1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và CÁCH CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH tại một TRẠM y tế xã MIỀN núi TỈNH THÁI NGUYÊN

4 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 138,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THựC TRạNG HOạT ĐộNG Và CáCH CHI TRả KHáM CHữA BệNH TạI MộT TRạM Y Tế Xã MIềN NúI TỉNH THáI NGUYÊN Phạm Hồng Hải - ĐH Kinh tế và QTKD Nguyễn Đức Trọng, Trần Quang Lâm Bảo hiểm xã hội Vi

Trang 1

Y học thực hành (870) - số 5/2013 113

chất oxy hóa ảnh hưởng đến phục hồi chức năng tim

sau PT Do đó nhiều tác giả đã nhận thấy rằng rối loạn

chuyển hóa cũng là một yếu tố nguy cơ của phục hồi

chức năng tim sau PT pH giảm, toan chuyển hóa ở mô

cơ tim là các yếu tố tiên lượng cho việc dùng thuốc

tăng cường co bóp cơ tim sau THNCT[8] Trong nghiên

cứu của chúng tôi do không có điều kiện nên chúng tôi

không đánh giá vấn đề rối loạn chuyển hóa cơ tim

Ngoài ra một số yếu tố nguy cơ khác của LCOS

sau PT tim cũng được các tác giả đề cập đến: tính chất

PT (cấp cứu hay có chuẩn bi), PT lại, PT kết hợp cầu

vành và van tim, nhồi máu cơ tim,diện tích cơ thể …

Kết luận

Như vậy nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra 6 yếu

tố nguy cơ của LCOS bao gồm: chỉ số tim trước PT ≤

2,5 l/phút/m2, NYHA III, IV; truyền khối hồng cầu trong

PT ≥ 750 ml, thời gian kẹp ĐMC ≥ 90 phút, ALTTĐMP≥

50 mmHg, thời gian THNCT ≥ 120 phút Các bác sỹ có

thể tác động đến các yếu tố như thời gian kẹp ĐMC,

thời gian THNCT (bằng nâng cao kỹ thuật phẫu thuật)

và chỉ định chặt chẽ truyền khối hồng cầu trong PT có

thể làm giảm nguy cơ LCOS sau PT

TàI LIệU THAM KHảO

1 Algarni K.D.,Yau T.M.(2011), Predictors of Low

Cardiac Output Syndrome After Isolated Coronary Artery

Bypass Surgery: Trends Over 20 Years, The Annals of

Thoracic Surgery, Volume 92, Issue 5: pp 1678 - 84

2 Fan Y., Zhang AM, Xiao YB et al (2010), Warm

versus cold cardioplegia for heart surgery: a

meta-analysis, Eur J Cardiothorac Surg., 37(4): pp 919-9

3 Maganti M, Badiwala M, Sheikh A et al(2010),

Predictors of low cardiac output syndrome after isolated mitral valve surgery, J Thorac Cardiovasc Surg, 140(4):

pp 790-6

4 Maganti M, Rao V, Borger MA et al (2005), Predictors of low cardiac output syndrome after isolated aortic valve surgery,Circulation-American Heart Association, 112(9 Suppl): pp I448-52

5 Miceli A, Fiorani B, Danesi TH et al (2009), Prophylactic intra-aortic balloon pump in high-risk patients undergoing coronary artery bypass grafting: a propensity score analysis., Interact CardioVasc Thorac Surg, 9(2):

pp 291-4

6 Rao V, Ivanov J, Weisel RD et al (1996), Predictors

of low cardiac output syndrome after coronary artery bypass, J Thorac Cardiovasc Surg: pp 38-51

7 Reich DL, Bodian CA, Krol M et al (1999), Intraoperative hemodynamic predictor of mortality, stroke, and myocardial infarction after coronary artery bypass surgery, Anesth Analg, 89: p 814

8 Robitaille A, Denault AY, Couture P et al (2006), IImportance of relative pulmonary hypertension in cardiac surgery: the mean systemic-to-pulmonary artery pressure ratio, J Cardiothorac Vasc Anesth, 20: pp 331- 9

