Kết quả: 128 bệnh nhân cắt đại tràng phải, 12 bệnh nhân cắt đại tràng ngang, 60 bệnh nhân cắt đại tràng trái, 56 bệnh nhân cắt đại tràng xích-ma, 44 bệnh nhân cắt đại tràng trước thấp và
Trang 1Y học thực hành (870) - số 5/2013 133
3 ảnh hưởng của chế phẩm Mecook lên cấu
trúc đại thể và vi thể của gan và thận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc vi thể gan thỏ
ở lô uống thuốc thử: Tế bào gan bình thường, không có
thoái hoá Có một số cầu thận xung huyết, ống thận ở
ống bài xuất có trụ albumin và trụ hạt Tổn thương này
không đặc hiệu, cũng thường gặp ở thỏ lô chứng
Như vậy, chế phẩm Mecook không gây tổn thương
rõ rệt cấu trúc vi thể gan, thận của thỏ Tuy vậy, trên
lâm sàng cần lưu ý theo dõi độc tính muộn của thuốc
đối với gan và thận
Kết luận
Chế phẩm Mecook với liều 0,12g/kg/ngày (tương
đương liều dùng cho người) và 1,2g/kg/ngày (gấp 10
lần so với liều dùng cho người) uống liên tục 4 tuần:
+ Tất cả các chỉ số theo dõi về chức năng gan
(hoạt độ ALT, AST, nồng độ Bilirubin, Protein) và chức
năng thận (Ure, Creatinin huyết thanh) đều nằm trong
giới hạn bình thường, không có sự khác biệt rõ rệt so
với lô chứng
+ Không gây tổn thương về mặt hình thái khi quan
sát đại thể các cơ quan và vi thể gan Tuy vậy, trên
cấu trúc vi thể của các thỏ uống thuốc thử, có một số thỏ có tổn thương nhẹ ở thận
Tài liệu tham khảo
1 Bộ Y tế (2002), Dược điển Việt Nam III, NXB y học,
tr 318 - 319; 328 - 329; 356; 365 - 366; 368 - 369; 375 - 376; 428 - 429; 432 - 433; 441 - 442; 443 - 444; 481; 501-
503
2 Bộ Y tế (1996), Hướng dẫn kèm theo quyết định số 371/BYT-QĐ ngày 12/3/1996 về xác định độ an toàn cho thuốc cổ truyền Bộ Y tế
3 Đỗ Tất Lợi (2003), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB khoa học và kỹ thuật, tr 36- 37; 55 - 59; 65 - 67; 217- 218; 222 - 223; 363 - 365; 372- 374; 384 - 385;
391 - 392; 811 - 813; 848 - 850; 887 - 889
4 Lý Phi Phương Tễ Học (quyển thượng) NXB Vệ sinh nhân dân, 2003: 868~874 (Tiếng Trung)
5 Phạm Viết Dự, Nghiên cứu độc tính cấp và ảnh hưởng của chế phẩm Mecook đối với trạng thái chung và chỉ số huyết học trên động vật thực nghiệm, Tạp chí Y học thực hành, (2013) số (711), Tr
6 Sarah wolfensohn et al (1998), Small Laboratory Animal, Hand book of Labolatory Animal Management and welfare 2nd Edition, pp 206-216
ĐáNH GIá KếT QUả PHẫU THUậT NộI SOI UNG THƯ ĐạI TRựC TRàNG
Lê Mạnh Hà, Phạm Xuân Vỹ TóM TắT
Mục đích: Đánh giá kết quả lâu dài phẫu thuật nội
soi trong ung thư đại trực tràng
Phương pháp: Từ tháng 1/2000 đến tháng 1/2012,
có 360 bệnh nhân ung thư đại trực tràng (208 nam,
152 nữ) đã được phẫu thuật tại Bệnh viện TW Huế
Kết quả: 128 bệnh nhân cắt đại tràng phải, 12 bệnh
nhân cắt đại tràng ngang, 60 bệnh nhân cắt đại tràng trái,
56 bệnh nhân cắt đại tràng xích-ma, 44 bệnh nhân cắt đại
tràng trước thấp và 64 bệnh nhân phẫu thuật Miles
Kết luận: Phẫu thuật nội soi đại trực tràng an toàn
và hiệu quả, thời gian nằm viện ngắn, tính thẩm mỹ
cao, ít đau sau mổ, thời gian bình phục ngắn
summary
Objective: To assess the indication and the long
term result of laparoscopic surgery for colorectal
cancer
