THựC TRạNG HOạT ĐộNG Và CáCH CHI TRả KHáM CHữA BệNH TạI MộT TRạM Y Tế Xã MIềN NúI TỉNH THáI NGUYÊN Phạm Hồng Hải - ĐH Kinh tế và QTKD Nguyễn Đức Trọng, Trần Quang Lâm Bảo hiểm xã hội Vi
Trang 1Y học thực hành (870) - số 5/2013 113
chất oxy hóa ảnh hưởng đến phục hồi chức năng tim
sau PT Do đó nhiều tác giả đã nhận thấy rằng rối loạn
chuyển hóa cũng là một yếu tố nguy cơ của phục hồi
chức năng tim sau PT pH giảm, toan chuyển hóa ở mô
cơ tim là các yếu tố tiên lượng cho việc dùng thuốc
tăng cường co bóp cơ tim sau THNCT[8] Trong nghiên
cứu của chúng tôi do không có điều kiện nên chúng tôi
không đánh giá vấn đề rối loạn chuyển hóa cơ tim
Ngoài ra một số yếu tố nguy cơ khác của LCOS
sau PT tim cũng được các tác giả đề cập đến: tính chất
PT (cấp cứu hay có chuẩn bi), PT lại, PT kết hợp cầu
vành và van tim, nhồi máu cơ tim,diện tích cơ thể …
Kết luận
Như vậy nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra 6 yếu
tố nguy cơ của LCOS bao gồm: chỉ số tim trước PT ≤
2,5 l/phút/m2, NYHA III, IV; truyền khối hồng cầu trong
PT ≥ 750 ml, thời gian kẹp ĐMC ≥ 90 phút, ALTTĐMP≥
50 mmHg, thời gian THNCT ≥ 120 phút Các bác sỹ có
thể tác động đến các yếu tố như thời gian kẹp ĐMC,
thời gian THNCT (bằng nâng cao kỹ thuật phẫu thuật)
và chỉ định chặt chẽ truyền khối hồng cầu trong PT có
thể làm giảm nguy cơ LCOS sau PT
TàI LIệU THAM KHảO
1 Algarni K.D.,Yau T.M.(2011), Predictors of Low
Cardiac Output Syndrome After Isolated Coronary Artery
Bypass Surgery: Trends Over 20 Years, The Annals of
Thoracic Surgery, Volume 92, Issue 5: pp 1678 - 84
2 Fan Y., Zhang AM, Xiao YB et al (2010), Warm
versus cold cardioplegia for heart surgery: a
meta-analysis, Eur J Cardiothorac Surg., 37(4): pp 919-9
3 Maganti M, Badiwala M, Sheikh A et al(2010),
Predictors of low cardiac output syndrome after isolated mitral valve surgery, J Thorac Cardiovasc Surg, 140(4):
pp 790-6
4 Maganti M, Rao V, Borger MA et al (2005), Predictors of low cardiac output syndrome after isolated aortic valve surgery,Circulation-American Heart Association, 112(9 Suppl): pp I448-52
5 Miceli A, Fiorani B, Danesi TH et al (2009), Prophylactic intra-aortic balloon pump in high-risk patients undergoing coronary artery bypass grafting: a propensity score analysis., Interact CardioVasc Thorac Surg, 9(2):
pp 291-4
6 Rao V, Ivanov J, Weisel RD et al (1996), Predictors
of low cardiac output syndrome after coronary artery bypass, J Thorac Cardiovasc Surg: pp 38-51
7 Reich DL, Bodian CA, Krol M et al (1999), Intraoperative hemodynamic predictor of mortality, stroke, and myocardial infarction after coronary artery bypass surgery, Anesth Analg, 89: p 814
8 Robitaille A, Denault AY, Couture P et al (2006), IImportance of relative pulmonary hypertension in cardiac surgery: the mean systemic-to-pulmonary artery pressure ratio, J Cardiothorac Vasc Anesth, 20: pp 331- 9
9 Sá MP, Ferraz PE, Figueiredo O.J (2012), Risk factors for low cardiac output syndrome after coronary artery bypass grafting surgery, Rev Bras Cir Cardiovasc, 27(2): pp 217-23