9 Sá MP, Ferraz PE, Figueiredo O.J (2012), Risk factors for low cardiac output syndrome after coronary artery bypass grafting surgery, Rev Bras Cir Cardiovasc, 27(2): pp 217-23

10 Surgenor SD, Defoe GR, Fillinger MP et al (2006), Intraoperative red blood cell transfusion during coronary artery bypass graft surgery increases the risk of postoperative low-output heart failure, Circulation, 114: pp I43-I48

THựC TRạNG HOạT ĐộNG Và CáCH CHI TRả KHáM CHữA BệNH TạI MộT TRạM Y Tế Xã MIềN NúI TỉNH THáI NGUYÊN

Phạm Hồng Hải - ĐH Kinh tế và QTKD Nguyễn Đức Trọng, Trần Quang Lâm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Tóm tắt

Nghiên cứu được tiến hành tại trạm y tế xã Phú

Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang

Kết quả nghiên cứu: Trạm y tế thiếu các trang thiết

bị khám chữa bệnh và thiếu thuốc; Tỷ lệ phụ nữ có thai

được khám thấp (52%),Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy

dinh dưỡng còn khá cao (20%), Tỷ lệ người dân tham

gia BHYT 63,8%; BHYT phải chi trả cho số lượt khám

chữa bệnh là 160,6%; Số tiền thuốc bình quân đầu

người/năm là 42 nghìn đồng Một số yếu tố ảnh hưởng

đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh: Cán

bộ TYT không được đào tạo về kỹ năng quản lý nên

còn yếu kém, không linh hoạt trong quản lý Tỷ lệ chẩn

đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý,

tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các

xét nghiệm Người dân lạm dụng thẻ BHYT để đi lĩnh

thuốc

Summary The study was conducted in Phu Thuong commune, Vo Nhai distric, Thai Nguyen province Research Methods: cross-sectional description Research results: CHC lacked of medical equipment, lacked of medicines; rate of pregnant women were examined low (52%), the percentage of children under age 5 suffer from malnutrition remains high (20 %), the percentage of people covered by health insurance 63.8%; health insurance to pay for medical care is 160.6%; drug money per person per year is 42 thousand VND Some factors affect to the work and the payment of health care: health staff are not trained in management skills so their skill are very weak, no flexibility in management The rate of suitable diagnosis

is not high, unsuitable prescribing, hight rate of moving patients, and abuse tests People who abuse the health insurance card to get more drug for themselve

Trang 2

Y học thực hành (870) - số 5/2013 114

ĐặT VấN Đề

Trạm y tế xã là tuyến đầu tiên của hệ thống y tế

tiếp xúc trực tiếp với người dân nên có một vị trí cực kỳ

quan trọng Mọi nhu cầu về chăm sóc y tế của người

dân đều phải qua tuyến y tế cơ sở rồi mới lần lượt lên

các tuyến trên Nhờ vậy, tuyến này đã nắm chắc được

tình trạng sức khỏe và có phản ứng sớm nhất, nhanh

nhất tới sự thay đổi sức khỏe cộng đồng Xã Phú

Thượng, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên là một xã miền

núi Trạm y tế xã Phú Thượng đã và đang hoạt động

như thế nào để đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức

khỏe người dân miền núi? Có những thuận lợi và khó

khăn gì trong quản lý y tế tại trạm y tế ? Do vậy, nghiên

cứu này được tiến hành nhằm mục tiêu:

Mục tiêu

Mô tả thực trạng hoạt động và cách chi trả khám

chữa bệnh tại trạm y tế xã Phú Thượng, huyện Võ

Nhai, Thái Nguyên

Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động

và cách chi trả khám chữa bệnh tại địa bàn nghiên

cứu

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng nghiên cứu: Trạm y tế xã

2 Địa điểm nghiên cứu: Xã Phú Thượng, huyện

Võ Nhai, Thái Nguyên

3 Thời gian nghiên cứu: năm 2012

4 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả

- Cách chọn mẫu: Chọn chủ đích trạm y tế xã Phú

Thượng, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên

KếT QUả NGHIÊN CứU

Bảng 1 Đặc điểm trạm y tế xã tại địa bàn nghiên

cứu

Cơ sở vật chất

khoa

Số trang thiết bị

y tế cơ bản

Số trang thiết bị

chuyên khoa Thiếu Thiếu dụng cụ khám chữa răng, mắt, tai mũi họng

Số trang thiết bị sản khoa Thiếu Thiếu đèn cồn, giấy thử

albumin niệu, ống nghe tim

thai Thuốc cấp phát Bảo hiểm y tế

Nhân lực y tế (7 cán bộ)