Methods: From 1/2000 to 1/2012, 360 patients (208
men, 152 women) underwent colorectal resection
Result: 124 cases of right colectomy, 12 cases
transverse colon resection, 60 cases of left colectomy,
56 cases of sigmoidectomy, 44 cases of low anterior
resection and 64 cases of abdominoprineal resection
Conclusion: Rectal-colectomy laparoscopie is safe
and effective, shot time hospitalization, high cosmetic,
reduce pain postoperation, short recovertion
ĐặT VấN Đề
Ung thư đại trực tràng là loại ung thư thường gặp
của đường tiêu hóa, đứng hàng thứ ba trong các loại
ung thư nói chung và đứng hàng thứ hai trong ung thư
về đường tiêu hoá nói riêng (sau ung thư phổi và thư
dạ dày)
Tại Anh, tỷ lệ tử vong do ung thư đại tràng là 19.000 trường hợp/năm Tại Pháp, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 33.500 trường hợp/năm, tử vong do ung thư đại tràng khoảng 16.000 trường hợp /năm
ở nước ta ung thư đại trực tràng khá phổ biến, đứng hàng thứ năm sau ung thư dạ dày, phổi, vú, vòm họng, hiếm gặp ở tuổi dưới 40, nhiều nhất ở độ tuổi từ 50-60 Hay gặp ở nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ 1/1.5 Ung thư trực tràng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong ung thư đại trực tràng, khoảng 30-40%
Điều trị ung thư đại trực tràng chủ yếu bằng phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật triệt căn (cắt bỏ khối u và vét hạch) Vào năm 1991, M Jacobs đã tiến hành cắt
đại tràng bằng phẫu thuật nội soi, từ đó vai trò của phẫu thuật nội soi đã có những bước phát triển quan trọng trong phẫu thuật đại trực tràng Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, và thành thạo kỹ năng của kỹ thuật viên và phẫu thuật viên ngày càng tốt hơn nên chỉ định phẫu thuật nội soi cho ung đại trực tràng ngày càng
được mở rộng, kể cả giai đoạn T4 Tỷ lệ sống 5 năm sau mổ trung bình là 50% tính chung cho các loại, do
đó việc chẩn đoán sớm và điều trị triệt để ung thư đại trực tràng có ý nghĩa rất lớn, góp phần làm tăng tỷ lệ sống sau mổ
Phẫu thuật nội soi với những ưu điểm như đau sau
mổ ít hơn, lưu thông ruột trở lại sớm, ít nguy cơ dính tắc ruột sau mổ, ít nhiễm trùng vết mổ, thời gian nằm viện ngắn hơn, hồi phục nhanh sau mổ, có tính thẩm mỹ cao so với phẫu thuật hở truyền thống nên phẫu thuật nội soi ngày càng được áp dụng rộng rãi trên thế giới
Trang 2Y học thực hành (870) - số 5/2013 134
Tại Việt Nam nhiều trung tâm đã thực hiện phẫu thuật
nội soi điều trị ung thư đại trực tràng
Tháng 1 năm 2000, Bệnh viện Trung ương Huế đã
thực hiện cắt đại trực tràng do ung thư bằng phẫu thuật
nội soi thành công, và cho đến nay kỹ thuật này đã
được thực hiện thường xuyên với nhiều kết quả khả
quan
Năm 2002, bệnh viện Việt Đức đã triển khai phẫu
thuật nội soi đại trực tràng Theo Hà Văn Quyết và
cộng sự trong 20 trường hợp ung thư biểu mô tuyến
được phẫu thuật 2002-2004 không có trường hợp nào
tử vong
Năm 2003, Nguyễn Hoàng Bắc và cộng sự báo cáo
73 trường hợp cắt đại trực tràng nội soi trong có 66
trường hợp là ung thư, chuyển mổ hở là 2 trường hợp,
và đã có nhiều báo về phẫu thuật nội soi ung thư đại
trực tràng có giá trị trong các hội nghị gần đây