10 Surgenor SD, Defoe GR, Fillinger MP et al (2006), Intraoperative red blood cell transfusion during coronary artery bypass graft surgery increases the risk of postoperative low-output heart failure, Circulation, 114: pp I43-I48
THựC TRạNG HOạT ĐộNG Và CáCH CHI TRả KHáM CHữA BệNH TạI MộT TRạM Y Tế Xã MIềN NúI TỉNH THáI NGUYÊN
Phạm Hồng Hải - ĐH Kinh tế và QTKD Nguyễn Đức Trọng, Trần Quang Lâm
Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành tại trạm y tế xã Phú
Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Kết quả nghiên cứu: Trạm y tế thiếu các trang thiết
bị khám chữa bệnh và thiếu thuốc; Tỷ lệ phụ nữ có thai
được khám thấp (52%),Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy
dinh dưỡng còn khá cao (20%), Tỷ lệ người dân tham
gia BHYT 63,8%; BHYT phải chi trả cho số lượt khám
chữa bệnh là 160,6%; Số tiền thuốc bình quân đầu
người/năm là 42 nghìn đồng Một số yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh: Cán
bộ TYT không được đào tạo về kỹ năng quản lý nên
còn yếu kém, không linh hoạt trong quản lý Tỷ lệ chẩn
đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý,
tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các
xét nghiệm Người dân lạm dụng thẻ BHYT để đi lĩnh
thuốc
Summary The study was conducted in Phu Thuong commune, Vo Nhai distric, Thai Nguyen province Research Methods: cross-sectional description Research results: CHC lacked of medical equipment, lacked of medicines; rate of pregnant women were examined low (52%), the percentage of children under age 5 suffer from malnutrition remains high (20 %), the percentage of people covered by health insurance 63.8%; health insurance to pay for medical care is 160.6%; drug money per person per year is 42 thousand VND Some factors affect to the work and the payment of health care: health staff are not trained in management skills so their skill are very weak, no flexibility in management The rate of suitable diagnosis
is not high, unsuitable prescribing, hight rate of moving patients, and abuse tests People who abuse the health insurance card to get more drug for themselve
Trang 2Y học thực hành (870) - số 5/2013 114
ĐặT VấN Đề
Trạm y tế xã là tuyến đầu tiên của hệ thống y tế
tiếp xúc trực tiếp với người dân nên có một vị trí cực kỳ
quan trọng Mọi nhu cầu về chăm sóc y tế của người
dân đều phải qua tuyến y tế cơ sở rồi mới lần lượt lên
các tuyến trên Nhờ vậy, tuyến này đã nắm chắc được
tình trạng sức khỏe và có phản ứng sớm nhất, nhanh
nhất tới sự thay đổi sức khỏe cộng đồng Xã Phú
Thượng, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên là một xã miền
núi Trạm y tế xã Phú Thượng đã và đang hoạt động
như thế nào để đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức
khỏe người dân miền núi? Có những thuận lợi và khó
khăn gì trong quản lý y tế tại trạm y tế ? Do vậy, nghiên
cứu này được tiến hành nhằm mục tiêu:
Mục tiêu
Mô tả thực trạng hoạt động và cách chi trả khám
chữa bệnh tại trạm y tế xã Phú Thượng, huyện Võ
Nhai, Thái Nguyên
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
và cách chi trả khám chữa bệnh tại địa bàn nghiên
cứu
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu: Trạm y tế xã
