THAY ĐổI CảM GIáC PHÂN BIệT HAI ĐIểM TRÊN DA Và TốC Độ DẫN TRUYềN THầN KINH ở CáC BệNH NHÂN Có BệNH ĐA DÂY THầN KINH Bùi Minh Thu, Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Tiến Dũng TóM TắT Đặt vấn đ
Trang 1hoại tử, các bạch cầu, thực bào, đại thực bào đến dọn
dẹp, giải phóng enzym và sản phẩm quá trình viêm làm
dãn rộng khoảng DCQR Sang đến tuần thứ 2, khe
DCQR trở lại bình thường, chứng tỏ quá trình liền thương
tốt, không có hiện tương viêm nhiễm xảy ra Đến tuần
thứ tư, cả 9 răng đều thấy khe DCQR hẹp lại Có nhiều
vùng mất khe DCQR Chân răng bắt đầu tiêu Đến 8
tuần và 12 tuần, hình ảnh tiêu chân răng thay thế, mất
khoảng sáng khe DCQR quan sát được trên tất cả các
phim X quang Tuần thứ 8, xuất hiện tiêu thay thế là do
khi DCQR bị mất hoặc hoại tử tiếp xúc với xương và hủy
cốt bào thì mô cứng của chân răng sẽ tham gia vào quy
trình sửa chữa Khi đó chân răng bị tiêu và xương được
hình thành trên bề mặt chân răng
Kết luận
Không có biểu hiện nhiễm trùng sau cắm lại răng
muộn
Thỏ ăn được bình thường sau 2 tuần cắm lại răng
muộn
- Hiện tượng tiêu thay thế bắt đầu xuất hiện từ tuần
thứ tư, và gặp ở tất cả các răng cắm lại từ tuần thứ 8 trở
đi
TàI LIệU THAM KHảO
1 Bộ Môn Mô Học - Phôi Thai Học (2001):" Kỹ thuật Mô
Học" Hội Nghị Mô Phôi Học Toàn Quốc Lần Thứ 4, tr 1- 6
2 Andreasen JO (1970): “Etiology and pathogenesis
of traumatic dental injuries A clinical stydy of 1298 cases”
Scand J Dent Res 1970, 78: 329-342
3 Andreasen J.O (1981): “Relationship between cell
damage in the periodontal ligament after replantation and subsequent development of root resorption” Acta Odont Scand 1981(b), 39:15-25
4 Andreasen J.O (1981): “Effect of extra-alveolar period and storage media upon periodontal ad pulpal healing after replantation of mature permanent incisors in monkeys” Int J Oral Surg 1981(c), 10: 45-53
5 Andreasen JO, Nigaard J, Borum M, Andreasen F.M (1996): “Re- plantation of 400 traumaticaly avused permanant incisors, Diagnosis of healing complication”, Acta Odontol scand, (24);pp 287-306
6 Frank J.M Verschaete et al (2005): “Dentistry in pet rabbits”, Compendium, pp 671-683
7 Gulinelli JL, Panzarini SR, Fattah CM et al (2008):
“Effect of root surface treatment with propolis and fluoride
in delayed tooth replantation in rat” Dent Traumatol, 24(6): pp 651-7
8 Guzman Martinez N, Silva Herzog FD, Mendez GV
et al (2009): “The effect of Emdogain and 24 EDTA root conditioning on periodontal healing of replanted dog’s teeth” Dent Traumatol, 25(1): pp 43-50
9 Mori GG, Nunes DC et al (2010): “Propolis as storage media for avulsed teeth microscopic and morphometric analysis in rats” Dent Traumatol, 26(1): pp 80-5
10 Negri MR, Panzarini SR, Poi WR et al (2008):
“Analysis of the healing process in delayed tooth replantation after root canal filling with calcium hydroxide, Sealapex and Endofill: a microscopic study in rats” Dent Traumatol, 24(6): pp 645-50
THAY ĐổI CảM GIáC PHÂN BIệT HAI ĐIểM TRÊN DA Và TốC Độ DẫN TRUYềN THầN KINH
ở CáC BệNH NHÂN Có BệNH ĐA DÂY THầN KINH
Bùi Minh Thu, Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Tiến Dũng TóM TắT
