1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng lá cây chè đại (trichanthera gigantea) bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn thịt f1 nuôi tại huyên yên sơn tỉnh tuyên quang

117 456 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 12,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc tính sinh trưởng chung Sinh trưởng và phát triển không phải là một chức năng sinh lý riêng biệt mà là kết quả hoạt động tổng hợp của nhiều chức năng trong quá trình sinh lý của cây.

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG HỮU DŨNG

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc nhất tới:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,

Khoa Sau Đại học và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi - Thú y,

, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Xin được bày tỏ biết ơn chân thành nhất đến TS Trương Hữu Dũng

người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành

Sơn và bà con nông dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện và giúp đỡ về thời gian, cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực để tôi hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới toàn thể gia đình, bạn bè gần xa và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

và sự giúp đỡ vô hạn về mọi mặt, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng

chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Thái Nguyên, ngày 04 tháng 12 năm 2014

Học viên

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1

2

2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

3

3

1.1.2 Đặc tính sinh trưởng 4

1.1.3 Vấn đề giữ đạm không khí của cây họ đậu 8

11

11

15

1.2 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng ở lợn thịt 16

1.2.1 Cơ sở di truyền của sự sinh trưởng 16

18

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng 19

20

1.3.1 Yếu tố bên trong 20

1.3.2 Yếu tố bên ngoài 22

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

26

26

27

1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

29

Chương 2 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

32

32

32

2.3 Nội dung nghiên cứu 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36

2.5.1 Khối lượng lợn bắt đầu thí nghiệm và kết thúc 36

38

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 40

Chương 3 42

3.1 42

42

47

50

52

56

58

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

của lợn thí nghiệm 62

3.2.1 62

67

71

1 Kết luận 71

72

3 Đề nghị 72

73

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 81

PHỤ LỤC 85

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KHKT : Khoa học Kỹ thuật KPCS : Khẩu phần chăm sóc

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 33

34

35

35

35

44

48

51

54

57

59

63

68

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC HÌNH

28

50

52

65

66

67

69

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tư và hỗ trợ cho việc thu thập, bảo tồn nguồn gen vật nuôi quý hiếm; xây dựng cơ sở lưu giữ bảo tồn nguồn gen vật nuôi quý hiếm tại địa phương (Cục Chăn nuôi, 2006) [4]

V,

,

cây thức ăn cho gia súc, gia cầm, trong đó có cây Chè đại (Trichanthera

gigantea) Đây là loại cây cho lá, dễ trồng trên mọi loại đất, có năng suất

xanh cao, nhiều gia súc, gia cầm thích ăn…

Trang 12

-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

là loại cây có tiềm năng, năng suất

, dê Tuy nhiên, h chưa

trong Xuất phát từ trên, chúng tôi tiến hành đề tài:

(Trichan

2 M

, F1(♂R x ♀ĐP)

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ

Đề tài đóng góp thêm những số liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu

và giảng dạy trong nhà trường và ứng dụng vào trong sản xuất

3.2.

,

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1

1.1.1 Nguồn gốc

Trichanthera thuộc họ Acanthaceae

loài: Trichanthera gigantea Cây thân bụi, tán tròn, nhánh bậc hai, lá cánh quạt

dài đến 26 cm và rộng 14 cm, đỉnh nhọn, bản hẹp; nở hoa theo chu kỳ

à một cây trồng mới làm thức ăn gia súc được nhập vào Việt Nam năm 1993 từ

đã được trồng ở miền Tây Nam bộ, Tây Nguyên

Cây có nhiều ở vùng núi Côlômbia, dọc theo các dòng suối và khu vực đầm lầy Costarica tới p Bắc Nam Mỹ Đây là loài cây thức ăn cho gia súc thích nghi được với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau Chúng có thể sống trong khoảng 0 - 2000m (Murgueitio, 1989)[61], 800-1600m, (Acero, 1985)[47] và từ 500-1800m trên mực nước biển (Jaramillo và Correcdor, 1989)[58] Đối với vùng có khí hậu ẩm ướt, lượng mưa hằng năm khoảng 1000-2800mm (Jaramillo và Correcdor, 1989) [58] cây vẫn có khả năng sinh sống, ngay cả khi lượng mưa lên đến 5000-8000mm/năm, (Murgueitio, 1989) [61] C phát triển được trong điều kiện đất acid, kém màu mỡ nhưng thoát nước tốt

Cây được trồng chủ yếu bằng phương pháp giâm cành vào các mùa trong năm đều thấy nảy mầm rất tốt, cây ưa ẩm vừa phải, nếu ở nơi thiếu nước thì năng suất bị hạn chế vì cây có lá mỏng lại rất to bản nên thoát nước

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

rất mạnh Cây có thể thu hoạch lần đầu tiên ở 4 - 6 tháng tuổi, năng suất 15,6

và 16,74 tấn/ha (thân tươi) tương đương 40.000 cây/ha (khoảng cách 0,5m x 0,5m), sau 1,5 - 3 tháng thu hoạch một lần năng suất 17 tấn /

, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón Điều này cho thấy quá trình tổng

của urea lên đến 240 kgN/ha/năm

Hàm lượng protein chứa bên trong lá thay đổi từ 18 - 21% và hầu hết là protein thật Hàm lượng canxi đặc biệt cao khi so với các loại cây thức ăn khác Thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh dưỡng (Rosales and Galindo,

hàm lượng saponin và steroid thấp

1.1.2 Đặc tính sinh trưởng

1.1.2.1 Đặc tính sinh trưởng chung

Sinh trưởng và phát triển không phải là một chức năng sinh lý riêng biệt mà là kết quả hoạt động tổng hợp của nhiều chức năng trong quá trình sinh lý của cây

Theo David W.Pratt, 1993 [54] thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi năng lượng mặt trời thành lá xanh, để động vật có khả năng thu nhận chúng Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của cây Thực vật nói chung và cỏ nói riêng sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng:

Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn I): xảy ra sau khi mới gieo trồng, mới bị chăn thả hay thu cắt Lúc này chất dự trữ ở hạt giảm, lá non còn ít; lá bị mất (do thu cắt) nên cây không có khả năng nhận ánh sáng mặt trời, trong khi đó cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Giai đoạn sinh trưởng nhanh (giai đoạn II): Đây là thời gian phát triển nhanh nhất Trong giai đoạn này lá chứa đủ protein và năng lượng thỏa mãn cho nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi Cỏ có chất lượng cao và số lượng lớn

Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn III): là giai đoạn gần trưởng thành hoặc sau khi chăn thả hay thu hoạch cỏ khoảng 40 - 70 ngày Ở giai đoạn này, cỏ có phần thân chiếm đa số và nhiều xơ Hàm lượng dinh dưỡng cao, số lượng nhiều, tuy nhiên khả năng tiêu hóa của vật nuôi đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976) [3]

Vì vậy, trong quản lý đồng cỏ cần chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai đoạn II và cần có thời gian nghỉ hợp lý để duy trì cây cỏ lâu dài Mặt khác, tránh không cắt cỏ quá thấp hay cho động vật gặm cỏ còn lại quá ngắn gây tái sinh chậm làm giảm tổng sản lượng cỏ

1.1.2.2 Động thái sinh trưởng, tái sinh của thân và lá

Lá non của cỏ non phát triển từ chồi mầm tạo ra ở đỉnh mô phân sinh Hầu hết các tế bào của lá được cấu tạo trong khi lá còn rất nhỏ trong chồi (Langer, R.H.M, 1972) [59] Kết quả sinh trưởng của lá là sự mở rộng của kích cỡ tế bào (Esau K, 1960) [56] và tăng trưởng khối lượng (Coyne P.I, 1995) [52] Lá mới sinh lấy cacbonhydrate từ rễ, thân hay từ lá già cho tới khi chúng hoàn thiện và do đòi hỏi phải sinh trưởng, nên chúng đồng hóa các sản phẩm từ rễ, lá, gốc để hình thành lá mới (Langer R.H.M, 1972) [59], (Coyne P.I, 1995) [52]

* Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá

Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật như giống, hay các yếu tố ngoại cảnh: khí hậu, thời tiết, đất, nước Trong các yếu tố đó thì ánh sáng, nhiệt độ, nước và chất dinh dưỡng trong đất là các yếu

tố chủ yếu của đời sống thực vật

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Sức nảy mầm của cỏ (hạt, hom)

Sự sinh trưởng của cỏ phụ thuộc trực tiếp vào sức nảy mầm của hạt, nếu hạt có sức nảy mầm cao sẽ tạo điều kiện cho sinh trưởng mạnh sau này Phẩm chất của hạt thể hiện qua độ thuần và % nảy mầm (Bogdan A V, 1977) [49]

- Nhiệt độ

Nhiệt độ là một nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật nói chung và thực vật nói riêng Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng cũng tăng và nhiệt độ giảm sinh trưởng chậm lại Khi tăng nhiệt độ tới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và công sự, 1976) [46] Cũng theo tác giả này, sự hô hấp bắt đầu trong khoảng 100C và tối thích ở nhiệt độ 350

C Theo Bogdan A V, 1977 [49] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nảy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C; Nhiệt độ tối ưu cho quang hợp của cỏ ôn đới là 15 - 200C, và ở cỏ nhiệt đới là 30 - 400C; Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 150

- Ẩm độ

Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống cây trồng Lượng nước trong đất nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến việc cung cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật khỏi bị

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nóng quá, độ thoáng khí của đất điều đó ảnh hưởng tới năng suất, sinh trưởng và chất lượng cây trồng (Nguyễn Đức Quý, 2007 [32]

- Ánh sáng

Ánh sáng là nhân tố quan trọng, mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng của cây rất phức tạp Có ánh sáng cây mới sinh thân, cành lá và cây mới ra hoa kết quả bình thường