2 Địa điểm nghiên cứu: Xã Phú Thượng, huyện
Võ Nhai, Thái Nguyên
3 Thời gian nghiên cứu: năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả
- Cách chọn mẫu: Chọn chủ đích trạm y tế xã Phú
Thượng, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên
KếT QUả NGHIÊN CứU
Bảng 1 Đặc điểm trạm y tế xã tại địa bàn nghiên
cứu
Cơ sở vật chất
khoa
Số trang thiết bị
y tế cơ bản
Số trang thiết bị
chuyên khoa Thiếu Thiếu dụng cụ khám chữa răng, mắt, tai mũi họng
Số trang thiết bị sản khoa Thiếu Thiếu đèn cồn, giấy thử
albumin niệu, ống nghe tim
thai Thuốc cấp phát Bảo hiểm y tế
Nhân lực y tế (7 cán bộ)
Nhận xét: Trạm y tế xã đáp ứng đủ về nhân lực y
tế Các trang thiết bị y tế nghèo nàn, thiếu các thiết bị
chuyên khoa và sản khoa Thuốc cấp phát BHYT thiếu
về số lượng và chủng loại
Bảng 2 Tổ chức hoạt động tại trạm y tế xã
Hoạt động tại trạm y tế Thực hiện Năm 2012 Đánh giá
Truyền thông giáo dục sức khỏe Có Thường xuyên
Nhận xét: Nhìn chung, trạm y tế xã hoạt động tương đối tốt, tuy nhiên hoạt động cung ứng về thuốc chưa hiệu quả vì không có vốn xây dựng tủ thuốc ngoài danh mục BHYT
Bảng 3 Các chương trình y tế được thực hiện tại trạm y tế xã
Số lượng Đánh giá
Số lượt khám chữa bệnh 6.837 lần/người/năm 1,5
Số phụ nữ đặt dụng cụ tử cung 502/889 56,4%
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi uống vitamin A 308/367 84%
Nhận xét: Nhìn chung các chương trình y tế đã được triển khai khá tốt, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ có thai được khám một lần trong thai kỳ còn thấp (52%), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao (20%) Bảng 4 Nguồn chi trả tiền của người dân khi đi khám chữa bệnh tại trạm y tế
Chi trả tiền khám chữa bệnh Số lượng Năm 2012 Tỷ lệ %
Số người dân tham gia BHYT/Tổng số dân 2989/4687 63,8
Số lượt khám được BHYT chi trả toàn bộ/
Số lượt khám người dân tự chi trả 837/1698 49,3
Số lượt khám BHYT
và người dân cùng chi trả 1200/6837 17,5 Tiền thuốc bình quân/người/năm (đồng) 42.000
Nhận xét: Tỷ lệ người dân tham gia BHYT chiếm 63,8%; Số lượt khám chữa bệnh BHYT phải chi trả 160,6%; đồng chi trả giữa BHYT và người dân chiếm 17,5% Tỷ lệ người dân không tham gia BHYT và phải
tự chi trả chiếm 49,3%
Bảng 5 Các nguồn kinh phí của trạm y tế (ĐVT: Triệu đồng)
Các nguồn kinh phí của trạm y tế
Năm 2012 Tổng số tiền quân/tháng Bình Lương nhân viên y tế/tháng/7 người 22,8 3,25
Trang 3Y học thực hành (870) - số 5/2013 115
Nhận xét: Nguồn kinh phí chính của trạm y tế là
lương cán bộ y tế, với thu nhập bình quân hơn ba triệu
đồng/người/tháng Các nguồn khác không thường
xuyên (Dự án, phi chính phủ) Người dân không tham
gia đóng góp về tiền cho trạm y tế xã Nguồn thu từ
các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh, bán thuốc còn
thấp
Thảo luận nhóm trọng tâm về một số yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động của trạm y tế và cách chi trả
khám chữa bệnh của người dân:
Trạm y tế đáp ứng được về nguồn nhân lực y tế
theo chuẩn quốc gia về y tế xã, trạm có 2 bác sĩ là một
thuận lợi rất lớn cho nhu cầu phục vụ sức khỏe nhân
dân miền núi Hơn nữa, trạm thường xuyên lập kế