Để góp phần đánh giá những ưu nhược điểm của
phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư đại trực tràng,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả sớm phẫu
thuật nội soi điều trị ung thư đại trực tràng” nhằm
nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của
ung thư đại trực tràng và qua đó đưa ra chỉ định về khả
năng phẫu thuật nội soi
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 360 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đại
trực tràng dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng, được
phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng và nạo vét hạch tại
Bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 1 năm 2000 đến
tháng 1 năm 2012, gồm 128 bệnh nhân ung thư đại
tràng phải, 12 bệnh nhân ung thư đại tràng ngang, 116
bệnh nhân ung thư đại tràng trái, 108 bệnh nhân ung
thư trực tràng
1.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định là ung thư
đại trực tràng dựa vào kết quả nội soi và sinh thiết,
chẩn đoán được khẳng định bằng kết quả giải phẫu
bệnh lý khối u đại trực tràng trước và sau mổ
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Điều trị ung thư đại trực tràng bằng phẫu thuật tạm
thời, phẫu thuật hở
Các chống chỉ định của phẫu thuật nội soi
Những bệnh nhân cắt toàn bộ đại trực tràng để điều
trị dự phòng ung thư trong những bệnh lý đại trực tràng
2 Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu, mô tả, cắt ngang
3 Đặc điểm nghiên cứu
Tuổi, giới
Vị trí khối u: Dựa vào nội soi đại trực tràng, CT
scan, quan sát trong mổ
Biến chứng khối u: Tắc ruột, áp- xe quanh khối u,
thủng đại trực tràng
Phương pháp phẫu thuật nội soi: Cắt đại tràng phải,
cắt đại tràng ngang, cắt đại tràng trái, cắt đại tràng xích
-ma, cắt đại tràng trước thấp và phẫu thuật Miles
Số lượng trô-ca
Tỷ lệ chuyển sang mổ hở
Tai biến trong mổ: Đứt niệu quản, thủng tá tràng,
thủng ruột, vỡ lách, chảy máu
Thời gian nằm viện sau mổ
Tử vong phẫu thuật (trong vòng 1 tháng sau mổ) KếT QUả NGHIÊN CứU
1 Tuổi và giới
Tuổi trung bình: 54,1 tuổi, tuổi nhỏ nhất 21, tuổi lớn nhất 84
Nam giới 208 bệnh, chiếm 57,8% Nữ giới 152 bệnh, chiếm 42,2%
2 Vị trí khối u: Bảng 1
*Ung thư ở các vị trí đại tràng lên, đại tràng
xích-ma, trực tràng dưới chiếm tỷ lệ cao
3 Giá trị của chất chỉ điểm ung thư: Bảng 2
2,5-5 5-10 >10 <37 >37
21,1% 6,7% 72,2% 84,4% 15,6% 100%
*Đa số bệnh nhân ung thư có chất chỉ điểm ung thư CEA tăng cao trên 10ng/ml, chiếm tỷ lệ 72,2% và có CA19.9 tăng trên 37ng/ml là 15,6%
4 Biến chứng của khối u: Bảng 3
Tắc ruột không hoàn toàn 196 54,5
* Đa số bệnh nhân vào viện ở giai đoạn tắc ruột không hoàn toàn hoặc hoàn toàn, chiếm tỷ lệ cao
5 Phương pháp phẫu thuật: Bảng 4 Phương pháp phẫu thuật N Tỷ lệ %
Cắt đại tràng trước thấp 44 12,2
* Có 28(7,7%) bệnh nhân phải chuyển sang mổ hở gồm:
6(1,6%) bệnh nhân ung thư trực tràng (2 do khối u lớn và 4 bệnh nhân phẫu thuật Miles bị chảy máu.) 22(6,1%) bệnh nhân có khối u xâm lấn rộng (gồm
đại tràng phải, trái và xích -ma)
6 Các tai biến trong mổ:
4(1,1%) trường hợp thủng tá tràng do u đại tràng góc gan xâm lấn tá tràng
