1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

TÌM HIỂU VI KHUẨN ái KHÍ TRONG KHE mũi GIỮA ở NGƯỜI TÌNH NGUYỆN KHỎE MẠNH

3 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 127,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu của Hoffmann[3] với 276 răng nhổ sử dụng màng dense PTFE để bảo tồn ổ răng, mặc dù không dùng vật liệu ghép, nhưng cho kết quả có sự gia tăng lượng xương ổ theo chiều đứ

Trang 1

Y học thực hành (869) - số 5/2013 139

trong đa số trường hợp bảo tồn ổ răng đều cho kết quả

tạo xương tốt sau 6 tháng lành thương với mật độ

xương chắc và các hạt vật liệu ghép kết dính với nhau

qua trung gian các thành phần xương mới tạo Trong

nghiên cứu của Hoffmann[3] với 276 răng nhổ sử dụng

màng dense PTFE để bảo tồn ổ răng, mặc dù không

dùng vật liệu ghép, nhưng cho kết quả có sự gia tăng

lượng xương ổ theo chiều đứng từ 4 – 8,5 mm trong

nhóm thiếu vách xương ổ mặt ngoài và chiều cao

xương ổ trong những trường hợp này ở mức tương

đương với các răng kế cận Báo cáo của Barboza[1] với

420 trường hợp sử dụng màng nonexpanded PTFE,

xương ghép đồng loại khoáng hoá được sử dụng đối

với những trường hợp mất bản xương mặt ngoài – với

mục đích nâng đỡ màng - đều cho kết quả tốt trong

việc duy trì kích thước sống hàm và bảo toàn được mô

nướu sừng hoá cho việc phục hồi implant đạt kết quả

tối ưu

Màng Texture PTFE có cấu trúc xốp bề mặt, nhờ

vậy các tế bào có thể bám dính vào bề mặt và duy trì

sự ổn định của màng tại vị trí ghép Bên cạnh đó nhờ

mật độ cao của màng mà vi khuẩn không thể đi xuyên

qua màng vào trong vùng ghép Thiết kế này cho phép

đặt màng che phủ ổ răng mà không cần cố định bằng

đinh ghim hoặc vít vặn, màng được để lộ trong miệng

sau nhiều tuần lễ và việc lấy bỏ màng cũng đơn giản

Không có tình trạng nhiễm trùng nào được phát hiện

trong khảo sát của chúng tôi Kết quả duy trì được hình dạng sống hàm và tạo được mô nướu sừng hoá nhờ vậy làm tăng khả năng đặt implant thành công Kết quả của chúng tôi cũng tương tự kết quả của các báo cáo trước đây.[1,2,3,5]

TàI LIệU THAM KHảO

1 Barboza EP, Stutz B, Ferreira VF, and Carvalho W Guided Bone Regeneration Using Nonexpanded Polytetrafluoroethylene Membranes in Preparation for Dental Implant Placements—A Report of 420 Cases Implant Dent, 2010;19(1):2–7

2 Bartee BK Extraction site grafting for alveolar ridge preservation Part 2: Membrane-assisted surgical technique J Oral Implantol 2001;27:194-197

3 Hoffmann O, Bartee BK, Beaumont C, Kasaj A, Deli

G, Zafiropoulos GG Alveolar bone preservation in extraction sockets using non-resorbable high-density polytetrafluoroethylene (dPTFE) membranes: a retrospective non-randomized study J Periodontol 2008;79:1355–1369

4 Shaban M Soft Tissue Closure Over Immediate Implants: Classification and Review of Surgical Techniques Implant Dent 2004;13:33–41

5 Zafiropoulos GG, Kasaj A, Hoffmann O Immediate Implant Placement in Fresh Mandibular Molar Extraction Socket: 8-Year Results A Case Report Journal of Oral Implantology,2010; 36(2):145-151