hoạch y tế và đánh giá các chương trình y tế, điều
chỉnh các hoạt động y tế phù hợp với mục tiêu của địa
phương Tuy nhiên, cán bộ y tế chưa được đào tạo
thường xuyên về chuyên môn, về quản lý Trạm chưa
thực sự năng động trong việc tạo ra các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe cho người dân như khám chữa bệnh, bán
thuốc Trong khi BHYT bị quá tải trong chi trả khám
chữa bệnh (160%) vẫn còn có nhiều người dân lạm
dụng thẻ người nghèo, thẻ BHYT để lĩnh thuốc về nhà
dự trữ Các nguồn kinh phí cho trạm y tế còn hạn hẹp,
số tiền thuốc/đầu người/năm đạt 42 nghìn đồng là thấp
so với nhu cầu của người dân
BàN LUậN
Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám
chữa bệnh của người dân
Kết quả bảng 1 cho thấy: Trạm y tế xã đáp ứng đủ
về nhân lực y tế Các trang thiết bị y tế nghèo nàn,
thiếu các thiết bị chuyên khoa và sản khoa Thuốc cấp
phát BHYT thiếu về số lượng và chủng loại Đây là
thực tế đã và đang tồn tại nhiều năm mà chưa được
khắc phục Thực tế này cũng là tình trạng chung cho
nhiều trạm y tế xã miền núi nói riêng và khu vực nói
chung Thiếu trang thiết bị khám chữa bệnh, thiếu
thuốc đã ảnh hưởng đến chất lượng các dịch vụ y tế
Hoạt động cung ứng về thuốc chưa hiệu quả vì không
có vốn xây dựng tủ thuốc ngoài danh mục BHYT
(Bảng 2) là điều cần phải tìm ra hướng giải quyết khi
chưa có nguồn ngân sách nhà nước Vấn đề đặt ra là
cơ chế hoạt động các dịch vụ và quản lý các dịch vụ
đó như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của người
dân nhưng đồng thời phải nâng cao trách nhiệm, y đức
gắn với quyền lợi của người Thầy thuốc?
Về các chương trình y tế được thực hiện tại trạm y
tế xã, bảng 3 cho thấy, nhìn chung các chương trình y
tế đã được triển khai khá tốt, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ có
thai được khám một lần trong thai kỳ còn thấp (52%),
tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao
(20%) Vấn đề sức khỏe bà mẹ và trẻ em là những vấn
đề lớn trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Phải
chăng tỷ lệ bà mẹ đi khám thai ít, tỷ lệ trẻ em bị suy
dinh dưỡng cao là do chất lượng của chương trình
truyền thông giáo dục?
Về nguồn chi trả của người dân khi khám chữa
bệnh, kết quả từ bảng 4: Tỷ lệ người dân tham gia
BHYT chiếm 63,8%; Số lượt khám chữa bệnh BHYT
phải chi trả 160,6%; đồng chi trả giữa BHYT và người dân chiếm 17,5% Tỷ lệ người dân không tham gia BHYT và phải tự chi trả chiếm 49,5% Như vậy, BHYT
đã và đang phải chi trả gấp 1,6 lần cho các dịch vụ y tế
mà người dân tham gia BHYT được nhận Tỷ lệ người dân tham gia BHYT chiếm 63,8% thấp hơn so với mục tiêu BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước Như vậy,
để ngừa nguy cơ vỡ quĩ bảo hiểm rõ ràng cần phải có cơ chế kiểm soát từ khám bệnh, chẩn đoán, chỉ định của Thầy thuốc, kê đơn thuốc, không lạm dụng các xét nghiệm cận lâm sàng, tăng cường các trang thiết bị, nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên y tế xã
để đạt hiệu quả điều trị cao, hạn chế chuyển tuyến gây tốn kém và quá tải cho bệnh viện tuyến trên Bên cạnh
đó, cần tìm ra cơ chế hoạt động tăng cường cung cấp