Đặt vấn đề: Rối loạn cảm giác phân biệt hai điểm
trên da và tốc độ dẫn truyền thần kinh là triệu chứng
đầu tiên của các biến chứng thần kinh ở các bệnh
nhân có bệnh đa dây thần kinh
Mục tiêu: So sánh sự thay đổi ngưỡng cảm giác
phân biệt hai điểm trên da và tốc độ dẫn truyền thần
kinh ở bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh với những
người bình thường
Đối tượng nghiên cứu: 32 bệnh nhân bị bệnh đa
dây thần kinh, điều trị nội trú, ngoại trú tại khoa nội
Thần kinh và khoa Nội tiết Viện Quân y 103 và 31
người bình thường khoẻ mạnh
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Kết quả: Ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên
da ở tất cả các vị trí của nhóm bệnh tăng cao hơn
nhóm chứng; Rối loạn cảm giác phân biệt hai điểm
trên da là triệu chứng thần kinh xuất hiện sớm và có tỷ
lệ cao ở bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh (100%
bệnh nhân nghiên cứu); - Kết quả dẫn truyền vận động
giữa nhóm bệnh và nhóm chứng:Thời gian tiềm tàng
ngoại vi của các dây thần kinh: giữa, trụ, chày, mác
của nhóm bệnh tăng từ 1,18 đến 1,65 lần so với nhóm chứng; Tốc độ dẫn truyền của các dây thần kinh giữa, trụ, chày, mác của nhóm bệnh giảm từ 1,37 đến 1,49 lần so với nhóm chứng; Biên độ đáp ứng của các dây thần kinh giữa, trụ, chày, mác của nhóm bệnh giảm từ 1,32 đến 2,56 lần so với nhóm chứng; Đáp ứng của các dây thần kinh giữa, trụ, mác của nhóm bệnh giảm
từ 1,5 đến 1,9 lần so với nhóm chứng - Kết quả dẫn truyền cảm giác giữa nhóm bệnh và nhóm chứng: Thời gian tiềm tàng của các dây thần kinh: giữa, trụ, mác của nhóm bệnh tăng từ 2 đến 2,27 lần so với nhóm chứng; Tốc độ dẫn truyền của các dây thần kinh giữa, trụ, mác của nhóm bệnh giảm từ 1,7 đến 2 lần so với nhóm chứng; Biên độ đáp ứng của các dây thần kinh giữa, trụ, mác của nhóm bệnh giảm từ 1,5 đến 1,9 lần
so với nhóm chứng
Kết luận: Ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da
và kết quả đo dẫn truyền thần kinh ở bệnh nhân có bệnh
đa dây thần kinh thay đổi rõ rệt so với nhóm chứng
Từ khoá: Ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da; tốc độ dẫn truyền thần kinh
Trang 2SUMMARY
Introduction: Disorder of feeling differentiation at
two points on skin and the velocity of
neurotransmission are the first symptom of neuron
complication among patients of multi-nerves disease
Objective: To compare the change in thresholds of
feeling differentiation at two points on skin to the space
of neurotransmission between patients with multi-nerve
disease and ordinary people
Samples: 32 in-patients and out-patients with
multi-nerves disease at Neurology and Urology Division,
Internal Medicine Department, at 103 Military Hospital
and 31 ordinal people
Research methods: Cross-sectional study
Results: The thresholds of feeling differentiation at
every point on skin are higher among experimental
group than those of normal people; The disorder of
feeling differentiation at two points on skin is the
nervous symtomp appeared early and accounts for a
significant ratio at patients of multi-nerves disease
(100% of the study samples);
