Là một giáo viên đang trực tiếp dạy môn Tin học 8 ở trường THCS được chứng kiến thực trạng việc dạy và học bộ môn này nên tôi cũng rất trăn trở và đã tìm nhiều biện pháp để lôi cuốn các
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG HÀ
TRƯỜNG THCS KỲ ĐỒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Vận dụng gợi động cơ hoạt động trong dạy học cấu trúc rẽ nhánh
Giáo viên: Bùi Thị Tin Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Tin Chức vụ: Tổ phó
Tổ: Khoa học tự nhiên Trường: THCS Kỳ Đồng
Hưng Hà, tháng 10 năm 2014
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN
Ngày nay, công nghệ thông tin có ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ các lĩnh vực trong cuộc sống và trên toàn thế giới Dù muốn hay không thì tất cả chúng
ta đều phải công nhận là như vậy Đó là một ngành ra đời muộn nhưng lại phát triển vô cùng mạnh mẽ hơn tất cả các ngành khác và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực còn lại Trong đó không loại trừ ngành giáo dục Phải nói rằng để có một người xuất sắc trong lĩnh vực tin học người đó phải được đào tạo từ khi còn
ở trên ghế nhà trường Và môn tin học đã được đưa vào trường học nước ta như
là một điều tất yếu.
Sự bùng nổ CNTT đã tác động lớn đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội người Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học
và CNTT, truyền thông cũng như những yêu cầu đẩy mạnh của ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng - thế giới nói chung
Tuy nhiên, môn Tin học được đưa vào dạy học ở lớp 8 THCS với nội dung trọng tâm là Lập trình đơn giản và khai thác phần mềm học tập Là môn học mới, Tin học đến nay chưa có hệ thống phương pháp dạy học mang đặc điểm riêng của bộ môn giống như các môn học truyền thống khác Mặt khác phần lập trình được đưa vào vừa mới, vừa lạ, vừa khó đối với HS lớp 8 Thông thường, mới đầu các em thấy sợ khi bắt tay vào tìm hiểu về ngôn ngữ lập trình, khả năng phân tích, tổng hợp không được phát huy Học bài theo hình thức thuộc lòng, kỹ năng vận dụng, sáng tạo hạn chế Trong giờ học thường ỷ lại cho giáo viên, ngại tham gia phát biểu ý kiến Giờ học trở lên nặng nề và căng thẳng với cả giáo viên và học sinh
Là một giáo viên đang trực tiếp dạy môn Tin học 8 ở trường THCS được chứng kiến thực trạng việc dạy và học bộ môn này nên tôi cũng rất trăn trở và đã tìm nhiều biện pháp để lôi cuốn các em học sinh ham thích môn Tin học lập trình Dù đã cố gắng vận dụng nhiều phương pháp mới trong việc dạy học đã tìm hiểu trên sách báo, trên mạng cũng như học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp nhưng đa số học sinh vẫn tỏ ra chưa thật hứng thú Cách đây ba năm, tôi
đã gặp được thầy PGS.TS Lê Khắc Thành trong môn học Phương pháp giảng dạy và được tiếp cận với cuốn sách “Phương pháp dạy học chuyên ngành Tin học” Từ đó tôi say sưa nghiên cứu, tìm hiểu và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với bộ môn mình giảng dạy trong đó có các hoạt động dạy học như:
Trang 3Nhận dạng và thể hiện, phân bậc hoạt động, gợi động cơ vào dạy học lập trình.Trong các hoạt động đã vận dụng thì “Gợi động cơ” là hoạt động tôi sử dụng thường xuyên và xuyên suốt trong các bài học lập trình Tôi thấy rằng đây chính là một trong những phương pháp dạy học ưu việt nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn Tin học lập trình ở trường THCS Tôi đã mạnh dạn áp dụng vào giảng dạy và qua thời gian đã thấy hiệu quả đáng khích lệ
Từ thực tiễn đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài sau đây làm sáng kiến kinh nghiệm để chia sẻ cùng với đồng nghiệp cùng bộ môn Trong các nội dung lựa chọn và áp dụng tôi thấy tâm đắc nhất là nội dung dạy học Cấu trúc rẽ nhánh
trong phần Lập trình đơn giản -Tin học 8, đây là lí do để tôi chọn đề tài: “Vận dụng gợi động cơ hoạt động trong dạy học cấu trúc rẽ nhánh ”.