và sử dụng dịch vụ y tế để thu hút người dân, thu hút các nguồn đầu tư, nâng cao năng lực tự chủ của trạm y
tế nhằm làm tăng các nguồn thu của trạm y tế, góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ nhân viên y tế (Bảng 5)
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh
Về quản lý: Cán bộ TYT không dược đào tạo về kỹ năng quản lý nên thực sự còn lúng túng trong giải quyết vấn đề, chưa linh hoạt trong việc tạo ra cơ chế hoạt động các dịch vụ y tế
Về người dân: Lạm dụng thẻ BHYT để đi lĩnh thuốc về nhà dự trữ đã dẫn đến nguy cơ vỡ quĩ BHYT
Về cán bộ y tế: Do chuyên môn hạn chế nên tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm đã góp phần làm tăng chi trả tiền BHYT một cách lãng phí
KếT LUậN Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh của người dân
Trạm y tế thiếu các trang thiết bị khám chữa bệnh, thiếu thuốc
Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thấp (52%)
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao (20%)
Tỷ lệ người dân tham gia BHYT 63,8%
BHYT phải chi trả cho số lượt khám chữa bệnh là 160,6%
Số tiền thuốc bình quân đầu người/năm 42 nghìn
đồng Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh
- Cán bộ TYT không dược đào tạo về kỹ năng quản
lý nên còn yếu kém, không linh hoạt trong quản lý
- Tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm
- Người dân lạm dụng thẻ BHYT, thẻ người nghèo
để đi lĩnh thuốc về nhà dự trữ
TàI LIệU THAM KHảO
1 Bộ Y tế (2006), Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe, NXB Y học Hà Nội, tr 33
2 Bộ Y tế - Vụ khoa học và đào tạo (2001), Giáo dục
Trang 4Y học thực hành (870) - số 5/2013 116
và đào tạo nhân lực y tế, tr.3471
3 Bộ Y tế (2006), Tổ chức, quản lý y tế và chính sách
y tế, NXB Y học Hà Nội
4 Báo cáo kết quả thực hành cộng đồng (2012),
Thực trạng hoạt động trạm y tế xã Phú Thượng, Võ Nhai,
Thái Nguyên Nhóm sinh viên CNDD K6, Đại học Y Dược
Thái Nguyên
5 Đào văn Dũng, Nguyễn Đức Trọng (2009), Tổ chức
và quản lý y tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động - Xã
hội
6 Trường Đại học Y Hà Nội – Bộ môn tổ chức quản
lý y tế (2002), Bài giảng Quản lý và chính sách y tế, NXB
Y học Hà Nội
7 Charles E Phelps (1992), Health Ecomomics, Happer Collins Publishers Inc
8 Peter Zweifel, Friedrich Breyer (1997), Health Ecomomics, Oxford University Press, Inc
NGHIÊN CứU THựC TRạNG Sử DụNG KHáNG SINH TRONG BệNH VIệN NĂM 2012
Kiều Chí Thành, Đỗ Bá Quyết Bệnh viện 103 - Học viện Quân y Tóm tắt
Nghiên cứu việc sử dụng kháng sinh trong bệnh
viện cho thấy:
- Việc chỉ định dùng kháng sinh trong bệnh viện
103 còn khá rộng rãi, mục đích là dự phòng nhiễm
khuẩn chiếm tỷ lệ gần 50% Kháng sinh được sử dụng
đường tĩnh mạch trên 70% với thời gian sử dụng 5-14
ngày gần 70%
- Có 4 nhóm kháng sinh được dùng nhiều nhất là
Cephalosporin (thế hệ 2,3,4); quinolon, aminosid và 5-
nitro imidazol Chi phí dùng kháng sinh ở mức khá cao:
64,98% người bệnh có chi phí từ 100 - 500.000 đồng
24,58% người bệnh chi trả từ 500.000 đến 1 triệu
đồng/ngày
Từ khóa: sử dụng kháng sinh, đường tĩnh mạch,
bệnh viện, nhiễm khuẩn
Summary