Results on mobility transmission of experimental
and control groups: The peripheral potential duration of
middle nerve, peroneal nerve, pillar nerve, and pestle
nerve increases from 1.18 times to 1.65 times,
comparing to control group; the rate of the
neurotransmission of those nerves in experimental
group decreases from 1.37 times to 1.49 times in
comparison to that in control group; The required
amplitude of the nerves in experimental group declines
from 1.32 times to 2.56 times in comparison to control
group; There is a decrease from 1.5 times to 1.9 times
in term of the nerves’ responses in the experimental
patients, against the control group – Results on
sensory transmission between experimental and
control groups: The peripheral potential duration of
middle nerve, peroneal nerve, pillar nerve, and pestle
nerve increases from 2 times to 2.27 times in the
experimental group in comparing to the control group;
The velocity of the transmission reduces from 1.7
times to 2 times, comparing to the control group; A
decrease from 1.5 times to 1.9 times is identified in the
required amplitude of the nerves amongst patients in
the experimental group, against that of those in the
control group
Conclusion: The differential thresholds at two points
on skin and the neurotransmission in patients with
multi-nerves disease change signicantly in comparison
to those of the control group
Keywords: two-points feeling differentiation on
skin; velocity of neurotransmission
ĐặT VấN Đề
Trong hoạt động của hệ thần kinh, cảm giác có vai
trò rất quan trọng, đó là khâu đầu tiên trong thành
phần của cung phản xạ Trong thời gian gần đây cảm
giác phân biệt hai điểm trên da đã được một số tác giả
nghiên cứu [1], [3] Rối loạn cảm giác phân biệt hai
điểm trên da là triệu chứng đầu tiên của các biến
chứng thần kinh ở các bệnh nhân có bệnh đa dây thần
kinh
Để phát hiện bệnh hiện nay trong thực tế người ta chủ yếu dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và kết quả
điện sinh lý thần kinh ở Việt Nam gần đây có một số tác giả đã nghiên cứu ngưỡng cảm giác phân biệt hai
điểm trên da nhưng các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở người bình thường và bệnh nhân viêm đa dây thần kinh
do đái tháo đường [1], [2] Một số tác giả áp dụng phương pháp đo tốc độ dẫn truyền thần kinh để chẩn
đoán tổn thương thần kinh ngoại vi đã nhận thấy phương pháp này có hiệu quả nhất giúp chẩn đoán sớm tổn thương thần kinh ngoại vi [4] Tuy nhiên không phải lúc nào và ở đâu cũng thực hiện được do kỹ thuật cần trang thiết bị hiện đại Mặt khác trên thực tế không phải lúc nào cũng có sự song hành giữa triệu chứng lâm sàng và thay đổi điện sinh lý trên bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh Có bệnh nhân triệu chứng tổn thương trên lâm sàng rõ nhưng chỉ số điện sinh lý lại không thay đổi hoặc thay đổi ít và ngược lại Xuất phát
từ nhận xét trên chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:
So sánh sự thay đổi ngưỡng cảm giác phân biệt hai
điểm trên da và tốc độ dẫn truyền thần kinh ở bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh với những người bình thường