- Dinh dưỡng trong đất

Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ trồng, trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng kể cả các nguyên tố đa và vi lượng Phân bón lót P - K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm làm tăng năng suất cỏ so với không bón phân Ngược lại,

sự tăng năng suất do tác dụng của N chỉ xảy ra ngay khi trước đó người ta bón phân (A Voisin, 1963) [48], cũng chính vì vậy mà người ta có thể sử dụng đạm một cách hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục tình trạng mùa do điều kiện thời tiết gây nên

Đất có hạt sét quá nhiều thì thường dí chặt, yếm khí, hoạt động rễ của thực vật bị hạn chế Những loại đất này thường khiến cho rễ thực vật tiết ra nhiều độc tố Những cây thức ăn dùng cho gia súc thường không mọc ở đất này (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [17]

* Các nhân tố ảnh hưởng tới tái sinh của thân và lá

- Tuổi thiết lập

Là tuổi kể từ khi trồng cỏ cho đến khi cỏ thiết lập và có thể đưa vào sử dụng lần đầu tiên Lứa tuổi này rất quan trọng vì nó tạo điều kiện cho các bộ phận dưới đất (rễ, thân ngầm ) phát triển làm cơ sở cho việc dự trữ dinh dưỡng sau này Chỉ khi các bộ phận này đã phát triển và dự trữ dinh dưỡng đầy đủ mới cho phép quá trình tái sinh mạnh (A Voisin, 1963) [68]

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Kể từ lứa cắt thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu hoạch Khi cây dự trữ đủ dinh dưỡng thì ta bắt đầu thu hoạch (A Voisin, 1963) [68] khẳng định: một cây cỏ nếu bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không tái sinh được Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng ½ tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3 Nếu tăng hơn tuổi thích hợp nhất 50% thì chỉ tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ xơ tăng

- Độ cao thu hoạch

Độ cao thu hoạch cũng quyết định lượng dự trữ của cỏ cho quá trình tái sinh trưởng Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ vì một phần sản lượng nằm ở phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh sau đó, làm mất đi phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản

để nuôi rễ và toàn bộ lá, không tạo ra các chất hữu cơ khác được

1.1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng của rễ

Bộ rễ chùm của cỏ hòa thảo chủ yếu sinh trưởng ở những lớp đất mặt trừ một số loài như cỏ Voi có thể ăn sâu tới 2m Bộ rễ cọc của cây họ đậu ăn sâu hơn Thường trong những năm đầu tiên sẽ ăn sâu gần mức độ sâu nhất có thể tùy theo loại cỏ, loại đất và mạch nước ngầm (Whyte R.O và cộng sự, 1964) [65]

Sau khi bộ rễ được thiết lập, sự sinh trưởng cũng mang tính chất theo mùa rõ rệt như các bộ phận trên mặt đất Phần lớn rễ sinh trưởng mạnh vào mùa xuân đạt tới mức cao nhất trước khi bộ phận trên mặt đất đạt được và ngừng khi cây ra hoa

1.1.3 Vấn đề giữ đạm không khí của cây họ đậu

Cây họ đậu có đặc tính sinh học chung đó là rễ có nốt rễ, mang vi khuẩn cộng sinh Rhizobium cố định được nitơ trong không khí Mặc dù trong không khí trên mỗi hecta đất có tới 80 ngàn tấn nitơ ở dạng khó tiêu Tuy nhiên, cây trồng không thể sử dụng được loại nitơ phân tử này Trong khi đó,

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

có một số vi sinh vật có khả năng đồng hóa dễ dàng nitơ của không khí, người

sự phát triển của cỏ dại

- Vai trò sinh lý của nitơ: so với CHO, N không nhiều (1 - 3%) nhưng

nó có vai trò hết sức quan trọng, thiếu nitơ cây không thể tồn tại được

+ Nitơ được xem như là nguyên tố quan trọng bậc nhất và hạn chế lớn nhất đối với năng suất cây trồng vì nhu cầu dinh dưỡng nitơ của cây cao trong khi đó khả năng cung cấp của đất cho cây rất thấp Hàm lượng nitơ thay đổi

từ 0,1 - 0,2 % (dưới dạng hữu cơ), khả năng cung cấp cho cây 30 - 40 kg/ha/năm Đây là một lượng quá nhỏ so với nhu cầu của cây

+ Cây có thể hấp thu dưới hai dạng đạm: NH4+ và NO3-, hàm lượng nitơ chiếm 1 - 3% khối lượng khô của cây tùy theo bộ phận Nitơ tham gia vào thành phần của hầu hết các hợp chất hữu cơ trong cây

+ Nitơ có mặt trong axit nucleic nên quyết định đặc tính di truyền của

cơ thể do đó điều chỉnh sự tổng hợp protein và phân chia tế bào, các acid amine - do đó là thành phần bắt buộc của protein protein trong cơ thể thực vật là không thể thiếu vì nó tham gia vào cấu tạo nên membrane, hệ thống enzyme, phitocrom, các phitohormone - điều chỉnh quá trình sinh trưởng phát triển của cây kể cả hợp chất hữu cơ thứ cấp như tanin, cafein

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Nitơ tham gia cấu tạo nên nhiều enzym quan trọng: dehydrogenaza, FAD, NAD

