nhưng các hệ thống tài chính chính thức có xu hướng được tương đối nhỏ so vớikích thước của nền kinh tế Ngoài ra, các quốc gia có thu nhập thấp có liên kết chưa hoànthiện với các thị trường vốn quốc tế tư nhân, và các ngân hàng trung ương của họ canthiệp mạnh vào thị trường ngoại hối Bối cảnh thể chế khá khác nhau này cho thấy rằng
cơ chế truyền dẫn tiền tệ ở các nước có thu nhập thấp có thể có sự khác biệt đáng kể sovới ở các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi
Trang 3Các ưu thế của các ngân hàng trong khu vực tài chính chính thức cho thấy rằng
các kênh cho vay ngân hàng có thể là phương tiện chính cho việc lan truyền chính sách
tiền tệ ở các nước có thu nhập thấp Tuy nhiên, điều kiện tại các nước này cho thấy rằnghiệu quả của các kênh này không thể thực hiện được Không chỉ vì khu vực tài chínhchính thức nhỏ, mà sự hạn chế cạnh tranh trong khu vực ngân hàng và sự tăng mạnh chiphí biên của việc cho vay có thể làm suy yếu hiệu quả của việc thực thi chính sách tiền tệcủa ngân hàng trung ương trong việc ảnh hưởng lãi suất cho vay của ngân hàng thươngmại Kết quả là các cơ chế truyền dẫn tiền tệ ở các nước có thu nhập thấp được chứng
minh là vừa yếu hơn vừa không đáng tin cậy hơn so với những nước tiên tiến và mới
nổi
Đánh giá hiệu quả thực nghiệm của chính sách tiền tệ ở các nước có thu nhập thấp
do đó là một chủ đề quan trọng cho việc nghiên cứu, và bây giờ ngày càng nhiều nghiêncứu tìm hiểu về chủ đề này
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Trong bài báo này, chúng tôi khảo sát nghiên cứu biến về hiệu quả của truyền dẫn tiền
tệ ở các nước có thu nhập thấp để đánh giá những gì hiện đang được biết đến về khả năngcác ngân hàng trung ương ở các nước như ảnh hưởng đến tổng cầu
- Phân biệt giữa '' sự kiện thực tiễn '' (facts on the ground) và '' thiếu sót về mặt phươngpháp '' (methodological deficiencies) giải thích về sự vắng mặt của bằng chứng chotruyền dẫn tiền tệ mạnh
- Xác định các phương tiện nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ ở các nước có thunhập thấp
3 Phạm vi nghiên cứu
Bởi vì số lượng các nước có thu nhập thấp là khá lớn và các quốc gia này là rất khôngđồng nhất, khảo sát của chúng tôi yêu cầu một nguyên tắc tổ chức Như đã biết, các kênhtruyền dẫn tiền tệ trong nền kinh tế cụ thể phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của cácrào cản để di chuyển vốn quốc tế và cơ chế tỷ giá hối đoái của nó, cũng như về cơ cấu tàichính của mình Bởi vì các nước trong cùng một khu vực địa lý thường có sự tương đồng
Trang 4trong các liên kết đến các thị trường tài chính quốc tế và áp dụng chế độ tỷ giá hối đoáitương tự, và bởi vì cấu trúc tài chính của một quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi môitrường pháp lý và thể chế của nó - cả hai đều có những điểm chung mạnh mẽ trong khuvực - sự khác biệt trong các đặc điểm đất nước mà quan trọng để truyền tiền tệ có thể sẽnhiều hơn rõ rệt giữa các nước trong khu vực địa lý khác nhau hơn những nước trongcùng một khu vực Theo đó, chúng tôi phân loại các quốc gia có thu nhập thấp vào năm
vùng địa lý: i) Quốc gia Châu phi khu vực gần Sahara; ii) Các nền kinh tế chuyển
đổi ở Trung và Đông Âu; iii) Trung Đông và Bắc Phi; iv) Châu Á – Thái Bình Dương; v) Các nước Mỹ Latinh và Caribê
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp của sự lựa chọn cho mục đích này - như đối với các quốc gia côngnghiệp và nền kinh tế thị trường mới nổi - đã bao gồm các dẫn xuất tác động của phảnứng xung (IRFs) từ Mô hình tự hồi quy vector (VAR) Trong bài báo này, chúng tôi khảosát nghiên cứu biến về hiệu quả của truyền tiền tệ ở các nước có thu nhập thấp để đánhgiá những gì hiện đang được biết đến về khả năng các ngân hàng trung ương ở các nướcnhư ảnh hưởng đến tổng cầu
5 Ý nghĩa nghiên cứu