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhóm bệnh: 32 bệnh nhân bị bệnh đa dây thần kinh, điều trị nội trú, ngoại trú tại khoa nội Thần kinh và khoa Nội tiết Viện Quân y 103
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
* Tiêu chuẩn lâm sàng chung: Rối loạn vận động; Liệt hai chân hoặc tứ chi đồng thời hoặc tuần tự; Rối loạn cảm giác; Rối loạn phản xạ: phản xạ gân xương giảm hoặc mất; Rối loạn thực vật - dinh dưỡng da và tổ chức dưới da; Có thể có rối loạn cơ thắt
* Tiêu chuẩn loại trừ: Có tiền sử chấn thương tứ chi; Dùng các thuốc ức chế thần kinh; Có triệu chứng tổn thương dây thần kinh ngoại vi vì nguyên nhân khác; Nhược cơ
- Nhóm chứng: 31 người bình thường khoẻ mạnh (tuổi từ 20 - 70 không phân biệt giới, nghề nghiệp), không có tiền sử chấn thương tứ chi; không dùng các thuốc ức chế thần kinh; không có tiền sử tiếp xúc với kim loại nặng; không có triệu chứng tổn thương dây thần kinh ngoại vi; không nghiện rượu, không nhược cơ; không có bệnh lý cột sống
2 Phương tiện nghiên cứu
- Thước đo cảm giác phân biệt hai điểm trên da: Thước tự tạo theo phiên bản của Nguyễn Văn Chương
và cộng sự
- Máy đo dẫn truyền thần kinh: Đo chức năng dẫn truyền các dây thần kinh ngoại vi tứ chi bằng máy đo dẫn truyền thần kinh Neuro Pack S1 của hãng NIKODEN (Nhật Bản) tại Bộ môn Nội Thần kinh - Bệnh viện 103 Máy được đặt tại phòng điều hòa duy trì nhiệt độ phòng: 250C - 260C
3 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 3- Khám lâm sàng:
+ Phát hiện các tổn thương thần kinh ngoại vi
+ Khám phát hiện cảm giác phân biệt hai điểm trên
da: Đối xứng giữa hai bên cơ thể tại 26 vị trí
+ Đo dẫn truyền cảm giác của các dây thần kinh:
Đo tốc độ dẫn truyền cảm giác dây thần kinh giữa; dây
thần kinh trụ; dây thần kinh mác; dây thần kinh chày
+ Đo dẫn truyền vận động: Đo tốc độ dẫn truyền
vận động dây thần kinh giữa; Đo tốc độ dẫn truyền vận
động dây thần kinh trụ; Đo tốc độ dẫn truyền vận động dây thần kinh mác; Đo tốc độ dẫn truyền vận động dây thần kinh chày
4 Xử lý kết quả: Các số liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm thống kê y học
KếT QUả
1 So sánh giá trị trung bình ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da giữa nhóm bệnh và nhóm chứng Bảng 1
Nhóm
Vị trí
Nhóm chứng n=31 (mm) Χ1 ± SD
Nhóm bệnh n=32 (mm)
Χ2 ± SD
Chênh lệch tuyệt đối
Χ2-Χ1 Chênh lệch tương đối (%) (Χ2-Χ1)/Χ 1 p Bàn tay 9,59 ± 0,75 15,43 ± 1,90 5,84 60,9
<0,01
Ngón I 2,71 ± 0,49 5,55 ± 1,05 2,84 104,8
Ngón II 2,66 ± 0,45 5,39 ± 0,95 2,73 102,6
Ngón III 2,58 ± 0,50 5,16 ± 0,90 2,58 100
Ngón IV 2,63 ± 0,43 5,33 ± 0,98 2,70 102,7
Ngón V 2,59 ± 0,44 5,27 ± 0,92 2,68 103,5
Nhận xét: Ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da ở chi trên của nhóm bệnh tăng từ 1,7-2 lần so với nhóm chứng, chênh lệch cao nhất là ở các đầu ngón tay (p< 0,01)
Bảng 2 So sánh giá trị trung bình ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da ở chi dưới giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
Nhóm
Vị trí
Nhóm chứng n=31 (mm)
Χ1 ± SD Nhóm bệnh n=32 (mm) Χ2 ± SD Chênh lệch tuyệt đối Χ2-Χ1 Chênh lệch tương đối (%) (Χ2-Χ1)/Χ 1 p Cẳng chân 20,44 ± 0,92 25,79 ± 1,65 5,35 26,20