Trang 3Y học thực hành (870) - số 5/2013 135
2(0,5%) trường hợp đứt niệu quản trái trong phẫu
thuật cắt đại tràng xích- ma
4(1,1%) trường chảy máu trong phẫu thuật Miles
Không gặp các tai biến khác(vỡ lách, thủng ruột, tử
vong trong mổ )
7 Giai đoạn bệnh theo TMN: Bảng 5
8 Phân chia giai đoạn bệnh theo T,N,M theo AJCC (2004): Bảng 6
G Đ 3 T bất kỳ N1 hoặc N2,N3 M0 88
9 Đánh giá sau mổ
Đánh giá trong thời gian bệnh nhân còn nằm viện: 2(0,5%) trường hợp chảy máu từ bó mạch đại tràng xích-ma sau mổ sau phẫu thuật Miles 6 giờ và phải mổ lại, 2(0,5%) trường hợp dò miệng nối đại tràng - trực tràng thấp, miệng nối được thực hiện bằng EEA, sau
đó tự bít, 6(1,6%) bệnh nhân nhiễm trùng quanh miệng hậu môn nhân tạo, được chăm sóc tại chỗ, phần lớn bệnh nhân trung tiện sớm trong vòng 48h, đau ít sau
mổ, bình phục nhanh sau mổ Không có bệnh nhân nào bị tắc ruột hoặc tử vong sau mổ Thời gian nằm viện trung bình khoảng 8,4 ngày, thấp nhất là 6 ngày, cao nhất là18 ngày
Một số hình ảnh
BàN LUậN
Trong 180 bệnh nhân ung thư đại trực tràng, chúng
tôi gặp ở lứa tuổi trung niên và người lớn tuổi, tuổi trung
bình 54,1 tuổi, không có sự khác biệt về giới tính, phù
hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài
nước[1],[3],[4],[10]
Ung thư đại trực tràng có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí
nào, tùy vào vị trí của u mà có các biểu hiện lâm sàng
khác nhau, quan trọng nhất là thay đổi thói quen đại
tiện, rối loạn tiêu hóa, chảy máu tươi hoặc máu đen
thẩm, chất nhầy, máu cục nhỏ, mót rặn Đồng thời tùy
vào giai đoại của bệnh mà chúng ta có thể gặp trên
lâm sàng nhiều hình thái biến chứng của khối u khác
nhau như tắc ruột, áp-xe quanh u, thủng đại
tràng.Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy vị trí
khối u gặp ở trực tràng thấp, đại tràng xích-ma, đại
tràng lên chiếm tỷ lệ cao (15,6%) (bảng 1), và ung thư
gặp ở trực tràng chiếm xấp xỉ 30% toàn bộ ung thư đại
trực tràng, điều này phù hợp với một số tác giả
[3],[4],[10]
Kháng nguyên ung thư bào thai (CEA) huyết thanh
tăng không đặc hiệu cho ung thư đại trực tràng, mức
tăng cao bất thường của CEA còn tìm thấy trong huyết
thanh của bệnh nhân bị ung thư dường tiêu hóa khác,
những ung thư không thuộc ống tiêu hóa và khá nhiều bệnh lành tính khác nhau Khoảng 70% bệnh nhân ung thư đại trực tràng có mức CEA cao, (bảng 2) cho thấy 72,2% bệnh nhân có CEA cao trên 10ng/ml phù hợp, được xem là bệnh lý Ngoài ra CEA còn để theo dõi tái phát sau mổ, nếu sau mổ CEA về tị số bình thường, rồi sau một thời gian tăng trở lại thì chắc chắn
để nói rằng u tái phát Chúng tôi ghi nhân được CA19.9 tăng cao ở những bệnh nhân có u ác tính, đa số biểu hiện ở những bệnh nhân có di căn trong nghiên cứu này
Phần lớn bệnh nhân vào viện bối cảnh tắc ruột không hoàn toàn (196 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 54,5%)(bảng 3) nên việc thực hiện phẫu thuật nội soi tương đối dễ dàng, thành công cao Những trường hợp