Bài nghiên cứu đúc kết những kết quả thực nghiệm về hiệu quả của truyền dẫn chính sáchtiền tệ ở những nước thu nhập thấp và tạo nền tảng cho các nghiên cứu sau về lĩnh vựcnày
6 Kết cấu của bài nghiên cứu (kết cấu của paper)
Mục 1: Giới thiệu
Mục 2: Phương pháp nghiên cứu
Mục 3-8: Kết quả kiểm tra bằng chứng khu vực
Mục 9: Tóm tắt và Kết luận
Mục 10: Liên hệ với Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Sự thay đổi khối lượng tiền cung ứng ảnh hưởng đến nền kinh tế bằng những con đườngnào là một câu hỏi quan trọng Nó quyết định tới việc thiết kế và thực hiện CSTT mộtcách đúng đắn và hiệu quả Trong hệ thống tài chính hiện đại, CSTT ảnh hưởng đến cácbiến số kinh tế vĩ mô bằng 3 con đường: lãi suất, giá tài sản và hoạt động tín dụng ngânhàng
Kênh lãi suất
Ảnh hưởng của sự biến đổi lượng tiền cung ứng đến nền kinh tế trước hết được truyềndẫn qua kênh lãi suất Đây là kênh tác động truyền thống được Keynes mô tả nhưsau: M↑⇒i↓⇒I↑⇒Y↑
Khi khối lượng tiền M mở rộng, mức lãi suất thực i giảm xuống làm giảm giá vốn vay.Nhu cầu đầu tư I vì thế tăng lên dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng Y Vấn đề chủyếu của kênh truyền dẫn này là: sự thay đổi mức lãi suất ngắn hạn được khống chế trựctiếp bởi NHTW có thể ảnh hưởng đến các mức lãi suất khác của nền kinh tế và cuối cùngảnh hưởng lan truyền tới toàn bộ hệ thống lãi suất của nền kinh tế Hiệu quả của sự tácđộng này phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức của thị trường tài chính và mức độ trông đợicủa thị trường
Cần chú ý là nhu cầu đầu tư nhạy cảm với mức lãi suất thực chứ không phải lãi suấtdanh nghĩa Nhận thức này làm thay đổi trình tự ảnh hưởng của khối lượng tiền đến sảnlượng như sau:
Khi khối lượng tiền cung ứng M tăng lên, mức giá cả dự tính Pe và lạm phát dự tính
pe tăng kéo theo sự giảm xuống của lãi suất thực làm cho đầu tư tăng, tổng cầu tăng và
do đó sản lượng tăng lên
Kênh giá tài sản
Lãi suất là một loại giá tài sản và được coi là kênh truyền dẫn chủ yếu theo quan niệmcủa Keynes Tuy nhiên khi nghiên cứu mối quan hệ giữa M và Y, các nhà kinh tế theo
Trang 6trường phái trọng tiền đã bổ sung thêm giá các loại tài sản khác có khả năng truyền tácđộng của CSTT như tỷ giá hoặc giá cổ phiếu.
Ảnh hưởng của tỷ giá đối với xuất khẩu ròng
Trong điều kiện các hoạt động kinh tế ngày nay càng mang tính toàn cầu cùng với việc
áp dụng phổ biến cơ chế tỷ giá linh hoạt, các nhà kinh tế bắt đầu quan tâm đến cơ chế ảnhhưởng của CSTT tới tỷ giá và do đó tới mức xuất khẩu ròng và tổng sản lượng
M↑⇒i↓⇒E↑⇒XK↑⇒Y↑
Kênh truyền dẫn này bao gồm cả cơ chế ảnh hưởng của lãi suất Trong trường hợp này,lãi suất của nội tệ giảm so với ngoại tệ làm cho giá trị tiền gửi nội tệ thấp hơn giá trị tiềngửi ngoại tệ Vì thế đồng nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ (tỷ giá E tăng) Sựgiảm giá của đồng nội tệ sẽ kích thích xuất khẩu tăng làm sản lượng tăng
Giá thay thế tài sản
Nếu chỉ số Q>1 và cao có nghĩa là giá trị thị trường của cổ phiếu cao hơn giá thay thế tàisản của công ty Điều này kích thích doanh nghiệp đầu tư mới vào nhà xưởng, thiết bị vìgiá của chúng rẻ tương đối so với giá trị thị trường của cổ phiếu, lượng cổ phiếu cần pháthành sẽ là rất nhỏ
Nếu chỉ số Q nhu cầu cần bổ sung thiết bị nó có thể mua một công ty khác và có đượcmáy móc thiết bị đã sử dụng với giá rẻ Ngược lại, nó cũng dễ trở thành đối tượng củahoạt động mua đứt
Khi NHTW mở rộng khối lượng tiền cung ứng M, giá cổ phiếu Pe có xu hướng tăng lênlàm tăng chỉ số Q và nhu cầu đầu tư mới Sản lượng vì thế tăng lên: M↑⇒Pe↑⇒Q↑⇒I↑-
⇒Y↑
Ảnh hưởng tới thu nhập thường xuyên của công chúng
Trang 7Mức tiêu dùng thường xuyên của các hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn thu nhậpthường xuyên và dài hạn Một bộ phận của nguồn thu nhập dài hạn là từ tài sản tài chính.Khi M tăng lên, giá cổ phiếu tăng lên làm tăng nguồn thu nhập dài hạn, kích thích tiêudùng: M↑⇒Pe↑⇒tài sản↑⇒C↑⇒Y↑.