II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Mục đích nghiên cứu
Tạo động cơ cho học sinh ý thức về ý nghĩa của các hoạt động khi sử
dụng Cấu trúc rẽ nhánh trong công việc lập trình Từ đó, học sinh có thể liên
hệ , vận dụng sáng tạo vào giải quyết các bài toán lập trình và các tình huống thực tế.
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu các vấn đề về Cấu trúc rẽ nhánh của ngôn ngữ lập
trình Pascal - Tin học 8, các tài liệu về phương pháp giảng dạy Từ đó, đưa ra các biện pháp có thể gợi động cơ hoạt động cho học sinh thông qua các ví dụ cụ
thể về Cấu trúc rẽ nhánh
3 Đối tượng nghiên cứu
Do xuất phát từ thực tế dạy và học môn Tin học 8 của trường tôi nên đề tài này tôi chỉ nghiên cứu giới hạn ở học sinh khối lớp8 trường THCS Kỳ Đồng.
III TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Việc học tập, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải
có ý thức về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt mục tiêu đó Điều này được thực hiện trong dạy học
không chỉ đơn giản bằng việc nêu mục tiêu mà quan trong hơn còn do gợi động
cơ.
Gợi động cơ là làm cho học sinh có ý thức về ý nghĩa của những hoạt
động và của đối tượng hoạt động Gợi động cơ nhằm làm cho những mục tiêu sư phạm biến thành những mục tiêu của cá nhân học sinh, chứ không phải là sự vào bài, đặt vấn đề một cách hình thức.
Ở những lớp dưới, các thầy (cô) giáo thường dùng một số cách như cho điểm, khen chê, thông báo kết quả học tập của học sinh cho gia đình, để gợi động cơ Càng lên cao, cùng với sự trưởng thành của học sinh, với trình độ nhận thức và giác ngộ chính trị ngày càng được nâng cao, những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung hướng vào những nhu cầu nhận thức, nhu cầu của đời sống, trách nhiệm đối với xã hội ngày càng trở lên quan trọng.
Gợi động cơ không phải chỉ là việc làm ngắn ngủi lúc bắt đầu dạy một tri thức nào đó (thường là một bài học), mà phải xuyên suốt quá trình dạy học Vì vậy, có thể phân biệt gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian và gợi động
cơ kết thúc Sau đây là những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung môn Tin học theo từng giai đoạn như sau:
.1.GỢI ĐỘNG CƠ MỞ ĐẦU
Có thể gợi động cơ mở đầu xuất phát từ thực tế hoặc nội bộ môn Tin học + Khi gợi động cơ mở đầu xuất phát từ thực tế, có thể nêu lên:
- Thực tế gần gũi xung quanh học sinh,
- Thực tế xã hội rộng lớn (kinh tế, kĩ thuật, quốc phòng, )
- Thực tế những môn học và khoa học khác
Trong việc gợi động cơ xuất phát từ thực tế, ta cần chú ý đến những điều kiện sau:
- Vấn đề đặt ra cần đảm bảo tính chân thực
- Việc nêu vấn đề không đòi hỏi quá nhiều tri thức bổ sung;
- Con đường từ lúc nêu vấn đề đến lúc giải quyết vấn đề càng ngắn càng tốt
Việc xuất phát từ thực tế không những có tác dụng gợi động cơ mà còn góp phần hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Nhờ đó, học sinh nhận thức rõ và cải tạo thế giới quan duy vật biện chứng Nhờ đó, học sinh nhận thức
rõ việc nhận thức và cải tạo thế giới đã đòi hỏi phải suy nghĩ và giải quyết vấn
Trang 5đề Tin học như thế nào, tức là nhận thức rõ Tin học bắt nguồn từ những nhu cầu của đời sống thực tế Vì vậy, cần khai thác triệt để gợi động cơ xuất phát từ thực
tế, đương nhiên phải chú ý những các điều kiện đã nêu ở trên.