u đã gây biến chứng như tắc ruột, áp-xe quanh khối u, hay thủng khối u gây viêm phúc mạc thì phẫu thuật nội soi thường gặp khó khăn, thời gian mổ kéo dài hoặc là thất bại phải chuyển sang mổ hở Những trường hợp khác khối u lớn, dính sang các tạng lân cận hoặc di căn hạch thì phẫu thuật nội soi không đảm bảo nguyên tắc phẫu tích rộng rãi trong ung thư học hoặc làm tăng nguy cơ tai biến thì nên mổ hở, hay phối hợp phẫu thuật nội soi có bàn tay hỗ trợ.Phần lớn trong báo cáo
Trang 4Y học thực hành (870) - số 5/2013 136
của chúng tôi gặp bệnh nhân ở giai đoạn I, II và giai
đoạn III (bảng 6) Một số trường hợp giai đoạn T4 vẫn
phẫu thuật nội soi thành công, nhưng có nhiều khó
khăn, cho nên nhiều tác giả khuyên nên phẫu thuật nội
soi khi u chưa có biến chứng, kích thước khối u không
quá lớn và tốt nhất đối với u ở giai đoạn T3,
Cắt đại trực tràng nội soi trong ung thư trước đây
vẫn còn thảo luận nhiều, kể từ năm 1991 Jacobs tiến
hành ca cắt đại tràng phải bằng phẫu thuật nội soi đầu
tiên trên thế giới, đã có nhiều báo cáo ngày càng tăng
dần Schlacta và cộng sự năm 1991, J.J Tuech và
cộng sự năm 1993, Wexner và cộng sự 1996, Psaila
và cộng sự 1998 Các tác giả đều nhận định đây là kỹ
thuật có thể áp dụng rộng rãi với độ an toàn cao cho
mọi đối tượng bệnh nhân, nó có đầy đủ ưu thế của
phẫu thuật nội soi mà không cần bận tâm đến các yếu
tố ác tính, đặc biệt là di căn ở lỗ trô-ca và hạn chế kết
quả điều trị ung thư Báo cáo của Wexner và cộng sự
năm 1996 về biến chứng ung thư phát triển tại lỗ trô-
ca sau phẫu thuật ung thư đại tràng là 5,1%, còn theo
Khalili nhận thấy di căn lỗ trô-ca lên đến 21% trong mổ
nội soi so với mổ hở chỉ là 0,6-2,5% Một số nghiên
cứu khác khả quan hơn, Psaila theo dõi sau 28 tháng
cả hai nhóm mổ hở và mổ nội soi đều ghi nhận không
có di căn tại vết mổ Theo Young tỷ lệ di căn tại vết mổ
nội soi là17% tái phát sau 44 tháng theo dõi sau mổ,
trong đó duy nhất một trường hợp di căn lổ trô-ca Do
đó, nhiều tác giả đã đề ra một số quy tắc chính khi cắt
đại trực tràng nội soi trong ung thư: Cố định chặt các
trô-ca vào thành bụng(chúng tôi thường dùng từ 3 đến
4 trô-ca tùy loại phẫu thuật), tránh chạm vào u, thắt
chặt các mạch máu, rửa trong mổ cả bên trong lẫn bên
ngoài bằng dung dịch Betadin 5%, rửa vết mổ và các
lổ trô-ca bằng dung dịch diệt u Đồng thời sự nhuần
nhuyễn về nội soi đã làm cho tỷ lệ di căn lổ trô-ca, tỷ lệ
tái phát tại chỗ sau mổ cũng như tỷ lệ di căn trong
phúc mạc giảm hẳn một cách có ý nghĩa trong các
nghiên cứu gần đây[10]
Nghiên cứu của chúng tôi có 28 bệnh nhân chuyển
sang mổ hở (7,7%), trong đó 24 trường hợp (gồm các
ung thư đại tràng phải, trái, xích-ma và 1ung thư trực
tràng) khi nội soi vào được đánh giá là khối u xâm lấn
rộng, không đảm bảo nguyên tắc nên phải chủ động
chuyển sang mổ hở để đảm bảo an toàn và hiệu quả
về ung thư học, chỉ có 4 trường hợp (1,1%) phẫu thuật
Miles nội soi do tổn thương đám rối tĩnh mạch mặt
trước xương cùng bị chảy máu nhiều không xử lý cầm
máu được nên chuyển sang mổ hở để cầm máu Để
hạn chế chuyển sang mổ hở, chúng tôi đánh giá kỹ về
mặt lâm sàng, làm các xét nghiệm về hình ảnh học
nhằm chọn những bệnh nhân có giai đoạn bệnh (<T4)
mà dễ dàng chỉ định phẫu thuật nội soi thành công, an
toàn và hiệu quả.[3],[4],[10]
Trường hợp tai biến đứt niệu quản trái trong mổ