<0,01
Bàn chân 10,29 ± 0,73 17,33 ± 1,62 7,04 68,40
Ngón I 3,55 ± 0,47 6,83 ± 1,02 3,82 92,40
Ngón II 3,59 ± 0,44 6,64 ± 0,96 3,05 84,90
Ngón III 3,57 ± 0,38 6,44 ± 0,89 2,87 80,40
Ngón IV 3,58 ± 0,39 6,53 ± 0,88 2,95 82,40
Ngón V 3,59 ± 0,39 6,45 ± 0,98 2,86 79.70
Nhận xét: Ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da ở chi dưới của nhóm bệnh tăng từ 1,3-2 lần so với nhóm chứng, chênh lệch cao nhất là ở các đầu ngón chân, thấp nhất ở cẳng chân (p< 0,01)
2 So sánh giá trị trung bình kết quả điện sinh lý giữa nhóm chứng và nhóm bệnh
Bảng 3 So sánh giá trị trung bình kết quả dẫn truyền vận động giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
Nhóm đối tượng
Chỉ số Nhóm chứng (n =31) Χ1±SD Nhóm bệnh (n=32)
Χ2±SD Chênh lệch tuyệt đối
Χ1 -Χ2 Chênh lệch tương đối (%) (Χ1 -Χ2)/ Χ1 p Thời gian
tiềm tàng
ngoại vi
(ms)
Dây thần kinh giữa 3,69 ± 0,24 4,63 ± 1,03 0,94 25,47
<0,01
Dây thần kinh trụ 3,16 ± 0,46 3,88 ± 1,13 0,72 22,78
Dây thần kinh chày 4,57 ± 0,49 7,55 ± 1,65 2,98 65,20
Dây thần kinh mác 3,95 ± 0,67 6,50 ± 1,40 2,55 64,56
Biên độ
đáp ứng
(mV)
Dây thần kinh giữa 12,23 ± 2,93 8,22 ± 3,50 4,01 48,78
Dây thần kinh trụ 10,48 ± 3,09 6,53 ± 3,43 3,95 60,49
Dây thần kinh chày 11,75 ± 2,65 8,88 ± 4,70 2,87 32,32
Dây thần kinh mác 10,28 ± 2,69 4,01 ± 2,86 6,27 156,36
Tốc độ
dẫn
truyền
(m/s)
Dây thần kinh giữa 58,45 ± 9,04 45,89 ± 9,89 4,18 9,11
Dây thần kinh trụ 56,03 ± 7,03 46,85 ± 7,62 9,17 19,57
Dây thần kinh chày 50,07 ± 7,03 37,64 ± 7,89 18,39 48,86
Dây thần kinh mác 49,97 ± 6,39 36,30 ± 7,93 13,67 37,66
Nhận xét:
- Thời gian tiềm tàng ngoại vi của các dây thần kinh: giữa, trụ, chày, mác của nhóm bệnh tăng từ 1,18 đến 1,65 lần so với nhóm chứng
- Tốc độ dẫn truyền của các dây thần kinh giữa, trụ, chày, mác của nhóm bệnh giảm từ 1,37 đến 1,49 lần so với nhóm chứng
- Biên độ đáp ứng của các dây thần kinh giữa, trụ, chày, mác của nhóm bệnh giảm từ 1,32 đến 2,56 lần so với nhóm chứng
Trang 4Bảng 4 So sánh giá trị trung bình kết quả dẫn truyền cảm giác giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
Nhóm đối tượng
Chỉ số Nhóm chứng (n =31) Χ1±SD Nhóm bệnh (n=32)
Χ2±SD Chênh lệch tuyệt đối
Χ1 -Χ2 Chênh lệch tương đối (%) (Χ1 -Χ2)/ Χ1 p Thời gian
tiềm tàng
(ms)
Dây thần kinh giữa 2,58 ± 0,69 5,88 ± 2,97 3,3 127,9
<0,01
Dây thần kinh trụ 2,75 ± 0,65 5,63 ± 3,32 2,88 104,73
Dây thần kinh mác 3,09 ± 1,52 6,84 ± 3,42 3,75 121,36
Biên độ
đáp ứng
(àV)
Dây thần kinh giữa 44,17±11,82 26,06± 13,30 18,11 69,49
Dây thần kinh trụ 45,87± 10,50 29,22 ±12,40 16,65 56,98
Dây thần kinh mác 42,53± 13,69 21,17± 15,49 21,36 100,89
Tốc độ dẫn
truyền
(m/s)
Dây thần kinh giữa 59,90± 6,80 32,72 ± 15,97 27,18 83,07
Dây thần kinh trụ 56,24 ± 7,05 31,70 ± 15,57 30,22 115,83
Dây thần kinh mác 52,31 ± 7,94 26,09 ± 16,85 26,22 100,49
Nhận xét:
- Thời gian tiềm tàng của các dây thần kinh: giữa,
trụ, mác của nhóm bệnh tăng từ 2 đến 2,27 lần so với
nhóm chứng
- Tốc độ dẫn truyền của các dây thần kinh giữa, trụ,
mác của nhóm bệnh giảm từ 1,7 đến 2 lần so với nhóm
chứng