Tuy nhiên,Tin học phản ánh thực tế một cách toàn bộ và nhiều tầng, do đó không phải bất cứ nội dung nào, hoạt động nào cũng có thể được gợi động cơ xuất phát từ nội bộ Tin học.
+ Gợi động cơ từ nội bộ môn Tin học là nêu một vấn đề Tin học xuất phát
từ nhu cầu Tin học, từ việc xây dựng khoa học Tin học, từ những phương thức
tư duy và hoạt động Tin học Gợi động cơ theo cách này là cần thiết vì hai lẽ
Thứ nhất, như đã nêu ở trên,việc gợi động cơ từ thực tế không phải bao giờ cũng thực hiện được.
Thứ hai, nhờ gợi động cơ nội bộ Tin học, học sinh hình dung được đúng
sự hình thành và phát triển của Tin học cùng với đặc điểm của nó và có thể dần dần tiến tới hoạt động Tin học một cách độc lập.
Thông thường khi bắt đầu một nội dung lớn, một phân môn hay một chương, ta nên cố gắng gợi động cơ xuất phát từ thực tế Còn đối với những bài hay từng phần của bài thì cần tính tới những khả năng gợi động cơ từ nội bộ Tin học mà những cách thông thường là:
- Đáp ứng nhu cầu loại bỏ một sự hạn chế
- Hướng tới sự tiện lợi, hợp lí hóa công việc
- Chính xác hóa một khái niệm
- Hướng tới sự hoàn chỉnh của hệ thống
- Lật ngược vấn đề
- Xét tương tự
- Khái quát hóa
- Tìm sự liên hệ phụ thuộc
a Đáp ứng nhu cầu xóa bỏ một hạn chế.
Ví dụ, chẳng hạn do việc phải duyệt đi duyệt lại các giá trị của các biến cùng kiểu để lưu trữ nhiều biến cùng kiểu và xử lý chúng theo một vòng lặp nào
đó ta đưa vào dạng dữ liệu có cấu trúc mảng.
b Hướng tới sự tiện lợi, hợp lý hóa công việc.
Ví dụ:
Viết chương trình cho máy tính nhận vào một dãy có N phần tử là những nguyên không âm Hãy viết ra màn hình tất cả các phần tử của dãy lớn hơn tất
cả các phần tử trước nó.
Để làm bài này học sinh khai báo mảng M có N phần tử là số nguyên không âm Sau khi nhận vào các phần tử của mảng M, các em dùng 2 vòng lặp
Trang 6For lồng nhau và dùng kỹ thuật đánh dấu để viết ra màn hình tất cả các phần tử của dãy lớn hơn tất cả các phần tử đứng trước nó
c.Chính xác hóa một khái niệm:
Có những khái niệm mà học sinh đã biết ở từng bài riêng lẻ chưa thể đưa
ra ngày những nhận xét, những kết luận chính xác liên quan đến khái niệm đó, tới một thời điểm nào đó có đủ điều kiện thì giáo viên gợi lại vấn đề và giúp học sinh chính xác hóa khái niệm đó.
d Hướng tới sự hoàn chỉnh về hệ thống
Trước khi dạy một chương trình hoặc một phần mà có nhiều kiến thức liên quan với nhau, giáo viên có thể trình bày sơ đồ liên hệ giữa các kiến thức sẽ học
để học sinh có cái nhìn tổng quan hệ thống những kiến thức mà họ sắp được học Ví dụ khi dạy học sinh về in ấn trang giấy thì giáo viên phải cho học sinh xem văn bản sẽ được in ra sau khi đã hoàn chỉnh việc trình bày (văn bản đã được giáo viên chuẩn bị trước ở nhà).