TìM HIểU VI KHUẩN áI KHí TRONG KHE MũI GIữA ở NGƯờI TìNH NGUYệN KHOẻ MạNH

Nguyễn Trọng Tài - Đại học Y khoa Vinh Tóm tắt

Khi chưa có nội soi, muốn khảo sát vi trùng trong

xoang phải chọc rửa xoang, phương pháp này có hạn

chế là chỉ có thể cung cấp dữ liệu về xoang hàm mà

không cung cấp dữ liệu cho xoang sàng, xoang trán

hay xoang bướm Nhiều công trình nghiên cứu sử dụng

ống nội soi hỗ trợ trong việc lấy bệnh phẩm chủ yếu là

trong các trường hợp bệnh lý viêm xoang mạn, tuy

nhiên việc giải thích kết quả còn gặp nhiều vướng mắc

do vẫn còn nghi ngờ khe mũi giữa bình thường có vô

khuẩn không Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu tìm hiểu các vi khuẩn ái khí ở người

tình nguyện khỏe mạnh Đối tượng và phương pháp:

nghiên cứu tiến cứu Các mẫu bệnh phẩm được nuôi

cấy phân lập vi khuẩn ái khí và làm kháng sinh đồ Kết

quả: 50 người khoẻ mạnh được nội soi lấy bệnh phẩm

xét nghiệm tìm vi khuẩn ái khí Các chủng vi khuẩn

được phân lập là 81 (84%) Vi khuẩn được phân lập

nhiều nhất là Staphylococcus aureus (35%), kế đến là

Coagulase- Negative Staphylococcus (CNS) (28%).Vi

khuẩn Gram âm cũng được phân lập trong 24% trường

hợp Có 13% trường hợp nuôi cấy vi khuẩn âm tính

Không có các vi khuẩn gây viêm đường hô hấp trên

thường gặp như: Streptococcus pneumonia,

Hemophilus influenza, Moraxella catarrhalis… Kết

luận: khe mũi giữa ở người khoẻ mạnh không phải là

hoàn toàn vô khuẩn Sự hiện diện của những vi khuẩn

ái khí khác không phải là vi khuẩn thường trú có ý nghĩa bệnh lý

Summary When no endoscopy to examine bacteria in the sinus cavity rinse pricks, this method is limited only to provide data on the maxillary sinus without providing data for ethmoid, and sphenoid sinus frontal sinus Many research works use the endoscope to assist in collecting clinical specimens mainly in cases of chronic sinusitis, however, the interpretation of results due to face many obstacles still doubt nose slit between normally not sterile Starting from this situation, we conducted a study to find out the aerobic bacteria in healthy volunteers Subjects and methods: prospective study The samples were cultured for aerobic bacterial isolates and antimicrobial susceptibility Results: 50 healthy volunteers were taking swabs endoscopic tests for aerobic bacteria The bacterial strains were isolated was 81 (84%) Bacteria are the most isolated Staphylococcus aureus (35%), followed by coagulase-Negative Staphylococci (CNS) (28%) Gram-negative bacteria were isolated in 24% of cases There are 13%

of culture-negative bacteria None of the bacteria that cause respiratory infections in common, such as Streptococcus pneumoniae, Hemophilus influenzae, Moraxella catarrhalis Conclusion: in the slot between the healthy nose is not completely sterile The

Trang 2

Y học thực hành (869) - số 5/2013 140

presence of aerobic bacteria other than the resident

bacteria pathological significance

ĐặT VấN Đề

Khi chưa có nội soi, muốn khảo sát vi trùng trong

xoang phải chọc rửa xoang Vì vậy chỉ có thể khảo sát

trong trường hợp viêm xoang hàm Chọc rửa xoang

hàm được coi là tiêu chuẩn vàng trong việc xác định

tác nhân gây bệnh viêm mũi xoang Tuy nhiên phương

pháp này có những mặt hạn chế của nó như: chỉ có thể

cung cấp dữ liệu về xoang hàm mà không cung cấp dữ

liệu cho xoang sàng, xoang trán hay xoang bướm Các

phương pháp lấy bệnh phẩm khác ít xâm lấn như lấy

nước mũi hoặc dịch tiết vùng họng mũi thì không đáng

tin cậy do tỷ lệ lây nhiễm các vi khuẩn thường trú rất

cao Từ khi có ống nội soi ra đời, việc khảo sát hốc mũi

và các xoang dễ dàng hơn Có nhiều công trình nghiên

cứu sử dụng ống nội soi hỗ trợ trong việc lấy bệnh

phẩm chủ yếu là trong các trường hợp bệnh lý viêm

xoang mạn, tuy nhiên việc giải thích kết quả còn gặp

nhiều vướng mắc do vẫn còn nghi ngờ khe mũi giữa

bình thường có vô khuẩn không Xuất phát từ tình hình

trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tìm hiểu các vi

khuẩn ái khí ở người tình nguyện khỏe mạnh

ĐốI TƯợNG - PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu cắt ngang

2 Đối tượng nghiên cứu

50 người tình nguyện khỏe mạnh đáp ứng đầy đủ

các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ

2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu

Khoẻ mạnh, không đang sử dụng kháng sinh,

chống viêm… trong vòng 14 ngày trước khi tham gia

nghiên cứu

Không có tiền sử bệnh mũi xoang

2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Những người đang sử dụng kháng sinh, đang bị