- Biên độ đáp ứng của các dây thần kinh giữa, trụ,
mác của nhóm bệnh giảm từ 1,5 đến 1,9 lần so với
nhóm chứng
BàN LUậN
Qua nghiên cứu 32 đối tượng là những bệnh nhân
có bệnh đa dây thần kinh đã được chẩn đoán và điều
trị tại khoa Nội Thần kinh và Nội tiết Viện Quân y 103
và 31 đối tượng được chọn ngẫu nhiên trong số học
viên đại học, sau đại học và cán bộ nhân viên của Học
viện Quân y chúng tôi nhận thấy:
1 So sánh giá trị trung bình ngưỡng cảm giác
phân biệt hai điểm trên da giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng
Có 32 bệnh nhân (100% nhóm bệnh) biểu hiện rối
loạn cảm giác; 100% có rối loạn cảm giác phân biệt hai
điểm trên da.Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp
với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả: rối loạn cảm
giác là biểu hiện sớm và thường xuyên của bệnh nhân
có bệnh đa dây thần kinh [6], [7] Rối loạn cảm giác
phân biệt hai điểm trên da thường xuất hiện đầu tiên,
các rối loạn cảm giác khác thường xuất hiện muộn hơn
[7] Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chưa có
điều kiện để phân tích rõ những rối loạn cảm giác khác
Như vậy, trên lâm sàng nếu bệnh nhân được khám
thần kinh thật tỉ mỉ thì có thể phát hiện được biến chứng
thần kinh sớm ngay cả những bệnh nhân mới mắc
bệnh dưới 1 năm [8], [9]
- Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% bệnh nhân có
bệnh đa dây thần kinh có tăng ngưỡng cảm giác phân
biệt hai điểm trên da
- Mức độ chênh lệch trung bình của ngưỡng cảm
giác phân biệt hai điểm trên da nhóm bệnh tăng gấp
1,3 - 2 lần so với nhóm chứng
- Chênh lệch tuyệt đối của ngưỡng cảm giác phân
biệt hai điểm trên da là hiệu số giữa ngưỡng cảm giác
phân biệt hai điểm trên da trung bình tại các vị trí đo
của nhóm người bình thường và nhóm bệnh Theo một
số tác giả, chỉ số này lớn nhưng ít có ý nghĩa trong
đánh giá mức độ tăng ngưỡng cảm giác phân biệt hai
điểm trên da khi so sánh nhóm bệnh và nhóm chứng
- Chênh lệch tương đối của ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da của nhóm bệnh và nhóm chứng là
tỷ lệ của chênh lệch giá trị tuyệt đối trung bình và giá trị trung bình của các ngưỡng cảm giác phân biệt hai
điểm trên da tại điểm đo đó của nhóm chứng
Nó thể hiện độ chênh lệch bằng bao nhiêu phần trăm (%) so với nhóm chứng Giá trị này rất có ý nghĩa vì nó cho ta biết vị trí nào của bệnh nhân thay đổi nhiều nhất, lớn nhất của ngưỡng cảm giác Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 ; 3.2 cho thấy sự chênh lệch lớn nhất là
ở đầu ngón tay (100-104,8%) và các đầu ngón chân (79,70-92,40%) Các vị trí khác sự chênh lệch ít hơn (26,20-68,40%) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2004) Như vậy, rối loạn cảm giác phân biệt hai điểm trên da xuất hiện sớm nhất ở đầu ngón tay, ngón chân, sau đó đến bàn tay, bàn chân và cẳng chân
2 So sánh giá trị trung bình kết quả điện sinh lý giữa nhóm chứng và nhóm bệnh
Nghiên cứu điện thần kinh là phương pháp khảo sát
có giá trị cao trong chẩn đoán bệnh lý thần kinh ngoại
vi [2] Phương pháp đo dẫn truyền vận động, cảm giác các dây thần kinh ngoại vi được dựa theo nguyên tắc chung: cơ thể là môi trường dẫn điện, kích thích điện tại một điểm của dây thần kinh sẽ tạo ra được một xung