Kênh tín dụng
Để khắc phục tình trạng rủi ro thông tin - một rào cản của thị trường vốn, những người đivay tìm đến với ngân hàng Tình trạng này tạo nên một kênh truyền dẫn quan trọng vàphổ biến của CSTT, được thể hiện ở hai giác độ: qua hoạt động tín dụng ngân hàng vàqua sự điều chỉnh bảng tổng kết tài sản của các khách hàng
Kênh tín dụng ngân hàng
Các khách hàng là doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thông quangân hàng để tiếp cận với thị trường vốn nói chung CSTT có thể tác động đến nền kinh
tế thông qua hoạt động này theo cơ chế sau:
M↑⇒Tiền gửi ngân hàng↑⇒tiền vay↑⇒I↑⇒Y↑
Theo cơ chế này, CSTT có thể ảnh hưởng đến nhu cầu chi tiêu của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ hơn là các doanh nghiệp lớn - những người có khả năng tiếp cận với thị trường tàichính thông qua phát hành các chứng khoán có giá
Thông qua tác động điều chỉnh bảng tổng kết tài sản
Ảnh hưởng đến nguy cơ rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch:
Khi giá trị bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp bị giảm thấp, rủi ro đạo đức và lựachọn đối nghịch đối với hoạt động cho vay của các ngân hàng tăng lên vì các doanhnghiệp này có động cơ để đầu tư vào những dự án có mức rủi ro cao Điều này, đến lượt
nó làm giảm mong muốn cho vay của ngân hàng Từ đó mà giảm chi tiêu và tổng cầu.Nếu NHTW thực hiện CSTT mở rộng, giá cổ phiếu tăng lên, giá trị ròng của bảng tổngkết tài sản tăng, hạn chế các hoạt động gây nên rủi ro cho ngân hàng Vốn cho vay vì thếtăng lên là lý do dẫn đến tăng tổng cầu và sản lượng: M↑⇒Pe↑⇒lựa chọn đối nghịch vàrủi ro đạo đức↓⇒cho vay↑⇒Y↑
Thông qua cải thiện tình trạng dòng tiền mặt
Trang 8Các luồng thu tiền mặt ròng là nguồn trả nợ chủ yếu cho ngân hàng CSTT mở rộng làmcho luồng thu tiền mặt trở nên dễ dàng hơn, làm tăng tính thanh khoản của bảng tổng kếttài sản của khách hàng Điều này làm cho ngân hàng tin tưởng hơn vào khả năng trả nợcủa khách hàng Khối lượng vốn cho vay vì thế tăng lên, đầu tư và sản lượng mở rộng:
M↑⇒i↓⇒Cash flow↑⇒lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↓⇒cho
M↑⇒Pe↑⇒lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↓⇒cho vay↑⇒I↑⇒Y↑
Mô hình VAR được đề xuất bởi Christopher Albert “Chris” Sims, giúp nhận diện bà giảithích các cú sốc kinh tế trong lịch sử, và giúp phân tích xem những cú sốc ấy có tác độngnhư tế nào đến các biến số vĩ mô khác Nó là nền tảng cho việc ban hành các chính sáchkinh tế Phương pháp của Sims bao gồm 3 bước
Trước tiên, nhà phân tích dư báo các biến số vĩ mô được sử dụng trong mô hình VAR.
đây là một mô hình tương đối đơn giản sử dụng dữ liệu chuỗi thời hian, theo đó các giátrị quan sát trước đó dung để dự báo Khác biệt giữa dự báo và kết quả (lỗi dự báo) đốivới một biến cụ thể được xem là một “puzzle”, nhưng theo Sims những lỗi dự báo ấykhông có ý nghĩa kinh tế rõ ràng Tiếp theo là nhận diện và tách các puzzle ra rồi tiếnhành phân tích phản ứng xung lực (impulse response)
Trong mô hình VAR mỗi biến phụ thuộc tuyến tính vào các giá trị trễ của biến số này vàgía trị trễ của các biến số khác
Mô hình VAR dạng tổng quát:
Trang 9Ưu và nhược điểm của mô hình:
Ưu:
- Giá trị của một biến số trong mô hình VAR chỉ phụ thuộc vào gía trị trong quá khứ củacác biến số Do đó, việc ước lượng các phương trình không đỏi hỏi các thông tin nàokhác ngoài các biến sốc ủa mô hình Vì không có quan hệ đồng thời giữa các biến số nênngười ta có thể sử dụng OLS hoặc phương pháp lượng hợp lý cực đại để ước lượng từngphương trình của mô hình
- Không cần xác định biến nào là biến nội sinh, biến nào là biến ngoại sinh
- Sử dụng mô hình VAR để dự báo trong ngắn hạn
Nhược:
- Đòi hỏi nhiều biến số đều là biến dừng
- Không biết được độ trễ bằng bao nhiêu
- Không phân tích được chính sách
- Đòi hỏi nhiều quan sát khi ước lượng
Trang 10CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bởi vì một số khía cạnh của phương pháp luận sử dụng vẫn còn gây nhiều tranh cãi,trước khi chuyển tới việc xem xét bằng chứng này, nó là hữu ích để xem xét một số vấn
đề về phương pháp luận
3.1 Xác định các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ
Đầu tiên, cung cấp bằng chứng về hiệu quả của lan truyền tiền tệ đòi hỏi có được mộtbiện pháp thực nghiệm quan sát được của đổi mới chính sách tiền tệ Điều này đòi hỏiviệc xác định các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ Trong khi các ngân hàngtrung ương cuối cùng có thể gây ảnh hưởng tổng cầu, và trong khi nó tiến hành chínhsách tiền tệ bằng cách thay đổi kích thước của bảng cân đối tài khoản của nó, trong thực
tế nó làm như vậy để ảnh hưởng đến giá trị của một số biến tài chính mà nó tin có liênquan đến tổng hợp yêu cầu thông qua các cơ chế truyền dẫn tiền tệ Biến tài chính này -mục tiêu trung gian các ngân hàng trung ương - có thể là một tổng hợp tiền tệ, lãi suấtngắn hạn, tỷ giá hối đoái, hoặc một số sự kết hợp của các biến (ví dụ, những chỉ số điềukiện tiền tệ) Nếu các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ được xác định nhầm bởicác điều tra viên, sau đó là mối tương quan giữa các biến đó là nhầm lẫn lấy làm mục tiêutrung gian các ngân hàng trung ương và nhà nước của tổng cầu có thể phản ánh sự ảnhhưởng chung của yếu tố thứ ba trên cả hai biến, chứ không phải là tìm kiếm, cho tác độngđộc lập của chính sách tiền tệ đối với tổng cầu Các yếu tố đó có thể sẽ là mẫu cụ thể, do
đó tương quan giữa các mục tiêu được chọn và tổng cầu sẽ thay đổi từ mẫu tới mẫu, tùythuộc vào các nguồn của những cú sốc đó chứng minh được ưu thế trong mỗi mẫu Do đó
sự tương quan này sẽ không cung cấp thông tin về tác dụng thực sự của chính sách tiền tệđối với tổng cầu
Các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ thường được xác định trên cơ sở ưu tiên.Tuy nhiên, xác định các mục tiêu trung gian có thể dựa trên thuyết minh ngân hàng trungương (khi ngân hàng trung ương công bố mục tiêu trung gian của họ cho công chúng),hoặc biết trước về các thủ tục hoạt động của các cơ quan tiền tệ, chẳng hạn như thu thậpbởi IMF ở thu nhập thấp nước thông qua tham vấn Điều IV của nó Một phương pháp
Trang 11khác đã được để suy ra các mục tiêu trung gian từ hành vi của ngân hàng trung ương(xem, ví dụ, các cuộc thảo luận dưới đây của Gordon và Leeper, 1994).