e Lật ngược vấn đề
Sau khi đã giải quyết được một vấn đề, một câu hỏi tự nhiên thường được đặt ra là vấn đề ngược lại sẽ giải quyết như thế nào? Chính những câu hỏi này được thầy giáo và học sinh cùng suy nghĩ và đưa ra cách giải quyết thì kiến thức
sẽ được học sinh khắc sâu hơn.
f Xét tương tự
Khi dạy đến vấn đề xét tương tự trong việc gợi động cơ giảng dạy mảng một chiều trước tiên ta phải làm rõ được vấn đề cần làm sáng tỏ với học sinh, có nghĩa là đưa ra một bài toán cho học sinh làm, khi làm xong thì giáo viên cần có những liên hệ móc nối với bài toán khác để tạo cho học sinh suy nghĩ có tính tư duy lô gíc.
g Khái quát hóa
Ví dụ: Sau khi học sinh biết tính chu vi tam giác khi cho máy tính nhận vào tọa độ của ba đỉnh trong mặt phẳng, ta phải khái quát lên tính độ dài cuả đường gấp khúc lần lượt nối từ điểm thứ nhất đến điểm N khi cho máy tính nhận vào tọa độ của N điểm trong mặt phẳng.Vấn đề ở bài toán này là học sinh phải
tổ chức dữ liệu để lưu N điểm.
h Tìm sự liên hệ phụ thuộc
Khi gợi động cơ trong việc giảng dạy mảng một chiều, cụ thể là khi dạy học sinh về một kiến thức hay một bài tập nào đó giáo viên tìm được sự liên hệ
và phụ thuộc móc xích thì học sinh sẽ tích cực tìm tòi suy nghĩ liên hệ với phần kiến thức đã học, khi đó học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức mới.
Trang 72 GỢI ĐỘNG CƠ TRUNG GIAN
Gợi động cơ trung gian là gợi động cơ cho những bước trung gian hoặc cho những hoạt động tiến hành trong những bước đó để đạt được mục tiêu Gợi động cơ trung gian có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển năng lực độc lập giải quyết vấn đề Sau đây là những cách thường dùng để gợi động cơ trung gian:
- Hướng đích cho học sinh:
- Quy lạ về quen
- Xét tương tự.
- Khái quát hóa.
- Xét sự biến thiên và phụ thuộc.
a Hướng đích cho học sinh:
Hướng đích cho học sinh là hướng vào những mục tiêu đặt ra, vào hiệu quả dự kiến của những hoạt động của họ nhằm đạt những mục tiêu đó.
Hướng đích là làm sao cho đối với tất cả những gì học sinh nói và làm, các em đều biết rằng những cái đó nhằm mục tiêu gì trong quá trình tìm hiểu và
mô tả con đường đi tới đích, luôn biết hướng tới những quyết định và hoạt động của mình vào mục đích đã đặt ra.
b Quy lạ về quen.
Gợi động cơ trung gian với các quy lạ về quen là một yếu tố quan trọng vì khi đưa vấn đề mới nào đó dựa trên cơ sở của kiến thức đã học để học sinh có suy nghĩ lô gic và cuối cùng là đưa được vấn đề mới này về dạng quen thuộc để học sinh nhận dạng Khi đó kiến thức mới này sẽ được học sinh tiếp thu một cách dễ dàng
c Xét tương tự
Giáo viên cần cho học sinh hiểu được : Kiến thức bài trước là cơ sở cho bài sau, kiến thức chương trước là cơ sở, bàn đạp đẻ học sinh tìm tòi kiến thức chương sau.
d Khái quát hóa
Ví dụ
Cho mảng A gồm N nguyên số (n<=100), mỗi số theo trị tuyệt đối không vượt quá 300 Tính tổng các phần tử của mảng là một nguyên k cho trước.