viêm nhiễm đường hô hấp cấp, hoặc có tiền sử viêm

mũi xoang

3 Kỹ thuật lấy bệnh phẩm

Nội soi mũi bằng ống soi quang học optic 0o

Dùng que tăm bông nhỏ vô trùng quệt khe mũi giữa

từng bên, để vào môi trường chuyên chở, rồi gửi đến

khoa nuôi cấy để tìm và định danh vi khuẩn

KếT QUả

1 Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu

1.1 Tuổi:

Bảng 1 Tuổi nhóm nghiên cứu (n=50)

1.2 Giới:

Giới tính trong nhóm nghiên cứu (n=50): nam chiếm

56%, nữ chiếm 44%

2 Kết quả phân lập vi khuẩn

2.1 Chủng vi khuẩn phân lập được

Bảng 2 Chủng vi khuẩn phân lập được ở hai bên

khe mũi giữa

Âm tính và dương tính có sự khác biệt rõ rệt với p

<0.01 2.2 Chủng vi khuẩn phân lập từng bên mũi Bảng 3 Số vi khuẩn phân lập của từng bên mũi:

Không có sự khác biệt giữa loại vi khuẩn hiện diện

ở khe mũi giữa 2 bên (với p>0,01)

3 Sự nhạy cảm với một số kháng sinh

3.1 Sự nhạy cảm kháng sinh của Staphylococus aureus

Bảng 4 Sự nhạy cảm kháng sinh của Staphylococus aureus (n=35)

3.2 Sự nhạy cảm kháng sinh của Staphylococcus coagulase negative

Bảng 5 Sự nhạy cảm kháng sinh của Staphylococcus coagulase negative (n=28)

3.3 Sự nhạy cảm kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa

Bảng 6 Sự nhạy cảm kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa (n=13)

3.4 Sự nhạy cảm kháng sinh của Enterobacter Bảng 7 Sự nhạy cảm kháng sinh của Enterobacter (n=11)

BàN LUậN

Trang 3

Y học thực hành (869) - số 5/2013 141

1 Tỷ lệ vi khuẩn hiện diện trong khe mũi giữa

Tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 84%, tỷ lệ nuôi cấy âm

tính là 16%

Những trường hợp nuôi cấy vi khuẩn âm tính có thể

là: âm tính thực sự hoặc âm tính giả Âm tính thực là

thực sự không có vi khuẩn (vô khuẩn) Âm tính giả là

có vi khuẩn kỵ khí nhưng phương pháp cấy ái khí

không phát hiện được Âm tính của mẫu nghiên cứu

hoặc vô khuẩn hoặc là nhiễm vi trùng kỵ khí

2 Các chủng vi khuẩn hiện diện ở khe mũi giữa

Staphylococcus aureus là loại vi khuẩn thường trú

chiếm tỷ lệ cao (35%) Đây cũng là loại vi khuẩn gây

bệnh viêm mũi xoang Do đó sự hiện diện của vi khuẩn

này ở khe mũi giữa cần có thêm những yếu tố hỗ trợ

khác như lượng bạch cầu trong dịch mũi khe giữa, các

dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh nội soi, CT scan trong

trường hợp viêm xoang mạn tính Bolger và cộng

sự tìm thấy tỷ lệ này là 21%, Klossek và cộng sựtìm

thấy tỷ lệ này là 19% Elisabeth Araujo tìm thấy là 18%

Staphylococcus Coagulase Negative: được phân

lập từ khe mũi giữa với tỷ lệ 28% Klossek và cộng sự

tìm thấy ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn, tỷ lệ vi

khuẩn này là 24% và 46% ở nhóm chứng là người

khoẻ mạnh

Enterobacter: là loại vi khuẩn Gram âm có đặc tính

cực kỳ thay đổi, hiện diện trong khe mũi giữa là 24%,

của tác giả Elizabeth là 18% Trong trường hợp viêm

xoang mạn chúng thường phóng thích chất độc tế bào

và men tiêu huỷ protein Các vi sinh vật này thường

được phân lập trong những trường hợp viêm xoang

mắc phải do nhiễm trùng bệnh viện

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ

vi khuẩn và loại vi khuẩn được phân lập được giữa 2

bên hốc mũi phải và trái (p>0,01)