3.2 Xác định những cú sốc chính sách tiền tệ ngoại sinh
Vấn đề thứ hai là ngay cả khi, nói, lãi suất trong nước ngắn hạn có thể được thực hiệnnhư là các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ, và những đổi mới trong hành vi củalãi suất này được chiết xuất từ một dạng VAR rút gọn, những đổi mới không nhất thiếtđại diện cho những cú sốc chính sách tiền tệ ngoại sinh Vấn đề quan trọng là chính sáchtiền tệ có thể đáp ứng một cách đồng thời đến các biến khác trong hệ thống Như vậy, đếnmức mà sự đổi mới trong phương trình cho các công cụ chính sách tiền tệ có tương quanvới sự đổi mới trong các biến kinh tế vĩ mô khác, sự đổi mới trong biến chính sách tiền tệ
mà là thu được từ một ước tính giảm dạng VAR có thể đại diện cho một số sự kết hợpcủa một ngoại sinh tiền tệ cú sốc chính sách và một phản ứng nội sinh đương thời củachính sách tiền tệ để đổi mới trong các biến khác Nó có thể được, ví dụ, cho rằng lãi suấtbất ngờ được đưa ra trong một thời gian nhất định vì các cơ quan tiền tệ thực hiện mộtđổi mới trong tổng cầu Thách thức là để loại bỏ ảnh hưởng của các phản ứng như vậy từ
sự đổi mới trong biến chính sách tiền tệ để xác định các thành phần ngoại sinh của sự đổimới trong các biến số chính sách Đây là vấn đề nhận dạng tiêu chuẩn Trích xuất cácthành phần ngoại sinh của đổi mới chính sách tiền tệ (cú sốc chính sách tiền tệ) từ các số
dư giảm VAR-form yêu cầu rời khỏi 'atheoretic' 'lập trường' vào đó cách tiếp cận VARban đầu được dựa Không ngạc nhiên, do đó, nó đã được chứng minh là các khía cạnhgây tranh cãi nhất của phương pháp luận
Vấn đề này đã được giải quyết bằng nhiều cách:
3.2.1 Choleski phân tách
Theo một phân tách Choleski, mối quan hệ giữa các sáng kiến giảm hình thức được giảđịnh là đệ quy, do đó nếu biến được đặt theo vị trí của mình trong chuỗi đệ quy, sự đổimới giảm hình thức trong các biến đầu tiên được giả định là cấu trúc, trong khi rằng tronglần thứ hai là một sự đổi mới cơ cấu trong biến thứ hai kết hợp với một phản ứng đồngthời với đổi mới cơ cấu trong các biến đầu tiên, đó là thứ ba là một sự đổi mới cơ cấu
Trang 12trong biến thứ ba kết hợp với một phản ứng đồng thời với đổi mới cơ cấu trong đầu haibiến, và như vậy Christiano et al (1999) do đó gọi đây là '' giả định đệ quy ''
Hiện thực thô của Đề án Choleski (như trong 'gốc' 'cách tiếp cận của Sims) có xu hướngđặt các biến số chính sách tiền tệ lần đầu tiên, trên giả định ngầm rằng những đổi mớitrong biến này là ngoại sinh, nhưng có thể ảnh hưởng đến các biến số khác trong cácVAR một cách đồng thời Trong một hệ thống ba biến, ví dụ, có chứa sản lượng thực tế
Y, mức giá P, và một biến số chính sách tiền tệ (chẳng hạn như tiền tệ cơ sở M), các biến
số chính sách tiền tệ sẽ được đặt hàng đầu tiên, tiếp theo, nói, bởi sản lượng thực tế vàmức giá (M, Y, P) Các giả định xác định được rằng chính sách tiền tệ không phản ứngmột cách đồng thời để đổi mới trong sản lượng thực tế và mức giá, và rằng sáng tạo ởmức giá không ảnh hưởng đến sản lượng thực một cách đồng thời
Tuy nhiên, điều này đã bỏ qua khả năng sáng tạo trong các biến vĩ mô khác (chẳng hạnnhư thực sản lượng và mức giá) có thể là một phần của các thông tin thiết lập sẵn đểhoạch định chính sách tiền tệ, và do đó cho rằng có thể đáp ứng với những đổi mới trongcác biến một cách đồng thời Bernanke và Blinder (1992) đã đề xuất một kế hoạch xácđịnh đệ quy dựa trên các thông tin sẵn có để hoạch định chính sách và tốc độ mà biếnchính sách ảnh hưởng đến các biến vĩ mô nội sinh Đề án đã được sử dụng rộng rãi trongcác nước có thu nhập thấp Trong một ước tính dựa trên dữ liệu hàng tháng đối với Hoa
Kỳ, họ lập luận rằng các biến số chính sách tiền tệ thực sự sẽ xuất hiện cuối cùng trongtrật tự Choleski, trên giả định rằng các biến vĩ mô nội sinh trong VAR của họ có thể quansát hoạch định chính sách, nhưng mà biến chính sách tiền tệ sẽ có xu hướng ảnh hưởngđến các biến vĩ mô nội sinh Trật tự thay thế trong trường hợp này sẽ đặt sản lượng thực
tế đầu tiên, sau đó là mức giá và các biến số chính sách tiền tệ Các biến số chính sáchluôn luôn không được đặt hàng trước, tuy nhiên Peersman và SMETS (2001), cho một
Ví dụ, điều tra các cơ chế truyền dẫn tiền tệ trong khu vực sử dụng đồng Euro dựa trên dữliệu VAR quý và áp đặt một phân hủy Choleski ra lệnh như GDP thực, giá tiêu dùng, một
tỷ lệ nội địa danh nghĩa ngắn hạn lãi suất R, và tỷ giá hối đoái thực RER (Y, P, R, RER).Các giả định trong trường hợp này là trong hoạch định chính sách tiền tệ của mình, ECBnhìn vào GDP thực tế và giá tiêu dùng, nhưng không theo tỷ giá, trong khi tỷ giá bị ảnh
Trang 13hưởng bởi tất cả các biến ra lệnh trước đó, và không phải lãi suất cũng không phải là tỷgiá hối đoái có bất kỳ tác dụng nào trên GDP thực tế và giá tiêu dùng trong quý Trongngắn hạn, giả định phương pháp này để xác định các cú sốc chính sách tiền tệ là trực giaovới các biến trong tập thông tin các ngân hàng trung ương: các cú sốc không bị ảnhhưởng bởi các biến trong tập thông tin, và không ảnh hưởng đến biến một cách đồng thời.