Ta cần kiểm tra từng phần tử của mảng để quyết định có cộng tích lũy hay không Do đó ta dùng vòng For to to
Để giải bài toán gán cho S:=0 khi đó:
For i:= 1 to n do If A[i] mod k=0 then S:=S+A[i] câu lệnh S: =S + A [i] thực hiện bao nhiêu lần tùy theo mảng A có bao nhiêu phần tử thỏa mãn điều kiện là bội của số cho trước, số này được lưu trữ bởi biến k.
Trang 84 Xét sự biến thiên và phụ thuộc.
Ví dụ:
Viết chương trình tìm phần tử có giá trị lớn nhất của mảng và đưa ra màn hình chỉ số và giá trị của phần tử tìm được Nếu có nhiều phần tử có cùnh giá trị lớn nhất thì đưa ra phần tử với chỉ số nhỏ nhất
Để giải bài toán trước tiên ta khai báo 1 mảng 1 chiều gồm N phần tử là các số nguyên sau khi khai báo biến ta dùng vòng lặp For to do để duyệt từng phần tử của mảng, dùng câu lệnh if then để kiểm tra phần tử thứ i của mảng, và lưu chữ chỉ số i của phần tử này trong biến j.
Tại bước lặp thứ i trong câu lệnh for to do, phần tửA[i] được so sánh với A[i] nghĩa là so sánh vói phần tử lớn nhất tìm được trong phạm vi các phần
tử đã được duyệt qua ở trước bước này (từ phần tử lớn nhất đến phần tử thứ i-1).
So sánh đó được thực hiện để tìm phần tử lớn nhất trong phạm vi có thêm A[i] Như vậy, ở bước lặp thứ i, biến j luôn lưu trữ chỉ số của phần tử lớn nhất đã tìm được trong phạm vi A[1] đến A[i] Bởi vậy khi thực hiện song câu lệnh for
to do, giá trị của biến chính là số phần tử lớn nhất tìm được.
3 GỢI ĐỘNG CƠ KẾT THÚC
Cách này thường được áp dụng khi ngay từ đầu GV chưa thể làm rõ được tại sao lại học nội dung này, tại sao lại thực hiện hoạt động kia Những câu hỏi này về sau mới được giải đáp hoặc giải đáp trọn vẹn Cách gợi động cơ trong tình huống như thế là gợi động cơ kết thúc Trong nhiều trường hợp, gợi động
cơ kết thúc ở trường hợp này lại là gợi động cơ mở đầu cho những trường hợp tương tự sau này
4 PHỐI HỢP NHIỀU CÁCH GỢI ĐỘNG CƠ TẬP TRUNG VÀO NHỮNG TRỌNG ĐIỂM
Để phát huy tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động học tập, cần phối hợp những cách gọi động cơ khác nhau có chú ý tới xu hướng phát triển của cá nhân học sinh tạo ra một sự hợp đồng tác dụng của nhiều cách gợi động cơ, cách nọ
bổ sung cách kia Chẳng hạn, có thể gợi động cơ cho một nội dung dạy học hoặc một hoạt động nào đó bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của nội dung của hoạt động này đối với một nghề nào đó trong xã hội Tuy nhiên, cách gợi động
cơ hướng nghiệp này có nhược điểm là nó không hấp dẫn đối với những học không có dự định làm nghề sau này Vì vậy có thể bổ sung bằng cách nhấn mạnh rằng nắm được nội dung đó, thực hiện được hoạt động đó là một yếu tố văn hóa của tất cả mọi người trong xã hội.
Trong một tiết học, việc gợi động cơ cần tập trung vào một số nội dung hoạt động nhất định mà việc quyết định cần căn cứ vào những yếu tố sau đây :
- Tầm quan trọng của nội dung hoạt động được xem xét.
- Khả năng gợi động cơ ở nội dung đó hoặc hoạt động đó.
- Kiến thức có sẵn và thời gian cần thiết.