+ Nitơ tham gia vào cấu trúc vòng poorphiril, đây là cấu tử quan trọng của chlorophil, cytocrom→ Nitơ quyết định quá trình trao đổi chất, những biến đổi sinh lý sinh hóa, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển; năng suất và chất lượng cây trồng Do đó, để tăng năng suất và phẩm chất cây trồng thì việc thỏa mãn nhu cầu nitơ có ý nghĩa quyết định

+ Thiếu nitơ cây sinh trưởng còi cọc, lá màu vàng nhạt, cây đẻ ít nhánh, sinh chồi, kém diện tích lá nhỏ, năng suất và phẩm chất thấp (thậm chí không

có quả tùy thuộc mức độ thiếu nitơ)

+ Tuy nhiên nếu bón quá nhiều nitơ và bón không cân đối với các nguyên tố đa lượng khác thì thân lá sinh trưởng rậm rạp, lá màu xanh đục đậm, cây mềm yếu, khả năng chống đổ kém, đối với cây lấy hạt thì hạt lép nhiều, thậm chí không ra hoa kết quả Cây sinh trưởng mạnh thân lá, nhưng khả năng chống chịu kém, dễ bị sâu bệnh phá hại

- Mối quan hệ dinh dưỡng nitơ với cây họ đậu

Với cây họ đậu mối quan hệ giữa dinh dưỡng nitơ có sự tác động qua lại Nghĩa là nó có thể hút chất dinh dưỡng nitơ từ trong đất dưới dạng NH4+

và NO3-, vừa có thể tổng hợp dinh dưỡng nitơ nuôi cây và để lại trong đất dinh dưỡng đạm Điều đó tùy thuộc vào khả năng tạo nốt sần và thời gian tạo nốt sần của cây họ đậu

+ Giai đoạn cây còn non chưa hình thành nốt sần:

Ở giai đoạn này cây họ đậu với bộ rễ mới hình thành thì nó chưa có khả năng tạo nốt sần nên không có khả năng tổng hợp đạm Do đó cây phải hút dinh dưỡng nitơ dưới dạng ion NH4+

và NO3

ở trong đất Sự hấp thụ dinh dưỡng nitơ vào cây có thể theo hai kiểu:

Hấp thụ thụ động:

Các ion NH4+ và NO3- theo sự chênh lệch nồng độ từ cao đến thấp

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Các ion NH4+ và NO3- hòa tan trong nước và vào rễ theo dòng nước Các ion NH4

Hấp thụ chủ động:

Phần lớn các ion NH4+

và NO3- được hấp thụ vào cây theo cách chủ động Tính chủ động ở đây được thể hiện ở tính thấm chọn lọc của màng sinh chất và các chất khoáng cần thiết cho cây đều được vận chuyển trái với quy luật khuếch tán, nghĩa là vận chuyển từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng

độ cao Vì cách hấp thụ khoáng này mang tính chọn lọc và ngược với gadrien nồng độ nên cần thiết phải có năng lượng, tức là sự tham gia của ATP và một chất trung gian thường gọi là chất mang ATP và chất mang được cung cấp từ quá trình chuyển hóa vật chất (chủ yếu từ quá trình hô hấp)

Ở giai đoạn này của các loại cây họ đậu, quá trình phát triển của rễ càng nhanh càng tốt Do đó, chúng ta phải bón phân đạm với lượng nhỏ và kèm theo bón phân lân vì phân lân sẽ kích thích sự phát triển của bộ rễ

1.2.1

tỷ lệ sống 90% - 95% Cây phát triển vào mùa mưa, không kén đất, có kháng thể cao chống được sâu bệnh và không bị cỏ dại lấn át Ngoài cung cấp dinh dưỡng,

lá cây còn có tác dụng phòng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi

Trong thời gian gần đây, nhà nước đa bắt đầu triển khai các n

Các hộ chăn nuôi có thể thu được

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

rất giàu đạm, khoáng, sinh tố,

còn có tác dụng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi ( , 2010) [28]

Cần Thơ đã và đang sử dụng lá cây Trichanthera gigantea tươi bổ sung vào khẩu phần thức ăn cho heo: 4,2kg/con/ngày cho heo nái và 3,6kg/con/ngày cho heo thịt, tương đương 110 - 130g protein/con/ngày cho kết quả tốt: Heo nái sinh sản tốt, heo thịt tăng trọ

quả tốt: đẻ trứng nhiều hơn, chất lượng trứng tốt hơn ( , 2010) [28]

1/3 chi phí mua thức ăn, lợi nhu

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lòng đỏ rất đỏ, gà con có da, mỏ vàng hơn, rất hợp thị hiếu người tiêu dùng

Khoa Nông nghiệp - Trường đại học Cần Thơ trồng thử nghiệm có thể thay 30-40% lượng tấm cám trong khẩu ph

ở dạng bột còn bổ sung 2-4% khẩu phần thức ăn cho gà, vịt, cút nuôi Đã

trồng Theo tính toán, trồng khoảng 30 cây sẽ cung cấp thức ăn cho một con heo hoặc dê trong suốt thời gian nuôi