3.2.2 Nhận biết không đệ quy (đồng thời)
Tuy nhiên, với cách tiếp cận này, đó là các ngân hàng trung ương có thể có thể quan sátcác biến có thể ảnh hưởng đến đồng thời, và thậm chí nếu nó không ảnh hưởng đến cácbiến trực tiếp, nó có thể phản ứng với bất cứ hướng nào, vì chúng có thể truyền tải thôngtin về các biến mà các ngân hàng trung ương không quan tâm Trong hệ thống bốn biếnPeersman và SMETS, ví dụ, các ngân hàng trung ương có thể chọn để đáp ứng với nhữngđổi mới trong tỷ giá hối đoái vì nó truyền tải những thông tin về giá tương lai Điều này
sẽ làm mất hiệu lực một trong Peersman và SMETS 'hạn chế loại trừ Bất cứ khi nàobiến nhập bộ thông tin các ngân hàng trung ương, các giả định thất bại,và thêm một hạnchế được yêu cầu cân bằng trong số, các biến số không được xác định trước bao gồmtrong tập hợp thông tin các ngân hàng trung ương
Chừng nào những hạn chế bổ sung cũng đáp ứng các điều kiện cấp để nhận dạng,các cú sốc chính sách tiền tệ có thể được xác định hoàn toàn trong một hệ thống Gordon
và Leeper (1994), cho một ví dụ, nhìn vào truyền tiền tệ ở Hoa Kỳ, mất một vị trí bất khảtri về mục tiêu trung gian cụ thể của Fed Nó bao gồm các mục tiêu trung gian (một lãisuất ngắn hạn và thu hẹp tổng tiền tệ) trong VAR và hạn chế đối với hình thức giảm đổimới VAR thiết kế để trích xuất các sáng kiến cơ cấu chính sách tiền tệ Họ ước tính mộtVAR hàng tháng với bảy biến bao gồm tỷ lệ thất nghiệp, sản lượng thực tế, các mức giá,
tỷ lệ lãi suất dài hạn, giá cả hàng hóa, cổ phiếu dự trữ, và tỷ lệ các quỹ liên bang Sau đó
họ xác định các mô hình cấu trúc sau đây cho thị trường dự trữ:
Trang 14trong đó Y, P, R10, CP, M, R và biểu thị tương ứng những đổi mới trong giảm dạng cânbằng VAR cho sản lượng thực tế, mức giá, lãi suất dài hạn, giá cả hàng hóa, cổ phiếu dựtrữ, và tỷ lệ quỹ liên bang, và tương ứng, những cú sốc cơ cấu đối với nhucầu và cung cấp dự trữ Những phương trình này có thể được ước tính trực tiếp từ số dưVAR, cho phép trích xuất Trong thiết lập này, là cú sốc chính sách tiền tệ có liênquan Một cách tiếp cận khác tương tự, bằng cách sử dụng Mô hình thị trường dự trữ, đãđược thông qua bởi Bernanke và Mihov (1998) Những cách tiếp cận tốt hơn là chỉ địnhcác mục tiêu trung gian là cho phép xác định các dữ liệu Một cách tiếp cận có ảnh hưởngđến việc xác định cấu trúc cú sốc đã được phát triển bởi Sims và Zha (1998) Để mô tảcách tiếp cận của họ trong một thiết lập đơn giản, hãy xem xét các hệ thống bốn biếnPeersman và SMETS tăng cường với một biến tiền, năng suất một VAR năm biến Điềukiện yêu cầu là hạn chế trong trường hợp này Giả sử rằng sản lượng thực tế không bị ảnhhưởng bởi bất kỳ nào của người khác, biến trong các hệ thống và mức giá chỉ bị ảnhhưởng bởi năng suất sản lượng thực tế ( hạn chế loại trừ) Giải thích sự đổi mới trong các
cổ phiếu như phát sinh từ nhu cầu đổi mới trong tiền cho phép tỷ giá hối đoái được loạitrừ khỏi phương trình đó, một hạn chế thứ tám Cuối cùng, nếu các ngân hàng trung tâm
có thể quan sát các tỷ giá hối đoái và chứng khoán tiền tệ có liên quan, nhưng thực sựkhông phải sản lượng và mức giá, điều này mang lại hai hạn chế loại trừ khác cần nhậndạng trong lãi suất phương trình Trong khuôn khổ này, tỷ giá hối đoái được phép để đápứng tất cả các khác biến Lưu ý rằng những cú sốc về sản lượng thực tế và mức giá có thểđược giải thích cho đệ quy trong hệ thống này, nhưng những cú sốc đối với chính sáchtiền tệ, nhu cầu tiền bạc, và tỷ giá hối đoái tất cả đều phải được giải quyết cùng một lúc.Kim và Roubini (2000) đề xuất một mô hình cấu trúc thay thế áp dụng đối với một nềnkinh tế mở nhỏ thường được sử dụng để xác định cấu trúc ở các nước có thu nhập thấp