Research the use of antibiotics in hospitals showed
that:
- The appointment of antibiotics in the hospital 103
also quite spacious, the goal is prevention of infections
account for nearly 50% Intravenous antibiotics are
used on 70% of the time use 5-14 days nearly 70%
- There are four groups of antibiotics used most:
Cephalosporin (2,3,4 generation); quinolones,
aminosid and 5-nitro imidazole The use antibiotic
costs quite high: 64.98% of patients pay from 100,000
to 500,000 VND 24.58% of patients pay from 500,000
to 1 million VND / day
Keywords: use antibiotic, intravenus, hospital,
infection
Đặt vấn đề
Sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện hiện nay
của nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam còn
nhiều vấn đề chưa thống nhất [4][5]Một trong những
vấn đề có ý nghĩa rất to lớn trong việc sử dụng kháng
sinh hợp lý để đạt được hiệu quả cao cho người bệnh
khi có nhiễm khuẩn đang gặp nhiều khó khăn Điều trị
kháng sinh có khả năng làm tăng sức đề kháng của vật
chủ, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn Tuy vậy,
những chỉ định chưa đúng rất thường gặp như điều trị
không theo loài vi khuẩn gây bệnh, điều trị theo kinh
nghiệm không có những thông tin tối ưu về các vấn đề
liên quan đến kháng sinh và nhiễm khuẩn Phối hợp
kháng sinh không thích hợp; những sai lầm về liều
lượng và thời gian, nhận định không đầy đủ về tiềm năng kháng kháng sinh, về sự thâm nhập vào mô của thuốc, tương tác thuốc, phản ứng phụ và chi phí cũng như những giới hạn khác về hiệu quả của điều trị kháng sinh.[1] [2]
Lạm dụng kháng sinh cho những trường hợp có thể không cần điều trị kháng sinh là một vấn đề y khoa nghiêm trọng không chỉ tại Việt Nam mà còn có khắp nơi trên thế giới Để giới hạn sự xuất hiện những chủng kháng thuốc, cần đề xuất việc sử dụng kháng sinh hợp
lý cho những nhiễm khuẩn thông thường Tại các bệnh viện, việc nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh chưa có nhiều nghiên cứu và đề xuất các biện pháp can thiệp thích hợp Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh về các vấn đề: chỉ định, đường dùng, và thời gian sử dụng kháng sinh tại một số khoa lâm sàng có tỷ lệ sử dụng kháng sinh cao trong bệnh viện
- Nghiên cứu về nhóm kháng sinh, số loại kháng sinh sử dụng và chi phí sử dụng kháng sinh trong Bệnh viện
Đối tượng vật liệu - phương pháp nghiên cứu
- 377 bệnh án của các người bệnh đã điều trị và ra viện năm 2011 tại các khoa A1, A3, B1, B2, B9, B10, B11, B15 của Bệnh viện 103 Các bệnh án này được lấy ngẫu nhiên sau khi đã tổng kết ra viện và được lấy thông tin theo mẫu điều tra
- Các nội dung thu thập + Tên, tuổi, giới tính, khoa lâm sàng, chẩn đoán, thời gian nằm viện
+ Dùng các loại thuốc kháng sinh gì, nhóm, phân nhóm, đường dùng, liều lượng, số lần dùng trong 24h (Riêng ngoại khoa nghiên cứu cả trước phẫu thuật và sau phẫu thuật)?
+ Phối hợp, thay thế giữa các nhóm, thời gian thay thế ngắn nhất?
+ Tổng thời gian sử dụng kháng sinh trong đợt điều trị?
+ Tổng chi phí và chi phí trung bình một ngày sử dụng kháng sinh trong đợt điều trị
- Sử lý số liệu: sử dụng phần mềm Excel để so