Nhận xét: Trạm y tế xã đáp ứng đủ về nhân lực y

tế Các trang thiết bị y tế nghèo nàn, thiếu các thiết bị

chuyên khoa và sản khoa Thuốc cấp phát BHYT thiếu

về số lượng và chủng loại

Bảng 2 Tổ chức hoạt động tại trạm y tế xã

Hoạt động tại trạm y tế Thực hiện Năm 2012 Đánh giá

Truyền thông giáo dục sức khỏe Có Thường xuyên

Nhận xét: Nhìn chung, trạm y tế xã hoạt động tương đối tốt, tuy nhiên hoạt động cung ứng về thuốc chưa hiệu quả vì không có vốn xây dựng tủ thuốc ngoài danh mục BHYT

Bảng 3 Các chương trình y tế được thực hiện tại trạm y tế xã

Số lượng Đánh giá

Số lượt khám chữa bệnh 6.837 lần/người/năm 1,5

Số phụ nữ đặt dụng cụ tử cung 502/889 56,4%

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi uống vitamin A 308/367 84%

Nhận xét: Nhìn chung các chương trình y tế đã được triển khai khá tốt, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ có thai được khám một lần trong thai kỳ còn thấp (52%), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao (20%) Bảng 4 Nguồn chi trả tiền của người dân khi đi khám chữa bệnh tại trạm y tế

Chi trả tiền khám chữa bệnh Số lượng Năm 2012 Tỷ lệ %

Số người dân tham gia BHYT/Tổng số dân 2989/4687 63,8

Số lượt khám được BHYT chi trả toàn bộ/

Số lượt khám người dân tự chi trả 837/1698 49,3

Số lượt khám BHYT

và người dân cùng chi trả 1200/6837 17,5 Tiền thuốc bình quân/người/năm (đồng) 42.000

Nhận xét: Tỷ lệ người dân tham gia BHYT chiếm 63,8%; Số lượt khám chữa bệnh BHYT phải chi trả 160,6%; đồng chi trả giữa BHYT và người dân chiếm 17,5% Tỷ lệ người dân không tham gia BHYT và phải

tự chi trả chiếm 49,3%

Bảng 5 Các nguồn kinh phí của trạm y tế (ĐVT: Triệu đồng)

Các nguồn kinh phí của trạm y tế

Năm 2012 Tổng số tiền quân/tháng Bình Lương nhân viên y tế/tháng/7 người 22,8 3,25

Trang 3

Y học thực hành (870) - số 5/2013 115

Nhận xét: Nguồn kinh phí chính của trạm y tế là

lương cán bộ y tế, với thu nhập bình quân hơn ba triệu

đồng/người/tháng Các nguồn khác không thường

xuyên (Dự án, phi chính phủ) Người dân không tham

gia đóng góp về tiền cho trạm y tế xã Nguồn thu từ

các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh, bán thuốc còn

thấp

Thảo luận nhóm trọng tâm về một số yếu tố ảnh

hưởng đến hoạt động của trạm y tế và cách chi trả

khám chữa bệnh của người dân:

Trạm y tế đáp ứng được về nguồn nhân lực y tế

theo chuẩn quốc gia về y tế xã, trạm có 2 bác sĩ là một

thuận lợi rất lớn cho nhu cầu phục vụ sức khỏe nhân

dân miền núi Hơn nữa, trạm thường xuyên lập kế

hoạch y tế và đánh giá các chương trình y tế, điều

chỉnh các hoạt động y tế phù hợp với mục tiêu của địa

phương Tuy nhiên, cán bộ y tế chưa được đào tạo

thường xuyên về chuyên môn, về quản lý Trạm chưa

thực sự năng động trong việc tạo ra các dịch vụ chăm

sóc sức khỏe cho người dân như khám chữa bệnh, bán

thuốc Trong khi BHYT bị quá tải trong chi trả khám

chữa bệnh (160%) vẫn còn có nhiều người dân lạm

dụng thẻ người nghèo, thẻ BHYT để lĩnh thuốc về nhà

dự trữ Các nguồn kinh phí cho trạm y tế còn hạn hẹp,

số tiền thuốc/đầu người/năm đạt 42 nghìn đồng là thấp

so với nhu cầu của người dân

BàN LUậN

Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám

chữa bệnh của người dân

Kết quả bảng 1 cho thấy: Trạm y tế xã đáp ứng đủ

về nhân lực y tế Các trang thiết bị y tế nghèo nàn,

thiếu các thiết bị chuyên khoa và sản khoa Thuốc cấp

phát BHYT thiếu về số lượng và chủng loại Đây là

thực tế đã và đang tồn tại nhiều năm mà chưa được

khắc phục Thực tế này cũng là tình trạng chung cho

nhiều trạm y tế xã miền núi nói riêng và khu vực nói

chung Thiếu trang thiết bị khám chữa bệnh, thiếu

thuốc đã ảnh hưởng đến chất lượng các dịch vụ y tế

Hoạt động cung ứng về thuốc chưa hiệu quả vì không

có vốn xây dựng tủ thuốc ngoài danh mục BHYT

(Bảng 2) là điều cần phải tìm ra hướng giải quyết khi

chưa có nguồn ngân sách nhà nước Vấn đề đặt ra là

cơ chế hoạt động các dịch vụ và quản lý các dịch vụ

đó như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của người

dân nhưng đồng thời phải nâng cao trách nhiệm, y đức

gắn với quyền lợi của người Thầy thuốc?

Về các chương trình y tế được thực hiện tại trạm y

tế xã, bảng 3 cho thấy, nhìn chung các chương trình y

tế đã được triển khai khá tốt, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ có

thai được khám một lần trong thai kỳ còn thấp (52%),

tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao

(20%) Vấn đề sức khỏe bà mẹ và trẻ em là những vấn

đề lớn trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Phải

chăng tỷ lệ bà mẹ đi khám thai ít, tỷ lệ trẻ em bị suy

dinh dưỡng cao là do chất lượng của chương trình

truyền thông giáo dục?

Về nguồn chi trả của người dân khi khám chữa

bệnh, kết quả từ bảng 4: Tỷ lệ người dân tham gia

BHYT chiếm 63,8%; Số lượt khám chữa bệnh BHYT

phải chi trả 160,6%; đồng chi trả giữa BHYT và người dân chiếm 17,5% Tỷ lệ người dân không tham gia BHYT và phải tự chi trả chiếm 49,5% Như vậy, BHYT

đã và đang phải chi trả gấp 1,6 lần cho các dịch vụ y tế

mà người dân tham gia BHYT được nhận Tỷ lệ người dân tham gia BHYT chiếm 63,8% thấp hơn so với mục tiêu BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước Như vậy,

để ngừa nguy cơ vỡ quĩ bảo hiểm rõ ràng cần phải có cơ chế kiểm soát từ khám bệnh, chẩn đoán, chỉ định của Thầy thuốc, kê đơn thuốc, không lạm dụng các xét nghiệm cận lâm sàng, tăng cường các trang thiết bị, nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên y tế xã

để đạt hiệu quả điều trị cao, hạn chế chuyển tuyến gây tốn kém và quá tải cho bệnh viện tuyến trên Bên cạnh

đó, cần tìm ra cơ chế hoạt động tăng cường cung cấp

và sử dụng dịch vụ y tế để thu hút người dân, thu hút các nguồn đầu tư, nâng cao năng lực tự chủ của trạm y

tế nhằm làm tăng các nguồn thu của trạm y tế, góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ nhân viên y tế (Bảng 5)

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh

Về quản lý: Cán bộ TYT không dược đào tạo về kỹ năng quản lý nên thực sự còn lúng túng trong giải quyết vấn đề, chưa linh hoạt trong việc tạo ra cơ chế hoạt động các dịch vụ y tế

Về người dân: Lạm dụng thẻ BHYT để đi lĩnh thuốc về nhà dự trữ đã dẫn đến nguy cơ vỡ quĩ BHYT