nó là cơ bản là một sự tổng quát của Sims và Zha (1998), trong đó bao gồm cả thế giớivới mức giá hàng hóa và một tỷ lệ lãi suất ngắn hạn trên thế giới, nhưng nếu không theokhuôn khổ Sims-Zha chặt chẽ Các khung Kim-Roubini chứa bảy biến: giá cả hàng hóathế giới CP, sự quan tâm bên ngoài tỷ lệ R *, sản lượng thực tế trong nước Y, trong nướcmức giá P, các cổ phiếu tiền M, trong nước ngắn hạn lãi suất R (đối xử như những biến
Trang 15số chính sách trong mô hình của họ, như trong The Sims và Zha) và tỷ giá hối đoái danhnghĩa Với giá cả hàng hóa thế giới là ngoại sinh dưới giả định nước nhỏ, và do đó không
bị ảnh hưởng bởi những cú sốc khác Tuy nhiên, lãi suất thế giới R * được đưa đến bị ảnhhưởng bởi giá cả hàng hóa thế giới, như là sản lượng thực tế trong nước Y Hai biến làkhông bị ảnh hưởng bởi bất kỳ các biến khác trong mô hình về tác động Do đó, Kim vàRoubini cho rằng đầu ra là bị ảnh hưởng trong ngắn hạn chỉ bởi các cú sốc cung, nhưng
họ xác định cú sốc cung khác hơn do giá cả hàng hóa riêng biệt Mức giá trong nước bịảnh hưởng trong đường cong Phillips bởi cả hai CP và Y Sử dụng một giải thích nhu cầutiền như trong Sims và Zha, các cổ phiếu tiền M là không bị ảnh hưởng bằng CP, R *,hoặc S Các ngân hàng trung ương có thể quan sát giá thế giới hàng hóa và lãi suất cũngnhư tỷ giá hối đoái và chứng khoán tiền tệ có liên quan, nhưng thực sự không phải sảnlượng và mức giá Do đó, lãi suất chính sách tiền tệ R được lấy được không bị ảnh hưởngbởi Y và P Như trong Sims và Zha (1998), tỷ giá là có khả năng bị ảnh hưởng bởi tất cảcác biến khác
3.3 Khám phá các kênh truyền dẫn tiền tệ
Cuối cùng, mối quan tâm nhất của chúng tôi là có hiệu quả của truyền tiền tệ nước đangphát triển hay không, như được chỉ ra trong phần cuối về vấn đề này được dựa trên quanđiểm rằng một số kênh truyền thông thường có thể sẽ không hoạt động tại các quốc gianày, và có những lý do để nghi ngờ rằng các kênh đó là có khả năng nhất là – các kênhcho vay ngân hàng - có thể yếu và / hoặc không ổn định Một số giấy tờ mà chúng ta sẽxem xét trong năm tiếp theo phần điều tra rõ ràng sức mạnh của kênh truyền dẫn cụ thể.Trước khi chuyển đến bằng chứng, do đó, nó là giá trị tạm dừng để xem xét cách thựchiện nó Có hai cách tiếp cận cơ bản, cả hai đều đòi hỏi bao gồm trong VAR của một biến(hoặc các biến) nhằm phục vụ cho một chỉ số của một kênh cụ thể Xem xét, Ví dụ, cáckênh ngân hàng cho vay Để đánh giá vai trò của kênh này, cổ phiếu của ngân hàng tíndụng và / hoặc lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ được bao gồm trong các biến nội sinhtrong VAR giả định rằng cú sốc chính sách tiền tệ được phát hiện là có ảnh hưởng đáng
kể đối với tổng cầu (như tiết lộ của giá trị ý nghĩa thống kê của các IRFs cho sản lượng
Trang 16thực tế và / hoặc mức giá), sự đóng góp của các kênh ngân hàng cho vay để kết quả này
có thể được đánh giá như sau:
i Các phương pháp tiếp cận đầu tiên xác định liệu các cú sốc chính sách tiền tệ có ýnghĩa thống kê có hiệu lực (như được phản ánh trong các IRF) về lãi suất cho vay hoặccác chứng khoán của tín dụng ngân hàng theo hướng dự đoán của lý thuyết (tức là, một
sự co tiền tệ nên sản xuất một co trong tín dụng ngân hàng và / hoặc sự gia tăng lãi suấtcho vay) Một câu trả lời khẳng định cho thấy vai trò thống kê được xác định rõ cho kênhngân hàng cho vay, nhưng không chỉ ra sức mạnh về số lượng của kênh đó
ii Để đánh giá sau này, Ramey (1993) đã đề xuất một phương pháp mô phỏng, dựa trên
sự so sánh chức năng đáp ứng của chỉ số tổng cầu (sản lượng hoặc giá cả) để một tiền tệ
cú sốc chính sách khi biến cho vay ngân hàng được phép để đáp ứng nội sinh để các cúsốc và khi nó được xử lý như là một biến ngoại sinh Sự khác biệt giữa hai IRFs cung cấpmột sự đo cường độ định lượng của các kênh cho vay ngân hàng
3.4 Kết quả chuẩn mực trong nền kinh tế phi LIC (LIC = low income countries: những nước có thu nhập thấp)
Những gì chúng ta nên mong đợi trong việc áp dụng các phương pháp VAR cho các nước
có thu nhập thấp? Một cách để trả lời câu hỏi này là bằng cách sử dụng kết quả tiên tiến