(0,5%) ở 2 bệnh nhân ung thư đại tràng xích-ma do
khối u phát triển xâm lấn mặt sau, do không khảo sát
tốt nên trong quá trình phẫu tích đã làm tổn thương
niệu quản trái, được xử trí đặt xông jj niệu quản Tỷ lệ
tai biến khá thấp, không có tai biến nặng hoặc tử vong
trong và sau mổ
Chúng tôi gặp 2 trường hợp (0,5%) chảy máu do bị sút clíp ở nhánh nhỏ từ bó mạch đại tràng xích-ma sau phẫu thuật Miles nội soi, nên phải mổ hở để cầm máu,
và các trường hợp nhiễm trùng ở quanh miệng hậu môn nhân tạo thì chỉ cần săn sóc, làm vệ sinh tại chỗ, tất cả sau này đều lành vết thương ở bệnh nhân phẫu thuật cắt đại tràng trước thấp, nối đại tràng- trực tràng thấp bằng EEA, dò dịch tiêu hóa qua ống xông dẫn lưu
ổ bụng, sau đó một thời gian khoảng 18 ngày hết dò
Tỷ lệ biến chứng thấp, không ảnh hưởng nhiều về sức khỏe, không có trường hợp nào tử vong, tất cả bệnh nhân hồi phục sớm sau mổ, nằm viện ngắn ngày, giảm chi phí kinh tế Đây là những ưu điểm đã được nhiều tác giả ghi nhận
KếT LUậN Ung thư đại trực tràng thường gặp ở lứa tuổi từ
50-60 tuổi Phẫu thuật nội soi thực hiện có hiệu quả nhất ở giai đoạn <T4 Có tính thẩm mỹ cao, thời gian nằm viện ngắn, hồi phục nhanh sau mổ, độ an toàn cao,
đảm bảo tốt về mặt ung thư học, tỷ lệ tai biến trong
mổ, biến chứng sau mổ thấp Tuy nhiên cần có những nghiên cứu dài hơn để đánh giá thời gian sống sau mổ,
tỷ lệ tái phát và di căn, để khẳng định giá trị của phẫu thuật nội soi trong ung thư đại trực tràng
TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Hoàng Bắc, Phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng, Hội thảo chuyên đề hậu môn trực tràng TP HCM, tr: 160-165
2.Trần Bình Giang, Tôn Thất Bách (2003), Phẫu thuật nội soi ổ bụng, Nhà xuất bản y học
3 Trần Minh Hoàng, Lê Quang Nghĩa, Kết quả sớm của phẫu thuật cắt trước thấp trong điều trị ung thư trực tràng Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh 2008, số 4, tr 62
- 70
4 Nguyễn Quang Thái, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Nam Thắng, Nghiên cứu kết quả phẫu thuật nội soi
điều trị ung thư đại tràng tại bệnh viện K Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh 2008, số 4, tr 71-75
5 Phạm Như Hiệp, Lê Lộc (2006), Phẫu thuật nội soi trong ung thư đại tràngtại Bệnh viện Trung ương Huế, Tạp chí y học Việt Nam, tr: 20-28
6 Võ Tấn Long (2004), Điều trị ngoại khoa ung thư
đại trực tràng, Nhà xuất bản y học, tr: 139-151
7 Hoàng Văn Vinh (2008), Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt đoạn đại tràng có mở bụng tối thiểu trong điều trị ung thư đại tràng, Luận án chuyên khoa cấp 2, Đại học Y Dược Huế
8 Nguyễn Văn Xuyên (2008), Một số đặc điểm lâm sàng,cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật 135 bệnh nhân ung thư đại tràng trái, Tạp chí y học thực hành, số 4, tr: 94-97
9 Basse L, Hjort Jakobsen D, Bardram L, et al., Functional recovery after open versus laparoscopic colonic resection, A randomized, blinded study Ann Surg 2005;241:416-423
10 Boulez J, Chirurgie du cancer colo-rectal par voie coelioscopique, Surgery of colorectal cancer by laparoscopic approach (Fre) Ann Chir 1996;
50:219-230