Sử dụng bột lá Chè đại thay thế một phần thức ăn hỗn hợp không làm ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống của gà Broiler, kết thúc thí nghiệm ở 6 tuần tuổi

gà đạt tỷ lệ nuôi sống 94 - 96 % tương đương như lô đối chứng không thay thế

Với tỷ lệ thay thế bột lá Chè đại đã dùng từ 1 - 3% và 3 - 5% trong thức

ăn hỗn hợp tương ứng với 2 giai đoạn nuôi gà Broiler từ 1 - 42 ngày tuổi đã

có ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng của gà: với tỷ lệ thay thế 3 - 5% lô thí nghiệm 2 đã cho khối lượng cơ thể cao hơn đối chứng 295g/con, tương ứng cao hơn 11,3%, đạt độ tin cậy (P<0,05); tốt hơn tỷ lệ thay thế 1 - 3% ở lô thí nghiệm 1 chỉ có chênh lệch so với lô đối chứng 68g/con, tương ứng cao hơn 2,8% (P>0,05)

nái ăn chè đại theo cách nấu cám chung với cám gạo, ngô như nấu với rau, khoai lang Kinh nghiệm của trạm cho thấy, với lợn nái, việc bổ sung chè đại cần đi theo một quá trình thêm dần để cho lợn quen với thức ăn mới, nghĩa là cần cho lợn tập ăn Chỉ sau 3 bữa là

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lợn sẽ quen “mùi”, và ăn nhiều trở lại Theo tài liệu nước ngoài, thức ăn từ chè đại có thể thay thế 30% thức ăn tinh cho thỏ Với thỏ của Trạm Thực nghiệm, chè đại được bẻ là và chặt cành non và cho thỏ ăn, không cần chế biến Thỏ được ăn chè đại và qua đó giảm khẩu phần thức ăn tinh Trong năm

2010, chè đại được trạm dùng phổ biến làm thức ăn bổ xung cho đàn gà sau

12 ngày tuổi Khi gà còn bé (ở 12 -30 ngày tuổi), chè đại có thể thái nhỏ cho

gà ăn Khi gà lớn, khoảng 1 tháng tuổi, thì không cần phải thái Mỗi ngày, gà của trạm thực nghiệm được cho ăn chè đại hai bữa vào lúc 9h sáng và 2h

4 kg) thân và lá một bữa Chẳng hạn, với lượng thức ăn một ngày cho gà khoảng 20 kg, nếu có chè đại bổ sung thì chỉ cần 12 kg là đủ Với khả năng thay thế tới 40% thức ăn tinh, khi dùng chè đại làm thức ăn bổ sung, người chăn nuôi có thể giảm lượng thức ăn đáng kể

như: lá sắn, lá keo dậu, cỏ Stylo, bèo hoa dâu, lá và hạt cây so đũa, rau cỏ…

Theo Nguyễn Đức Trân và cs (1997) [44] cho biết: Ở vùng núi, có thể lấy lá và cả cành non các loại cây không độc, không có chất chát (trâu bò thường ăn) để phơi khô, dự trữ dành cho mùa đông hiếm rau cỏ

Thức ăn gia cầm, ngoài lượng ngô vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung cấp sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng Tại các nước ôn đới sử dụng nguồn bột cỏ chế biến từ cỏ alfalfa (Medicago sativa) Đây là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea),

có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg bột cỏ, hàm lượng protein thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin Ở các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ các nguồn lá xanh khác như bột lá bình linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis)

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa, tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo

Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% protein trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm

Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo 5,5%, xơ thô 21%

Lá keo dậu: Cây keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại đất khác nhau Lượng protein thô trong lá keo dậu khá cao 270-280 g/kg chất khô, tỷ lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá keo dậu có thể dùng làm thức ăn

bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm

1.2.2.

Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất như: lá sắn có độc tố HCN, Cỏ Mêdicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi

sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần

Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [11] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4 - 6% tính theo đơn vị khẩu phần Trong lá keo dậu có chứa độc tố mimosin, do đó không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong khẩu phần của gia cầm (tính theo giá trị dinh dưỡng) bột cỏ alfalfa thường chứa saponin với hàm lượng 0,2-1,8% gây tác dụng dung huyết và kìm hãm sinh trưởng ở gia súc, gia cầm, gây chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò, cho nên bột

cỏ alfalfa chỉ được sử dụng với tỷ lệ hạn chế trong khẩu phần ăn của gia súc Mặt khác, bột lá, bột cỏ nếu bảo quản kém hoặc quá lâu dễ bị mốc và làm hao hụt các chất dinh dưỡng, đặc biệt là B-caroten, vitamin bị mất đi

dưỡng (Rosales and Galindo, 1987) [66]

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.2 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng ở lợn thịt