và nền kinh tế đang là một điểm chuẩn Những kết luận về tác dụng chính sách tiền tệtrong nền kinh tế như rút ra từ các VAR có chủ yếu được dựa trên các dấu hiệu, độ lớn,
và có ý nghĩa thống kê của đáp ứng chức năng Các tài liệu có liên quan đã được sản xuất
ở lần kết quả ngược (ví dụ, đầu '' Thanh khoản đố '' và những phát hiện thỉnh thoảng củamột '' câu đố về giá '') Tuy nhiên, điểm quan trọng là, thậm chí theo một loạt các mô hìnhnhận dạng, văn học này có xu hướng mang IRFs có trong dự đoán lý thuyết và đã đượcước tính với đủ độ chính xác cho một đồng rộng rãi nổi lên về những tác động của các cúsốc chính sách tiền tệ trên một tập hợp lớn các biến kinh tế vĩ mô Như một minh hoạ,Kim (1999) xem xét các tác động chính sách tiền tệ trong nước G-7, sử dụng lược đồ xácđịnh cấu trúc chung Ông kết luận: Để đối phó với các cú sốc cung tiền, ban đầu, lãi suấttăng lên đáng kể và tiền tệ tổng hợp giảm đi đáng kể Các mức giảm giá đáng kể trơn tru
Trang 17và ít nhất là ở một số nước Mức đầu ra không tăng đáng kể Giá cả hàng hóa xuất khẩuthế giới, chỉ số về nội tệ giảm đáng kể Các phản hồi ước tính là rất gần các dự kiến vĩ môbiến trong một co tiền tệ ở hầu hết các nước G-7 Đặc biệt, các câu đố thanh khoản và cáccâu đố giá không quan sát được (p 398).Chúng tôi không biết về bất kỳ nghiên cứu đaquốc gia rộng lớn tương tự đối với các nền kinh tế thị trường mới nổi, nhưng một bài báogần đây của Acosta-Ormaechea và Coble (2011) giao dịch với các trường hợp của Chile,New Zealand, Peru và Uruguay cung cấp một tập hợp hữu ích của bộ so sánh Tất cả bốnnước trong số các nền kinh tế thị trường tài chính tinh vi, duy trì tỷ giá hối đoái thả nổi,
và là một trong hai (Chile và New Zealand) hay gần đây (Peru và Uruguay) lạm phát mụctiêu Các tác giả thấy rằng trong trường hợp của Chile và New Zealand, được đặc trưngbởi tình trạng đô la hạn chế, đổi mới chính sách tiền tệ có tác dụng tiêu chuẩn và chínhxác ước tính về giá cả và sản lượng, trong khi ở các nền kinh tế như Peru và Uruguayhiệu ứng về giá và sản lượng là một trong hai yếu Kết quả là cấu trúc tài chính quantrọng để truyền tiền tệ: Chile và New Zealand hành xử tương tự như nền kinh tế G-7 ,trong khi sự hiện diện của đô la hóa ở Peru và Uruguay dường như có tác dụng gây rốitrên truyền tiền tệ Có một số lượng lớn các nghiên cứu đã áp dụng phương pháp VAR đểtính toán các tác động của chính sách tiền tệ ở các nước có thu nhập thấp Những phầntiếp theo xét kết quả của các nghiên cứu, tập trung vào các giấy tờ gần đây gần như hoàntoàn được viết trong thập kỷ qua Sự tập trung vào gần đây các bài báo được thúc đẩy bởimột thực tế rằng, bắt đầu từ đầu những năm 1990, nhiều quốc gia có thu nhập thấp cóthực hiện tự do hóa tài chính trong nước và cải cách sâu rộng, đã tự do hóa vốn tài khoản,
và đã làm thay đổi cơ chế tỷ giá hối đoái của mình Tất cả những thay đổi này có thể cókhả năng ảnh hưởng đến cơ chế truyền dẫn tiền tệ, do đó, các nghiên cứu dựa trên dữ liệugần đây hơn là khả năng được nhiều hơn thông tin về sức mạnh hiện tại của cơ chế này ởcác quốc gia cải cách Thật không may, điều này có nghĩa là rất nhiều các nghiên cứuđược xem xét vẫn chưa được công bố, nhằm tước chúng ta về một thiết bị lọc thuận tiện.Đại đa số các giấy tờ trong hoặc mẫu giấy làm việc, phần lớn đã được chuẩn bị bởi cácnhà nghiên cứu tại các ngân hàng trung ương và tổ chức tài chính quốc tế Vì những lý dogiải thích trong phần giới thiệu, chúng tôi kiểm tra các tài liệu được tổ chức bởi vùng địa
Trang 18lý Vì các nghiên cứu đa quốc gia có xu hướng áp dụng một phương pháp thống nhất trêntoàn các nước, họ đặc biệt thông tin về sự khác biệt giữa các quốc gia trong cơ chế truyềntiền tệ Theo đó, trong mỗi trường hợp chúng ta xem xét các nghiên cứu đa quốc gia đầutiên (nếu có) trước khi chuyển sang các ứng dụng riêng của từng nước.