3 Sự nhạy cảm kháng sinh của các vi khuẩn

Nhóm tụ cầu vẫn còn nhạy cảm với kháng sinh như

Gentamicine, Bactrim,

Nhóm trực trùng Gram âm có tỷ lệ đề kháng cao

với Gentamicine (81,72%-84,62%) và Bactrim

(17,86%- 46,15%) Đặc biệt kháng sinh nhóm

Ciproflocacin và Levofloxacine có tỷ lệ nhạy cảm cao,

có loại đạt tỷ lệ nhạy cảm là 100%

(Pseudomonas và Enterobacter) Đây là đặc điểm có

lợi, cần tránh sử dụng bừa bãi những loại kháng sinh

này để tránh tình trạng kháng thuốc nếu như thuốc

dùng không đúng chỉ định của nó Kháng sinh đồ luôn

là tài liệu quý giá giúp đánh giá được loại kháng sinh vi

khuẩn còn nhạy cảm để có hướng điều chỉnh kháng sinh cho phù hợp

KếT LUậN Qua nội soi dùng tăm bông nhỏ vô khuẩn có thể lấy bệnh phẩm ở khe mũi giữa mà không cần phải chọc xoang Đây là một kỹ thuật đơn giản, không xâm lấn, không gây khó chịu cho bệnh nhân, dễ thực hiện, ít tốn kém và có thể thực hiện ngay tại phòng khám tai mũi họng Trong trường hợp bình thường khe mũi giữa vẫn

có sự hiện diện của các vi khuẩn thường trú thường

aureus, Staphylococcus coagulase negative,… Đây cũng là những vi khuẩn thường gặp trong viêm mũi xoang mạn Đặc biệt các vi khuẩn thường gặp trong viêm mũi xoang cấp như Hemophylus influenza, Streptococcus pneumonia, Morraxella catarrhalis… thì không thấy hiện diện trong khe mũi giữa ở người khoẻ mạnh

TàI LIệU THAM KHảO

(2009), “Xu hướng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện trung ương quân đội 108”, Tạp chí nghiên cứu Y Dược học Quân sự

2 Hoàng Kim Huyền, “Sử dụng kháng sinh hợp lý và

an toàn”, Tài liệu sau đại học- chuyên đề dược lâm sàng, Trường đại học dược Hà Nội

Phan Hữu Ngọc Minh (2012), “Khảo sát sự đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn hiếu khí gây bệnh trong viêm mũi xoang”, Nội san Hội nghị Khoa học kỹ thuật toàn quốc

4 Nguyễn Hoàng Sơn (1996), “Góp phần nghiên cứu nhiễm khuẩn hô hấp trên ở trẻ em qua điều tra theo dõi một số vùng tại Việt Nam”, Luận văn PTS khoa học y dược, Hà Nội

5 Araujo E, Dall C, Cantarelli V (2007), Microbiology

of Middle Meatus in Chronic Rhinosinusitis, Rev Bras Otorhinolaryngology, 73(4):549-55

rhinosinusitis, Otolaryngol Clin North Am; 33(2)

sinusitis in Mexican patients, Archives of medical research 37;395-398

8 Lindback M., Melby K.K., Schoyen R., Hjordahl P

specsimens from Patients with a chinical diagnosis of acute sinusitis”, Journal – Article form Pub Med

9 Pichichero ME (2009), “Antibiotic Therapy for Acute Otitis, Rhinosinusitis, and Pharyngotonsillitis”, Pediatric Otolaryngology for the Clinician, Springer, pp 3-13

NHậN XéT BƯớC ĐầU KếT QUả ĐIềU TRị CắM LạI RĂNG Bị BậT KHỏI HUYệT ổ RĂNG

DO CHấN THƯƠNG

Trần Thị Mỹ Hạnh, Mai Đình Hưng, Phạm Thị Thu Hiền Tóm tắt

Ngày đăng: 20/08/2015, 16:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tuổi nhóm nghiên cứu (n=50) - TÌM HIỂU VI KHUẨN ái KHÍ TRONG KHE mũi GIỮA ở NGƯỜI TÌNH NGUYỆN KHỎE MẠNH
Bảng 1. Tuổi nhóm nghiên cứu (n=50) (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w