1.2.1 Cơ sở di truyền của sự sinh trưởng

Một số tính trạng năng suất của lợn đều có chung bản chất di truyền như với các giống gia súc khác, nhưng những biểu hiện cụ thể về giá trị kiểu hình của các tính trạng ấy lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về

di truyền của từng loài Theo Nguyễn Ân và cs, (1983) [2]; Trần Đình Miên

và cs, (1975) [27]; Nguyễn Thiện và cs (1998) [38]: hầu hết các tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc như: khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa, cho lông, cho da… đều là các tính trạng

số lượng Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình (Phenotype Value - P) của tính trạng do giá trị kiểu gen (Genotyp value - G) và sai lệch môi trường (Environmental deviation - E) quy định Quan hệ này được biểu thị bằng công thức P = G + E

Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng

do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành Đó là gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene) Các minor gene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: G = A + D + I Trong đó:

A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding value) D: là sai lệch trội (Dominance deviation)

I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation)

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thấp nhất con đường thực nghiệm

Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E) gồm có 2 loại:

- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một cách lâu dài Các yếu tố đó là: thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc… tác động lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs, 1995), [41]

- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt trong nhóm vật nuôi, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá thể nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn và không thường xuyên

Như vậy khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi phối bởi từ 2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I + Eg + Es

Từ những phân tích ở trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở lợn cũng như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng một vốn di truyền nhất định Nhưng tiềm năng di truyền ấy thể hiện cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống của chúng, đặc biệt là các yếu tố: khí hậu, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý Vì thế trong công tác giống lợn, chúng ta muốn cải tiến các đặc điểm di truyền của giống lợn địa phương nhằm nâng cao năng suất, cần thiết phải thay đổi kiểu gen (G) qua việc tiến hành chọn lọc chặt chẽ giá trị gây giống (A), lai tạo để có những tổ hợp gen mới (D và I), kết hợp với việc cải tiến và tăng cường các biện pháp tác động:

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ… để khai thác tốt tiềm năng

di truyền và khả năng sản xuất của mỗi phẩm giống

1.2.2

* Khái niệm về sinh trưởng

Trong quá trình sinh trưởng sự tăng số lượng tế bào và tăng thể tích tế bào do kết quả của quá trình đồng hóa là quan trọng nhất (Trần Đình Miên và

cs, 1975), [27]

Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các vật chất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi, nảy nở, vừa là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó là protein, lipit, gluxit và các chất khoáng…(Đàm Văn Tiện và cs, 1992) [34], (Chambers, 1990) [53], cũng cho rằng: quá trình sinh trưởng là sự tổng hợp

sự sinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ…

Về mặt sinh học, sinh trưởng ở lợn được xem là sự tăng cường tổng hợp protein trong các mô bào, vì thế thường lấy việc tăng khối lượng và kích thước các chiều làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Quá trình này thể hiện ở ba mặt:

Phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào

Tăng thể tích của mỗi tế bào

Tăng thể tích giữa các tế bào

Người ta biết rằng sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang 3 đặc tính: tốc độ, thời gian và tính chất diễn biến Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự tăng khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân đo

và tính tốc độ sinh trưởng nói trên (Trần Đình Miên và cs, 1975) [27]) Một

số tác giả như Clayton G.A., Powell T.C., (1979) [50] cho biết: tốc độ sinh trưởng là tính trạng có hệ số di truyền cao (h2

= 0,4 - 0,5) và liên quan chặt chẽ

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tới các đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng dòng, giống, cá thể Từ tất cả các quan điểm trên, có thể rút ra bản chất sinh học về sự sinh trưởng ở lợn cũng như các gia súc như sau: sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ

do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở các tính chất di truyền từ đời trước truyền lại (Trần Đình Miên và cs, 1975) [27]

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng

Trong chăn nuôi lợn và các gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối

và sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước

theo thời gian khảo sát

Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN, 1977) [35], đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng parabol

Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN, 1977) [35] Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn có dạng hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc

Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt:

Khối lượng sống: là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nhịn ăn 24 giờ

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khối lượng thịt xẻ là khối lượng móc hàm trừ đi khối lượng đầu, 4 chân, đuôi và hai lá mỡ

Tỷ lệ thịt xẻ là tỷ lệ giữa khối lượng thịt xẻ và khối lượng sống

Tỷ lệ nạc (%):

Thịt nạc là thành phần quan trọng nhất có giá trị trong thịt xẻ Tỷ lệ nạc càng cao thì chất lượng thịt càng cao và ngược lại Tỷ lệ nạc của các giống cao sản như Yorkshire, Landrace, Pietrain… từ 55 - 64% Hiện nay chúng ta đang cố gắng nâng cao tỷ lệ nạc của các giống lợn trong nước bằng cách cho lai với các giống lợn cao sản

Tỷ lệ mỡ, tỷ lệ da và tỷ lệ xương (%):

Mỡ lợn ít được dùng làm thực phẩm ở những nước phát triển, tuy nhiên

ở các nước đang phát triển, mỡ lợn rất cần thiết cho nhu cầu con người vì đó

là nguồn cung cấp năng lượng cao Xu hướng hiện nay người ta đang cố gắng giảm dần tỷ lệ mỡ của lợn xuống do nhu cầu về thịt nạc của người tiêu dùng ngày càng cao