Trang 19CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Quốc gia Châu Phi khu vực gần Sahara
Ngoại trừ Nam Phi, tất cả các nền kinh tế ở các quốc gia Châu Phi khu vực gần Sahara lànhững nước có thu nhập thấp Bảng 1 mô tả một số đặc điểm của các nền kinh tế có thểđược dự kiến sẽ ảnh hưởng đến các kênh truyền dẫn tiền tệ Cột 1 trình bày một tiêuchuẩn tiên tiến quốc gia cho những đặc điểm này, cột 2 trung bình cho tất cả LICs trongkhu vực, và các cột còn lại liên quan đến mỗi từng quốc gia trong khu vực mà chúng tôi
có những nghiên cứu có hệ thống về hiệu quả của cơ chế truyền dẫn tiền tệ Như Bảng 1cho thấy, trung bình các LICs ở các quốc gia Châu Phi khu vực gần Sahara thực chất là íthòa nhập với các thị trường tài chính quốc tế và dường như nó có khả năng can thiệp vàothị trường ngoại hối hơn là quốc gia tiên tiến điển hình, chính đặc điểm đó có xu hướnglàm giảm kênh tỷ giá hối đoái Họ cũng đã kém phát triển trái phiếu trong nước (không
có số liệu cho LICs trong khu vực này được nói đến) và thị trường chứng khoán, làmgiảm phạm vi cho các kênh lãi suất thông thường giống như các kênh tài sản tương ứng.Chuyển đến đặc điểm có liên quan đến các kênh ngân hàng cho vay, LICs trong khu vựcnày có khu vực tài chính chính thức nhỏ hơn rất nhiều, bao gồm cả các ngân hàng ngành,liên quan đến kích cỡ của các nền kinh tế của quốc gia đó hơn là so với các nước tiêntiến, hệ thống ngân hàng của họ ít cạnh tranh (các ngân hàng có biên lợi nhuận lớn hơn
và tỷ lệ tập trung cao hơn), và các ngân hàng của họ hoạt động trong một môi trường thểchế ít thuận lợi Tất cả những đặc điểm này làm cho ta đặt câu hỏi về sức mạnh và độ tincậy của các kênh ngân hàng cho vay
Phù hợp với những phát hiện này, một số tác giả đã lập luận rằng tầm quan trọng của cáckênh ngân hàng cho vay ở nhiều nước châu Phi gần khu vực Sahara bị giới hạn bởi kíchthước nhỏ và sự không hoàn hảo trong lĩnh vực tài chính Ví dụ, Sacerdoti (2005), lưu ýrằng các ngân hàng ở châu Phi có xu hướng mở rộng giới hạn của các khoản tín dụng chokhu vực tư nhân, kết quả của việc kém phát triển thể chế chính là để đối phó với nhữngrào cản thị trường tín dụng điều đó làm tăng chi phí của các trung gian tài chính Thayvào đó, các ngân hàng có xu hướng nắm giữ 30-50% tiền gửi của họ như là dự trữ trong
Trang 20các ngân hàng trung ương và trong các bằng tài sản ngắn hạn nước ngoài Đến mức mànhững xích mích thị trường tín dụng làm cho tiền gửi tại ngân hàng, trái phiếu chính phủtrung ương và chứng khoán nước ngoài thay thế gần gũi hơn so với các loại tài sản khác
là với tín dụng khu vực tư nhân, tình trạng này sẽ có xu hướng làm suy yếu cơ chế truyềndẫn thông qua các kênh ngân hàng cho vay Giả thuyết này được hỗ trợ bởi một số nghiêncứu kiểm tra sức mạnh của liên kết giữa chính sách lãi suất và mục tiêu vĩ mô cuối cùngtrong một loạt các quốc gia châu Phi Ví dụ, Saxegaard (2006), ước tính trong năm 2004
dự trữ dư thừa lên đến hơn 13% số tiền gửi trung bình trong hệ thống ngân hàng gần khuvực Sahara, phản ánh của các ngân hàng không sẵn sàng hoặc không có khả năng để chovay, và lập luận rằng tác động của chính sách tiền tệ trong tín dụng ngân hàng giống như
là bị giới hạn dưới những hoàn cảnh
Bảng 2 chỉ ra những kết quả của một số nghiên cứu VAR gần đây về sức mạnh của cơchế truyền dẫn tiền tệ nhiều nước châu Phi khu vực gần Sahara Hầu hết các nghiên cứu
sử dụng các chương trình đệ quy (hình A) Xác định được thực hiện cho các biến chínhsách của phương pháp tiếp cận Bernanke-Blinder - tức là, bằng cách giả định rằng cácbiến phi chính sách không phản ứng cùng một lúc đến các biến chính sách, nhưng saunày làm phản ứng với các biến phi chính sách - hoặc các phương pháp tiếp cận Peersman-SMETS, trong đó giả định rằng tiền tệ chính sách không có tác dụng cùng thời về cácbiến thông tin được sử dụng bởi các ngân hàng trung ương, nhưng có thể ảnh hưởng đếncác biến số khác đồng thời Hầu hết các nghiên cứu được liệt kê trong Bảng 2 được sửdụng lãi suất ngắn hạn như là chỉ số của quan điểm chính sách tiền tệ
Những nghiên cứu trong hình A của bảng 2 phần lớn tập trung vào các tác động của đổimới chính sách tiền tệ trên tổng cầu, trong các hình thức của các mức giá trong nước vàmức sản lượng thực tế, thay vì trên thử nghiệm các kênh cụ thể của cơ chế truyền dẫn.Không có nghiên cứu nào trong số những nghiên cứu tìm thấy lượng lớn bằng chứng rõràng và ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê của đổi mới chính sách tiền tệ trên cả tổngcầu chỉ số Nghiên cứu Cheng về Kenya (2006) là duy nhất trong việc tìm kiếm một tácđộng đáng kể về mặt thống kê của đổi mới chính sách tiền tệ về mức giá, nhưng anh takhông tìm thấy một hiệu ứng tương tự trên đầu ra