động lan dọc theo sợi trục đến tận cùng thần kinh và
điện thế hoạt động này có thể gián tiếp ghi được trên
da thông qua các điện cực bề mặt
Các biểu hiện bất thường của tốc độ dẫn truyền thần kinh: tổn thương hoặc rối loạn chức năng sợi trục sẽ dẫn
đến giảm biên độ điện thế, ngược lại mất myelin sẽ dẫn
đến kéo dài thời gian dẫn truyền Trên thực tế, việc phân tích kết quả nhiều khi không đơn giản do hai loại tổn thương trên cùng tồn tại, phối hợp với nhau Ghi thời gian dẫn truyền xung động, ta sẽ đánh giá được tình trạng dẫn truyền của dây thần kinh [2]
Trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị bệnh đa dây thần kinh, phương pháp đo tốc độ dẫn truyền vận động
và cảm giác đang được áp dụng rộng rãi tại những nước phát triển và dần dần được áp dụng tại Việt Nam giúp cho việc chẩn đoán, theo dõi và tiên lượng bệnh
đa dây thần kinh nói riêng và bệnh lý thần kinh nói chung
Trang 5- So sánh dẫn truyền cảm giác
Kết quả đo dẫn truyền cảm giác ở nhóm bệnh cho
thấy mức độ chênh lệch của các chỉ số dẫn truyền thần
kinh ở nhóm bệnh tăng hoặc giảm rõ rệt so với nhóm
chứng (Bảng 3) Trong đó dẫn truyền cảm giác có sự
chênh lệch trội hơn dẫn truyền vận động Kết quả này
cho thấy trên những bệnh nhân có bệnh đa dây thần
kinh thường có sự tổn thương phối hợp cả sợi trục
(giảm biên độ đáp ứng) và bao myelin (giảm thời gian
tiềm tàng) Do vậy trong nhiều trường hợp sự phân biệt
rành rọt hai loại tổn thương là rất khó Nếu một trường
hợp có giảm rõ rệt tốc độ dẫn truyền mà biên độ đáp
ứng (vận động và cảm giác) về cơ bản là bình thường
thì ta coi đây là bệnh đa dây thần kinh kiểu huỷ myelin
chiếm ưu thế Ngược lại nếu không có chậm tốc độ dẫn
truyền chỉ có giảm biên độ thì rất có thể đây mới là quá
trình tổn thương sợi trục và khởi đầu của huỷ myelin
Tóm lại một huỷ myelin nặng thường kết hợp thoái
hoá sợi trục và ngược lại một bệnh thần kinh ngoại vi có
tổn thương sợi trục thì cũng hay gây huỷ myelin thứ phát
Như vậy, biên độ đáp ứng, tốc độ dẫn truyền cảm
giác của các dây thần kinh (giữa, trụ, mác) của nhóm
bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh giảm hơn nhóm
chứng;Thời gian tiềm tàng của nhóm bệnh kéo dài hơn
thời gian tiềm tàng ở nhóm chứng
- So sánh dẫn truyền vận động
Kết quả đo dẫn truyền vận động trên nhóm bệnh
cho thấy các chỉ số dẫn truyền vận động của các dây
thần kinh giữa, trụ, chày, mác ở hai bên cơ thể là như
nhau (p > 0,05) (Bảng 4) Điều này phù hợp với lâm
sàng, trong bệnh đa dây thần kinh, các dây thần kinh
ngoại vi thường tổn thương có tính chất đối xứng hai
bên.Các dây thần kinh khác nhau có sự khác nhau về
chỉ số dẫn truyền thần kinh, phù hợp với kết quả nghiên
cứu trên nhóm chứng: Biên độ đáp ứng thấp nhất ở dây
thần kinh: mác 4,01 mV; cao nhất ở dây thần kinh: chày
8,88 mV; Thời gian tiềm tàng ngắn nhất ở dây thần kinh:
trụ 3,88 ms; dài nhất ở dây thần kinh: chày 7,55 ms;
Mức độ chênh lệch các chỉ số dẫn truyền thần kinh ở
nhóm bệnh tăng hoặc giảm hơn rõ rệt so với nhóm
chứng; Thời gian tiềm tàng ở nhóm bệnh kéo dài hơn