Tỷ lệ xương và da phụ thuộc vào giống lợn Các giống lợn nội có tỷ lệ xương thấp hơn các giống lợn đã được cải tiến, tỷ lệ xương biến động trong khoảng 9 - 12%

Tỷ lệ lệ hao hụt (%):

Tỷ lệ hao hụt của thịt xẻ thể hiện tỷ lệ nước chứa trong thịt cao hay thấp, nói lên chất lượng thân thịt, chế độ nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu làm thí nghiệm Nhìn chung tỷ lệ hao hụt càng nhỏ càng tốt

1.3.1 Yếu tố bên trong

1.3.1.1 Ảnh hưởng di truyền của dòng, giống cá thể

Trong chăn nuôi gia súc, dòng, giống có thể có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng Con sinh ra tiếp thu từ bố mẹ và truyền lại cho đời sau khả năng sinh trưởng mang tính đặc thù của dòng, giống Tính di truyền về khả năng

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi Ảnh hưởng của dòng, giống đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loại gia súc gia cầm

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [31] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ

Nguyễn Thiện và cs (1998) [39] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng

60 kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi

1.3.1.2 Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone

Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống,

kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên Hormon của thuỳ trước tuyến yên STH

(somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ

thể Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [36]: STH có tác dụng sinh

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ

bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus) Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ

1.3.2 Yếu tố bên ngoài

1.3.2.1 Vai trò và nhu cầu về protein, axit amin đối với lợn nuôi thịt

Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [5]: Protein là nhóm chất hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinh trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein không giống nhau Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 - 35% so với tổng lượng protein trong cơ thể

Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng sống kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16-18% Trong quá trình chăn nuôi thâm canh người ta đề nghị hàm lượng protein trong khẩu phần là 22-24%

Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [18] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu

về axit amin Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối

sẽ bị oxy hóa cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn

Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thì protein thô cần 11-12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần 20-22% protein thô

Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng sữa Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của nó

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [31] cho biết: nói chung lợn con tiêu hóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật hay thực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa có những đặc điểm khác nhau quan trọng

1.3.2.2 Vai trò và nhu cầu về năng lượng đối với lợn nuôi thịt

Song song với việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về protein và axit amin thì chúng ta cần cung cấp đầy đủ và cân bằng về năng lượng

Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng vật chất dinh dưỡng trong thức ăn phù hợp với từng loài, giống, tuổi, chức năng sản xuất

Năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho các hoạt động sống của cơ thể và hình thành nên các hợp chất hữu cơ của tế bào Chất cung cấp năng lượng chu yếu là gluxit như: Tinh bột, đường, xơ Hàng ngày gluxit đảm bảo

từ 70-80% nhu cầu dinh cầu vềdưỡng của lợn Nếu thiếu lợn sẽ gầy yếu, còi cọc, chậm lớn

1.3.2.3 Vai trò và nhu cầu về khoáng chất đối với lợn nuôi thịt

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [19] gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy

ra trong cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3-4% khối lượng cơ thể tăng Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương tăng

Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi

và phot pho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tích luỹ canxi, phot pho cao Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm Nhìn chung, gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1)

1.3.2.4 Vai trò và nhu cầu về vitamin đối với lợn nuôi thịt

Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọi quá trình trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật

Trong các loại Vitamin thì, Vitamin A và Vitamin D là hai loại Vitamin quan trọng nhất cho sinh trưởng Trong đó Vitamin A xúc tiến quá trình sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù lòa, tốc độ sinh trưởng giảm, lông xù, gầy còm, năng suất sinh sản thấp, gây bệnh bần huyết ở lợn con, xù lông, da khô ở lợn sinh trưởng Vitamin D cần thiết cho sự trao đổi canxi, phot pho để phát triển bộ xương Nhu cầu của lợn thịt về Vitamin A và D theo

Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [16] là: tiêu chuẩn của Tây Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn, vitamin

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ

mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng Một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng khi nhiệt độ nuôi trường xuống thấp (dưới 5,5oC) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt độ môi trường là 29o

C

Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ đó

ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 11o

C Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%

1.3.2.6 Ánh sáng

Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn

sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng

đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được

vận động dưới ánh sáng mặt trời

Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ăn xong Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sáng

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do các giống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn) và cũng không có

một phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo

Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợn nái đều có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quá trình trao đổi các chất khoáng trong cơ thể mà còn đối với các chức năng sinh sản như biểu hiện động dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, việc sinh tinh và các phản xạ nhảy giá của lợn đực Trong chăn nuôi công nghiệp khi thiết kế chuồng trại cần chú

ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con

và lợn sinh sản

1.3.2.7 Các yếu tố khác

Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phương tiện để kiếm thức ăn và là vũ khí lợi hại thể hiện sức mạnh của nó Lông lợn rừng dài, cứng, màu lông nâu hoặc đen Thường lỗ chân lông thành búi lông, mỗi búi có 3 gốc lông nhưng mỗi lỗ có 1 lông Lông bờm màu đen đậm, mọc từ gáy dọc theo sống lưng cho đến mông Đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến khoeo chân Chân lợn rừng nhỏ thon, móng nhọn Vai cao hơn hông Lợn rừng cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú, da rất dày Số lợn sơ sinh: 6-10 con/ổ, lợn con có bộ lông giống trái dưa gang (vệt lông màu trắng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu) Khi lợn trên 2 tháng tuổi, các vệt sọc này không còn nữa, nhưng lông toàn thân cũng thay đổi sang dạng nâu-bạc-mốc

+ Đặc điểm sinh dục: Tuổi thành thục sinh dục của lợn rừng từ 8-10 tháng tuổi, nhưng thường đẻ lần 1 sau 18 tháng và tuổi đẻ đến 5 năm Lợn rừng chu kỳ động dục là 21 ngày, động dục trong 3 ngày liên tục, thời gian chửa bình quân là 115 ngày (dao động từ 100-140) ngày Số con đẻ 1 lứa là 1 đến 12 con, trung bình là 4 đến 8 con Cho con bú đến 3-4 tháng

+ Tập tính: Lợn rừng thường thích sống quây tụ thành bầy đàn với quy

mô từ 5-20 con, cũng có lúc chúng hợp thành nhóm thành bầy lớn 50-80 con Lợn đực thường trưởng thành thường tách đàn sống đơn lẻ và chỉ nhập đàn vào mùa giao phối ( tháng 12 tháng 01 năm sau) Trước khi sinh con, lợn con đào hố trên mặt đất và lót ổ, ngụy trang bằng các loại cây,

cỏ mềm

1.4.2

Giống lợn địa phươ

đư, Yên Sơn

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lông đen và dài tới 5-8 cm,

đầu to, trán rộng và thường

có khoáy trán, mõm dài, tai

nhỏ, hơi chúc về phía trước,

vai, lưng rộng, phẳng hoặc

hơi vồng lên, da thường dày, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu

+ Khả năng sinh sản: Lợn cái thành thục lúc 7-8 tháng tuổi, chu kỳ động dục từ 18-21 ngày, thời gian động dục từ 2-4 ngày Tuổi thụ thai lần đầu của lợn nái là 9-10 tháng lúc khối lượng cơ thể đạt khoảng 35 kg Số con đẻ ra trên một lứa bình quân từ 5-10 con

1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

k k sinh trưởng và phát triển tốt, có khả năng chống chịu hạn trong điều kiện mùa khô không tưới nước, năng suất tương đối cao từ 8 tấn - 13,5 tấn/ha/lứa cắt (lá và thân xanh), có thể trồng xen trong vườn cây ăn quả và vườn điều, tiêu, cao su,

có thể chế biến phơi khô, ủ xanh làm thức ăn dự trữ cho gia súc

: 21,29%, protein thô: 21,66%, Lipit thô: 6,92%, xơ thô: 25,42%

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

, k

-Tác giả Từ Quang Hiển (1992) [15] ở trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nghiên cứu sử dụng bột lá keo dậu thay thế premix vitamin trong thức ăn nuôi gà thịt công nghiệp và cho kết luận có thể dùng 3-5% bột lá keo dậu thay thế premix vitamin trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà thịt

mà không ảnh hưởng tới tăng trọng và hiệu suất sử dụng thức ăn, chi phí thức ăn giảm 8-10%

1.5.

Việc nghiên cứu chế biến và sử dụng bột cỏ trong chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đã được nhiều tác giả quan tâm Các vấn đề từ: công nghệ và phương pháp chế biến bột cỏ, vấn đề sử dụng bột cỏ hợp lý, vấn đề chất lượng bột cỏ và các yếu tố hạn chế đã được đào xới khá kĩ, trong đó phổ biến là các loại bột cỏ họ đậu: alfalfa, lupin, stylo, đậu ba lá, bột lá keo dậu

Các nước sản xuất nhiều bột lá keo dậu là: Australia, Philippine, Thái Lan, Malayxia trong đó riêng Thái Lan hàng năm sản suất tới 60.000

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tấn (Maridoll (1982) - dẫn theo Nguyễn Đức Hùng, 2004) [22] Philippine cũng là nước sản xuất nhiều bột lá và hàng năm xuất khẩu hàng nghìn tấn sang Nhật Bản, Tây Âu

đường ruột ở động vật nuôi (Perez-Arbelaez, 1990) [63], (Vasquez, 1987) [69]

Mầm của nó được sử dụng trong cháo ngô cho người Ở một số vùng nó được sử dụng như một thức uống lactogenic cho con bú

(Perez-Arbelaez, 1990) [63], (Gowda, 1990) [57]

35

32,12 g/ ngày

ngày (Arango, 1990) [48]

30% thay thế cho protein đậu nành là khả thi, Preston (1995) [64]

cung cấp cho ăn tự do và bổ sung thêm

Ngày đăng: 20/08/2015, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu sử dụng lá cây chè đại (trichanthera gigantea) bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn thịt f1 nuôi tại huyên yên sơn tỉnh tuyên quang
2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w