Trang 9II THỰC TRẠNG
1 Thực trạng sử dụng BĐTD ở trường THCS huyện Hưng Hà
Qua nắm bắt tình hình và trao đổi với đồng nghiệp về việc giảng dạy lịch
sử có liên quan đến bản đồ tư duy tôi nhận thấy.
II “Vận dụng gợi động cơ hoạt động trong việc dạy học cấu trúc rẽ nhánh”.
Để gợi động cơ hoạt động trong dạy học cấu trúc rẽ nhánh, sau đây sẽ là gợi động cơ (gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian và gợi động cơ kết thúc) vào từng phần kiến thức của bài học.
1 Câú trúc rẽ nhánh if…then
Để mô tả cấu trúc rẽ nhánh, Pascal dùng hai dạng câu lệnh if …then:
Pascal dùng câu lệnh if – then để mô tả việc rẽ nhánh.
- Dạng thiếu: if <điều kiện> then <câu lệnh>;
- Dạng đủ: if <điều kiện> then <câu lệnh 1> else <câu lệnh 2>;
Nhưng trước khi đưa đến cấu trúc hai câu lệnh thì ta có thể gợi động cơ mở đầu bằng cả hai cách: Xuất phát từ thực tế và từ nội bộ Tin học.
Với cách xuất phát từ thực tế, từ ví dụ trong phần 1 Hoạt động phụ thuộc vào điều kiện.: Một lần Nam nói: “Nếu trời không mưa vào ngày chủ nhật thì Nam
đi đá bóng” Câu nói của Nam cho biết nếu điều kiện cụ thể được thỏa mãn hay nói cách khác điều kiện đúng (trời không mưa vào ngày chủ nhật) thì có một việc làm cụ thể được thực hiện Nhưng không hề đề cập đến nếu điều kiện không thỏa mãn hay điều kiện sai (trời mưa vào ngày chủ nhật) thì sẽ được thực hiện việc gì? Cách diễn đạt như vậy thược dạng thiếu Nếu …thì…; Và cấu trúc dùng để mô tả mệnh đề trên được gọi là cấu trúc rẽ nhánh dạng thiếu Pascal dùng câu lệnh if…then dạng thiếu để mô tả, câu lệnh như sau:
if <điều kiện> then <câu lệnh>;
Ngoài ra, ta có thể gợi động cơ xuất phát từ nội bộ Tin học, với bài này ta sẽ dùng một trong tám cách đó là Tìm sự liên hệ và phụ thuộc Chẳng hạn, ta nêu tình huống như sau:
Tình huống 1: Cho máy nhận vào giá trị của biến a là số nguyên Thông báo
ra màn hình số a là số chẵn, ta giải thích cho học sinh một số là số chẵn nếu nó
Trang 10chia hết cho 2 tức là nếu a thỏa mãn điều kiện a mod 2 = 0 thì a là số chẵn Pascal có câu lệnh cho máy tính thực hiện được điều này Sau đó, giáo viên mới trình bày cú pháp và hoạt động của câu lệnh rẽ nhánh dạng thiếu.
Hoặc có thể nêu ra tình huống khác.
Tình huống 2: Bài toán: Tính chu vi, diện tích hình vuông theo độ dài cạnh a của nó được nhập vào từ bàn phím.
Thuật toán và chương trình như sau:
- Xây dựng thuật toán:
Bước 1: Nhập cạnh a
Bước 2: + Thông báo chu vi (CV) là 4*a;
Bước 3: Kết thúc.
- Viết chương trình
Program Hinhvuong;
Uses crt;
Var a: integer;
BEGIN
Clrscr;
Write(‘nhap vao canh a’); readln(a);
Writeln(‘chu vi la:’, 4*a);
Writeln(‘dien tich la:’, a*a);
Readln
END.
Ta đã biết số âm không phải là độ dài hình học nên ta thử xem khi nhập vào một số âm thì máy tính có nhận biết được dữ liệu nhập vào có hợp lệ