nhóm chứng từ 22,78% đến 65,20%; Tốc độ dẫn truyền
nhóm bệnh giảm hơn nhóm chứng từ 9,11% đến
48,86%; Biên độ đáp ứng ở nhóm bệnh giảm hơn nhóm
chứng từ 32,32% đến 156,36%; Tốc độ dẫn truyền vận
động chậm nhất ở dây thần kinh: mác 36,30 m/s);
nhanh nhất ở dây thần kinh trụ: 46,85 m/s
KếT LUậN Ngưỡng cảm giác phân biệt hai điểm trên da ở tất cả các vị trí của nhóm bệnh tăng cao hơn nhóm chứng; Rối loạn cảm giác phân biệt hai điểm trên da là triệu chứng thần kinh xuất hiện sớm và có tỷ lệ cao ở bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh (100% bệnh nhân nghiên cứu);
Kết quả đo dẫn truyền thần kinh ở bệnh nhân có bệnh đa dây thần kinh thay đổi rõ rệt so với nhóm chứng
KIếN NGHị Trong thực hành khám lâm sàng thần kinh nói riêng
và nội khoa nói chung Khám cảm giác phân biệt hai
điểm trên da cần được quan tâm và áp dụng như những phương pháp khám lâm sàng khác
TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2005), "Nghiên cứu cảm giác phân biệt hai điểm trên da ở một nhóm người bình thường và bệnh nhân đái tháo đường", Tạp chí
Y - Dược học quân sự, tháng 3, Học viện Quân y
2 Lê Quang Cường (1999), “Nghiên cứu biểu hiện thần kinh ngoại vi ở người trưởng thành đái tháo đường bằng ghi điện cơ và đo tốc độ dẫn truyền thần kinh ngoại
vi, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội
3 Nguyễn Mạnh Dũng và cộng sự (2004), Nghiên cứu cảm giác phân biệt hai điểm trên da ở một nhóm người bình thường và trên bệnh nhân tiểu đường týp 2, Công trình đạt giải 3 VIFOTEC-2004
4 Vũ Anh Nhị (1996), Nghiên cứu bệnh lý thần kinh ngoại biên do đái tháo đường bằng phương pháp chẩn
đoán điện, Luận án phó tiến sỹ khoa học y dược thành phố Hồ Chí Minh
5 Essick G.K., Phillips and Zuniga J (2007), "Effect of facial sensosy re-training on sensosy thresholds", J Dent Res, Vol 86(6), pp 571-575
6 Marty J., Porcher B., Autissier R (1983), “Hand injuries and occupational accidents”, Statistics and prevention, Ann Chir Main, Vol 2, pp 68–70
7 Oleske D., Hahn J (1992), “Work-related injuries of the hand: data from an occupational injury/illness surveillance system”, J Community Health, 17, pp 205–
219
8 Phillip A Low (2005), Pathogenesis of diabetes neuphropathy, Joslin Diabetes Center, Fourteen Edition, pp.839-852
9 Stephen C.J., Sally M.M (2004), “Diabetes Neurophathy”, Jones Wiley & Sons Ltd,Thirth Edition, Vol
I, pp.1219-1252
Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Mecook
đối với chức năng và hình thái gan và thận trên động vật thực nghiệm
Phạm Viết Dự - Viện Y học cổ truyền Quân đội Tóm tắt
Chế phẩm Mecook được dùng đánh giá chức năng,
hình thái gan và thận trên thỏ thực nghiệm Kết quả
nghiên cứu cho thấy với liều 0,12g/kg/ngày (tương
đương liều dùng cho người) và 1,2g/kg/ngày (gấp 10
lần liều dùng cho người), uống liên tục trong 4 tuần:
Không làm thay đổi kết quả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan (ALT, AST,bilirubin toàn phần, protein)
và chức năng thận (U re, creatinin) của thỏ; cấu trúc vi thể gan thỏ ở lô uống thuốc thử, tế bào gan bình thường, không có thoái hoá Tuy vậy, trên cấu trúc vi