Về cán bộ y tế: Do chuyên môn hạn chế nên tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm đã góp phần làm tăng chi trả tiền BHYT một cách lãng phí

KếT LUậN Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh của người dân

Trạm y tế thiếu các trang thiết bị khám chữa bệnh, thiếu thuốc

Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thấp (52%)

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao (20%)

Tỷ lệ người dân tham gia BHYT 63,8%

BHYT phải chi trả cho số lượt khám chữa bệnh là 160,6%

Số tiền thuốc bình quân đầu người/năm 42 nghìn

đồng Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh

- Cán bộ TYT không dược đào tạo về kỹ năng quản

lý nên còn yếu kém, không linh hoạt trong quản lý

- Tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm

- Người dân lạm dụng thẻ BHYT, thẻ người nghèo

để đi lĩnh thuốc về nhà dự trữ

TàI LIệU THAM KHảO

1 Bộ Y tế (2006), Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe, NXB Y học Hà Nội, tr 33

2 Bộ Y tế - Vụ khoa học và đào tạo (2001), Giáo dục

Trang 4

Y học thực hành (870) - số 5/2013 116

và đào tạo nhân lực y tế, tr.3471

3 Bộ Y tế (2006), Tổ chức, quản lý y tế và chính sách

y tế, NXB Y học Hà Nội

4 Báo cáo kết quả thực hành cộng đồng (2012),

Thực trạng hoạt động trạm y tế xã Phú Thượng, Võ Nhai,

Thái Nguyên Nhóm sinh viên CNDD K6, Đại học Y Dược

Thái Nguyên

5 Đào văn Dũng, Nguyễn Đức Trọng (2009), Tổ chức

và quản lý y tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động - Xã

hội

6 Trường Đại học Y Hà Nội – Bộ môn tổ chức quản

lý y tế (2002), Bài giảng Quản lý và chính sách y tế, NXB

Y học Hà Nội

7 Charles E Phelps (1992), Health Ecomomics, Happer Collins Publishers Inc

8 Peter Zweifel, Friedrich Breyer (1997), Health Ecomomics, Oxford University Press, Inc

NGHIÊN CứU THựC TRạNG Sử DụNG KHáNG SINH TRONG BệNH VIệN NĂM 2012

Kiều Chí Thành, Đỗ Bá Quyết Bệnh viện 103 - Học viện Quân y Tóm tắt

Nghiên cứu việc sử dụng kháng sinh trong bệnh

viện cho thấy:

- Việc chỉ định dùng kháng sinh trong bệnh viện

103 còn khá rộng rãi, mục đích là dự phòng nhiễm

khuẩn chiếm tỷ lệ gần 50% Kháng sinh được sử dụng

đường tĩnh mạch trên 70% với thời gian sử dụng 5-14

ngày gần 70%

- Có 4 nhóm kháng sinh được dùng nhiều nhất là

Cephalosporin (thế hệ 2,3,4); quinolon, aminosid và 5-

nitro imidazol Chi phí dùng kháng sinh ở mức khá cao:

64,98% người bệnh có chi phí từ 100 - 500.000 đồng

24,58% người bệnh chi trả từ 500.000 đến 1 triệu

đồng/ngày

Từ khóa: sử dụng kháng sinh, đường tĩnh mạch,

bệnh viện, nhiễm khuẩn

Summary

Research the use of antibiotics in hospitals showed

that:

- The appointment of antibiotics in the hospital 103

also quite spacious, the goal is prevention of infections

account for nearly 50% Intravenous antibiotics are

used on 70% of the time use 5-14 days nearly 70%

- There are four groups of antibiotics used most:

Cephalosporin (2,3,4 generation); quinolones,

aminosid and 5-nitro imidazole The use antibiotic

costs quite high: 64.98% of patients pay from 100,000

to 500,000 VND 24.58% of patients pay from 500,000

to 1 million VND / day

Keywords: use antibiotic, intravenus, hospital,

infection

Đặt vấn đề

Sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện hiện nay

của nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam còn

nhiều vấn đề chưa thống nhất [4][5]Một trong những

vấn đề có ý nghĩa rất to lớn trong việc sử dụng kháng

sinh hợp lý để đạt được hiệu quả cao cho người bệnh

khi có nhiễm khuẩn đang gặp nhiều khó khăn Điều trị

kháng sinh có khả năng làm tăng sức đề kháng của vật

chủ, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn Tuy vậy,

những chỉ định chưa đúng rất thường gặp như điều trị

không theo loài vi khuẩn gây bệnh, điều trị theo kinh

nghiệm không có những thông tin tối ưu về các vấn đề

liên quan đến kháng sinh và nhiễm khuẩn Phối hợp

kháng sinh không thích hợp; những sai lầm về liều

lượng và thời gian, nhận định không đầy đủ về tiềm năng kháng kháng sinh, về sự thâm nhập vào mô của thuốc, tương tác thuốc, phản ứng phụ và chi phí cũng như những giới hạn khác về hiệu quả của điều trị kháng sinh.[1] [2]

Lạm dụng kháng sinh cho những trường hợp có thể không cần điều trị kháng sinh là một vấn đề y khoa nghiêm trọng không chỉ tại Việt Nam mà còn có khắp nơi trên thế giới Để giới hạn sự xuất hiện những chủng kháng thuốc, cần đề xuất việc sử dụng kháng sinh hợp

lý cho những nhiễm khuẩn thông thường Tại các bệnh viện, việc nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh chưa có nhiều nghiên cứu và đề xuất các biện pháp can thiệp thích hợp Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh về các vấn đề: chỉ định, đường dùng, và thời gian sử dụng kháng sinh tại một số khoa lâm sàng có tỷ lệ sử dụng kháng sinh cao trong bệnh viện

- Nghiên cứu về nhóm kháng sinh, số loại kháng sinh sử dụng và chi phí sử dụng kháng sinh trong Bệnh viện

Đối tượng vật liệu - phương pháp nghiên cứu

- 377 bệnh án của các người bệnh đã điều trị và ra viện năm 2011 tại các khoa A1, A3, B1, B2, B9, B10, B11, B15 của Bệnh viện 103 Các bệnh án này được lấy ngẫu nhiên sau khi đã tổng kết ra viện và được lấy thông tin theo mẫu điều tra

- Các nội dung thu thập + Tên, tuổi, giới tính, khoa lâm sàng, chẩn đoán, thời gian nằm viện

+ Dùng các loại thuốc kháng sinh gì, nhóm, phân nhóm, đường dùng, liều lượng, số lần dùng trong 24h (Riêng ngoại khoa nghiên cứu cả trước phẫu thuật và sau phẫu thuật)?

+ Phối hợp, thay thế giữa các nhóm, thời gian thay thế ngắn nhất?

+ Tổng thời gian sử dụng kháng sinh trong đợt điều trị?

+ Tổng chi phí và chi phí trung bình một ngày sử dụng kháng sinh trong đợt điều trị

- Sử lý số liệu: sử dụng phần mềm Excel để so

Ngày đăng: 20/08/2015, 16:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  5.  Các  nguồn  kinh  phí  của  trạm  y  tế  (ĐVT:  Triệu đồng) - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và CÁCH CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH tại một TRẠM y tế xã MIỀN núi TỈNH THÁI NGUYÊN
ng 5. Các nguồn kinh phí của trạm y tế (ĐVT: Triệu đồng) (Trang 2)
Bảng 1.  Đặc  điểm trạm  y  tế  xã tại  địa bàn nghiên - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và CÁCH CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH tại một TRẠM y tế xã MIỀN núi TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 1. Đặc điểm trạm y tế xã tại địa bàn nghiên (Trang 2)
Bảng 2. Tổ chức hoạt động tại trạm y tế xã - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và CÁCH CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH tại một TRẠM y tế xã MIỀN núi TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 2. Tổ chức hoạt động tại trạm y tế xã (Trang 2)
Bảng  3.  Các  ch−ơng  trình  y  tế  đ−ợc  thực  hiện  tại  trạm y tế xã - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG và CÁCH CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH tại một TRẠM y tế xã MIỀN núi TỈNH THÁI NGUYÊN
ng 3. Các ch−ơng trình y tế đ−ợc thực hiện tại trạm y tế xã (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm