Tìm hiểu về công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
Trang 1DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh sách các công ty tài chính ở Việt Nam 19
Cơ cấu nguồn huy động của một vài công ty tài chính 23
Danh sách các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam 35
Bảng so sánh công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính 39
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang từng bước phát triển thì nhu cầu về vốn đối với vền kinh tế là rất lớn Để đáp ứng được nhu cầu này đòi hỏi phải có các phương tiện để dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn Và một trong các phương tiện dẫn vốn hữu hiệu nhất chính là thông qua các tổ chức tín dụng trung gian Tuy nhiên, không như dạng tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối, nghĩa là người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba Đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính… hay nói cách khác là thông qua ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phi ngân hàng.Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và ổn định Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư hiệu quả, do đó nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn Tuy nhiên trong thời gian qua vốn đầu tư còn hạn chế bởi nhiều nguyên nhân trong đó có chính sách đầu tư còn nhiều bất cập Chính vì vậy việc xuất hiện của các công ty tài chính, hay công ty cho thuê tài chính là một giải pháp hữu hiệu Nhiều tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã không ngừng phát triển, do vậy cần có riêng tổ chức tài chính để phục vụ nhu cầu và đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tạo công cụ tài chính lớn để đầu tư ra ngoài tổng công ty, tập đoàn Các công ty tài chính hay cho thuê tài chính sẽ là cầu nối cho các hoạt động này
Tuy nhiên, nhìn chung cho đến nay các công ty về lĩnh vực tài chính ở Việt Nam còn khá mới mẻ, có quy mô nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra và không nhiều người biết đến loại hình công ty này
“Tìm hiểu công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính” sẽ giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn về các loại hình công ty này Từ đó thấy được vai trò và sự cần thiết của chúng để ngày càng góp phần đưa nền kinh tế phát triển hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, từ đó đánh giá, nghiên cứu, phân tích thực trạng của các loại hình công ty này Trong đó nêu bật
Trang 3những nguyên nhân, mặt tích cực, hạn chế, giải pháp đề xuất đối với mỗi loại hình công ty, góp phần nâng cao vai trò của mỗi loại hình trong lĩnh vực kinh tế.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các công ty tài chínhCác công ty cho thuê tài chính3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các công ty tài chính và cho thuê tài chính của Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu, thu thập, lý luận, xử lý những số liệu và đưa ra những giải pháp đúng đắn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài giúp chúng ta hiểu rõ hơn về công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính là gì? Chúng hoạt động ra sao? Và chúng chúng khác nhau như thế nào? Để từ đó đánh giá đúng thực trạng tình hình phát triển của mỗi loại hình cong ty, đồng thời đề xuất những giải pháp
cơ bản, cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kinh tế lành mạnh và đúng hướng
6 Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận Trong đó, nội dung đề tài có 4 chương:
Chương 1: Khái quát về tổ chức tài chính phi ngân hàng
Chương 2: Công ty tài chính
Chương 3: Công ty cho thuê tài chính
Chương 4: So sánh công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
Trang 4CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH PHI NGÂN
HÀNG
1.1 Khái niệm về tổ chức tài chính phi ngân hàng
Tổ chức tài chính phi ngân hàng là các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và làm dịch vụ thanh toán
Các tổ chức này bao gồm Công ty bảo hiểm, công ty tài chính, công ty đầu tư, ủy thác,…
1.2 Đặc điểm và vai trò
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có đặc điểm khác biệt với các ngân hàng ở chỗ: Chúng không nhận tiền gửi không kỳ hạn, chỉ được nhận tiền gửi có kỳ hạn nhất định, không được làm các dịch vụ thanh toán như các ngân hàng Do đó chúng không tham gia quá trình tạo tiền gửi và không bị điều hành chặt chẽ của ngân hàng Trung ương như các ngân hàng thương mại Với đặc thù của mình, các công ty tài chính đã đưa các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ vào phục vụ quá trình sản xuất và đời sống theo các hoạt động thế mạnh của mình như: chứng khoán, cho vay tiêu dùng, thế chấp đồng thời làm các dịch vụ như: môi giới, đại lý Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, chúng góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ, tài chính cho nền kinh tế, đem lại những lợi ích thiết thực: tạo cơ hội sinh lời cho các nguồn tiết kiệm nhỏ lẻ thúc đẩy cạnh tranh và tiến
bộ tài chính
Tạo cơ hội sinh lời cho các cá nhân Nhờ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các cơ hội đầu tư cho cá nhân tăng lên Nguồn lợi sẽ mang lại cho cả hai phía nhờ tính quy mô, sự phân tán rủi ro và đa dạng hóa các danh mục đầu tư
Cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, tăng cường áp lực cạnh tranh với các ngân hàng thương mại, làm cho chất lượng dịch vụ phục vụ ngày càng được cải thiện, tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho khách hàng
Các hoạt động của tổ chức tài chính phi ngân hàng đem lại các hợp đồng bảo hiểm, các dịch vụ cung cấp thông tin… cho các khách hàng, giúp họ được bảo vệ tài chính và phân tán rủi ro Đây là một khía cạnh đặc thù mà tổ chức này đem lại
1.3 Phân loại
Nhìn chung các tổ chức tài chính phi ngân hàng chủ yếu gồm:
Trang 5- Các trung gian đầu tư: Đặc trưng của loại này là huy động vốn trung và dài hạn để đầu tư vào một số lĩnh vực Các trung gian đầu tư bao gồm hai hình thức cơ bản: Công ty tài chính và các quỹ đầu tư.
- Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: Thuộc loại hình này có các công ty bảo hiểm
và các quỹ trợ cấp Tại đây, tài sản Nợ của tổ chức được hình thành từ các hợp đồng, bằng cách nhận được các khoản nộp theo định kỳ và có trách nhiệm chi trả khi có sự kiện nảy sinh Sự chênh lệch thời gian thu và chi tạo cơ hội cho các tổ chức này sử dụng vốn nhàn rỗi
để đầu tư
Trang 6CHƯƠNG 2: CÔNG TY TÀI CHÍNH
2.1 Giới thiệu về công ty tài chính
2.1.1 Khái niệm về công ty tài chính
Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng
là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm (Điều 2, chương 1, nghị định số 79/2002/NĐ-CP)
2.1.2 Đặc điểm của công ty tài chính
Tại VN, hiện có đầy đủ các tổ chức trung gian tài chính như NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư Tuy nhiên do độ mở nền kinh tế, việc các tổ chức này mở rộng quy mô hoạt động cũng như phát triển các loại hình dịch vụ đã làm cho việc phân biệt các loại hình này trở nên khó khăn đặc biệt là giữa CTTC và NHTM
Hiện nay, các lĩnh vực hoạt động của CTTC gần giống như ngân hàng chỉ có một số hạn chế như không có dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm Tuy nhiên, việc phân định 2 loại hình này ta có thể dựa vào điểm khác biệt về đặc điểm theo quy định của Chính phủ
a) Bản chất và phạm vi hoạt động
Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng
là sử dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm
Trong khi đó, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, cụ thể là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
b) Mức vốn pháp định
Công ty tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của công ty tài chính thấp hơn ngân hàng Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP,
Trang 7ngày 22/11/2006 của Chính phủ, công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng; công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng.
Nhưng vốn pháp định đối với một ngân hàng áp dụng cho đến năm 2008 không thấp hơn 1.000 tỷ đồng, tùy theo loại hình ngân hàng và áp dụng cho đến năm 2010 trở đi không thấp hơn 3.000 tỷ đồng
c) Loại hình tổ chức hoạt động
Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ phân chia công
ty tài chính thành các loại: công ty tài chính nhà nước, công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài Cách phân chia này hiện không còn thích hợp với Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam Theo dự thảo sửa đổi Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, quy định công ty tài chính chỉ được thành lập theo một trong ba loại hình sau: công ty tài chính TNHH một thành viên; công ty tài chính TNHH hai thành viên trở lên và công ty tài chính cổ phần Xét ở khía cạnh nào đó thì ngân hàng hoạt động như một doanh nghiệp Tuy nhiên, xét về tính chất
và mục tiêu hoạt động, ngân hàng lại được chia thành ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác
d) Thời gian hoạt động
Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm Trong khi đó, thời hạn hoạt động của các ngân hàng lại không bị hạn chế
e) Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại
Xét ở khía cạnh nào đó, các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức
độ thấp hơn so với ngân hàng Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và công ty tài chính nước ngoài mới được thành lập công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư
Trang 8nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro
là không lớn
Một trong những hạn chế của các công ty tài chính so với các tổ chức ngân hàng là không được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm Tuy vậy, các công ty tài chính hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại
Như vậy, có thể thấy lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường
có ít nhất một công ty tài chính Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn
2.2 Hoạt động của công ty tài chính
Các công ty tài chính có nhiều hoạt động, mỗi công ty có những nét giống và những nét đặc trưng riêng biệt của công ty mình Các hoạt động chủ yếu thường thấy ở công ty tài chính là: hợp tác đầu tư, hoạt động thu xếp vốn, huy động vốn, dịch vụ tài chính, dịch vụ ủy thác vốn đầu tư, tín dụng cá nhân và doanh nghiệp, kinh doanh ngoại hối, chiết khấu giấy tờ
có giá,bao thanh toán, bão lãnh…
Các công ty tài chính có nguồn vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, còn lại chủ yếu do huy động, vốn đi vay và vốn khác Trong đó huy động vốn chiếm tỷ lệ lớn nhất
Vì vậy vấn đề huy động vốn là yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến sự phát triển và mở
Trang 9rộng kinh doanh, giúp tạo dựng nguồn vốn vững chắc, ổn định đáp ứng nhu cầu kinh doanh của công ty đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
• Còn theo quy định của luật các tổ chức tín dụng 2010, sẽ được áp dụng tới đây vào ngày 1/1/2011, quy định tại khoản 4 - Điều 4 công ty tài chính không được nhận tiền gửi cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản khách hàng
Các hoạt động huy động vốn của công ty tài chính:
• Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của ngân hàng nhà nước
• Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của cá nhân trong và ngoài nước của pháp luật hiện hành
• Vay các tổ chức tín dụng, tài chính trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế
• Tiếp nhận vốn ủy thác của chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
Trang 10Trong đời sống, tín dụng hiện diện dưới nhiều hình thái khác nhau Tín dụng thương mại là một doanh nghiệp thỏa thuận bán chịu hàng hóa cho khách hàng Tín dụng Ngân hàng là việc các Ngân hàng thương mại huy động vốn của khách hàng để sau đó lại cho khách hàng khác vay với mục đích kiếm lời Ngoài ra, việc Chính phủ hay những doanh nghiệp phát hành các trái phiếu ra ngoài công chúng để vay tiền của các tổ chức, cá nhân cũng được xem là những hình thức tín dụng Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nghiệp vụ cho thuê tài chính do những công ty cho thuê tài chính thực hiện đối với khách hàng là các doanh nghiệp cũng được xem là một hình thức tín dụng đặc thì của nền kinh tế thị trường.
Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng được định nghĩa là việc các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khâu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác Theo đó, hoạt động cấp tín dụng của các công ty tài chính cũng được chia thành hoạt động cho vay và chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, giấy tờ có giá
a) Hoạt động cho vay
Theo nghị định 79/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính ban hành ngày 04/10/2002, có hiệu lực ngày 19/10/2002: Công ty Tài chính được cho vay dưới các hình thức:
• Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
• Cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật Các tổ chức tín dụng và hợp đồng
uỷ thác
• Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp
Công ty tài chính có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn trên cơ sở cân đối nguồn vốn trung và dài hạn, không sử dụng vốn vay ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống
b) Hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
Trang 11Theo Quyết Định số 1325/2004/QĐ-NHNN của Thống Đốc Ngân Hàng về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì:
“Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
Tái chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và đã được chiết khấu theo phương thức mua hẳn
Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là khoảng thời gian tính từ ngày giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng nhận chiết khấu, tái chiết khấu đến ngày đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá đó.”
Tổng mức dư nợ cấp tín dụng của công cụ tài chính được quy định rõ tại khoản 2, điều 128, luật các Tổ chức tín dụng 2010: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng
2.2.3 Hoạt động đầu tư
Trên phương diện hoạch định tài chính cá nhân, đầu tư là sự hy sinh của một
cá nhân trong việc tiêu dùng hiện tại để tích lũy tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai Trong con mắt của các nhà tư vấn tài chính, đầu tư được hiểu là việc một cá nhân mua tài sản với mong ước rằng tài sản đã mua được sẽ giữ vững giá trị, sau đó tăng giá và tạo ra nguồn thu nhập tương ứng với mức độ rủi ro nào đó Nói một cách ngắn gọn hơn, mục tiêu tài chính của cá nhân là tích lũy đồng tiền Sau khi kiếm được tiền, người ta cần cân nhắc đầu tư đồng tiền đó như thế nào để cho nó nhiều hơn trước
Mỗi người có lý do riêng của mình khi đầu tư: có người muốn đầu tư để bổ sung thêm nguồn thu nhập hiện có, có nhiều người đầu tư để lách thuế Nhưng có lẽ phần lớn mọi người trong chúng ta đều muốn đầu tư để có đủ tiền mua xe gắn máy, xe hơi, đủ tiền cho con đi học trong và ngoài nước, mua nhà cửa, tiện nghị vật chất và sống thoải mái khi về già Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ có mua bán cổ phiếu mới
là đầu tư Thật ra, đầu tư được thể hiện dưới nhiều hình thức và được hiểu theo những
ý nghĩa khác nhau tùy theo từng cá nhân Từ việc gửi tiền tiết kiệm và ngân hàng cho đến đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu, hoặc mua bất động sản và cả những tài sản
Trang 12mang tính sưu tập như tranh ảnh lưu niệm và cả tiêu khiển và giải trí như chơi cá cảnh, rượu vang hay đồng hồ đắt tiền hiệu Rolex
Và theo khoản 2 điều 24 nghị định số 79/2002 - CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính đã cho phép các công ty tài chính được phép tham gia vào hoạt động đầu tư, và các công ty tài chính ở Việt Nam được phép thực hiện các hoạt động đầu tư và các dịch vụ có liên quan theo luật định Về hoạt động đầu tư, thì ở mỗi công
ty tài chính có một cách làm khác nhau, cách phân chia khác nhau, và chúng ta sẽ xem xét bốn loại hình đầu tư lớn như sau:
a) Đầu tư dự án
Tham gia góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp dưới các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh
b) Uỷ thác đầu tư
• Uỷ thác đầu tư có chia sẻ rủi ro: Khách hàng và công ty tài chính cùng thoả
thuận cơ chế phân chia kết quả kinh doanh và rủi ro (nếu có) trên cơ sở kết quả kinh doanh thực tế của Công ty cổ phần/Dự án khách hàng tham gia đầu tư
• Uỷ thác đầu tư không chia sẻ rủi ro: Khách hàng uỷ thác cho công ty tài chính
thực hiện đầu tư với thoả thuận khách hàng được hưởng toàn bộ kết quả kinh doanh thực tế đồng thời chịu toàn bộ rủi ro (nếu có) từ Công ty cổ phần/Dự án tham gia đầu tư trong kỳ Uỷ thác
• Uỷ thác đầu tư lợi tức cố định: Khách hàng và công ty tài chính thoả thuận
một tỷ suất lợi nhuận cố định trong kỳ Uỷ thác, không phụ thuộc kết quả kinh doanh thực tế và các rủi ro (nếu có) phát sinh từ hoạt động đầu tư/kinh doanh của công ty tài chính trong kỳ Uỷ thác
2.2.4 Hoạt động bảo lãnh
a) Khái niệm
Theo NĐ79/2002/NĐ-CP tại điều 20 về bảo lãnh: “Công ty Tài chính được
bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh của Công ty Tài chính phải được thực hiện theo quy định tại Điều
58, Điều 59, Điều 60 Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.”
b) Các loại bảo lãnh
Trang 13Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa các loại bảo lãnh (QĐ số 26/2006/QĐ-NHNN về Quy chế bảo lãnh Ngân hàng) như sau:
• Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về
việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh
• Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh,
về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn
• Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của của tổ chức tín dụng với bên mời thầu, để
bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng Trường hợp, khách hàng phải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộp
đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận
bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
• Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của của tổ chức tín dụng
với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
• Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên
nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng
vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
• Bảo lãnh đối ứng: là cam kết của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh đối ứng) với
bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên bảo lãnh, trong
Trang 14trường hợp bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay cho khách hàng của bên bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh.
• Xác nhận bảo lãnh: là cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng (bên xác nhận
bảo lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh, về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với khách hàng
c) Hình thức bảo lãnh
• Phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh
• Ký xác nhận bảo lãnh trên các hối phiếu, lệnh phiếu
• Các hình thức khác theo quy định của pháp luật
2.2.5 Mở tài khoản và ngân quỹ
a) Mở tài khoản
Công ty tài chính được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, nơi Công ty tài chính đặt trụ sở chính và các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước cấp phép
Công ty tài chính có thể nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước
• Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
• Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng
• Tham gia thị trường tiền tệ
• Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng
• Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp
• Được quyền nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng
Trang 15• Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho hách hàng.
• Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác
b) Các nghiệp vụ phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép
• Hoạt động ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước xem xét, cấp giấy phép cho Công ty Tài chính được thực hiện một sô hoạt động ngoại hối theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối
• Hoạt động bao thanh toán: Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm ban hành quy định hướng dẫn việc thực hiện hoạt động bao thanh toán và xem xét cho phép Công ty tài chính có đủ điều kiện thực hiện hoạt động này
2.3 Thực trạng của công ty tài chính ở Việt Nam
2.3.1 Khái quát công ty tài chính ở Việt Nam
Trong nền kinh tế năng động hiện nay thì sự góp mặt của các công ty tài chính
là điều không thể thiếu Tổ chức này ra đời sau các ngân hàng nhưng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đã có những tác động không nhỏ đến hoạt động của các công ty tài chính
Tại Việt Nam hiện có khoản 18 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế nhà nước Các công ty tài chính thường trực thuộc những tập đoàn, tổng Công
ty Nhà nước như: Công ty tài chính Cổ phần Dầu khí, Công ty tài chính Điện lực, Công ty Tài chính Xi-măng, Công ty tài chính công nghiệp tàu thủy, Công ty tài chính Than khoáng sản Việt Nam,…
Việt Nam vào thời điểm nay có vẻ như là thị trường chung của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, đang trong giai đoạn “tự phát” là chính Số lượng ít, quy mô nhỏ, cộng thêm không ít rắc rối trong thủ tục hành chính, tất cả đã ngăn cản các Công ty tài chính nhỏ lẻ vượt qua được ngân hàng trong các dịch vụ bán lẻ
Các công ty tài chính mới được thành lập vào thời gian gần đây, do mới bước đầu đi vào hoạt động cho nên nhìn chung phạm vi hoạt động đang còn bó hẹp, hiệu quả chưa cao, có quy mô tương đối nhỏ, cơ sở pháp lý cho hoạt động của công ty còn hạn hẹp
Phạm vi hoạt động của các công ty tài chính trong tổng công ty chỉ bó hẹp trong tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên thuộc tổng công ty Trong khi đó
Trang 16phạm vi hoạt động của các công ty tài chính cổ phần thì rộng khắp tới mọi thành phần kinh tế Nhưng mô hình này còn rất ít ở Việt Nam.
2.3.2 Thực trạng công ty tài chính ở Việt Nam
Sự ra đời và phát triển của công ty tài chính làm cho hệ thống tài chính trở nên phong phú, đa dạng, linh hoạt, hoàn chỉnh hơn Hoạt động của các công ty tài chính ở nước ta đã góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính-ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên những kết quả đạt được của các công ty tài chính chưa xứng với tiềm năng và vai trò của mình trong hệ thống tài chính, thị trường tài chính và nền kinh tế
Các công ty tài chính đa phần ra đời trong phạm vi nội bộ ngành, gắn liền với các Tổng Công ty Tuy những dịch vụ mà các công ty tài chính đang thực hiện đã phần nào đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của Tổng công ty và các đơn vị thành viên, nhưng để đáp ứng nhu cầu bên ngoài thị trường thì công ty tài chính vẫn đang ở
vị trí thứ yếu và chưa thể cạnh tranh được so với các tổ chức tài chính khác
Mặc dù công ty tài chính ở nước ta mới thực sự phát triển mạnh khoảng 5 năm trở lại đây, nhưng các công ty tài chính đã sớm khẳng định được vai trò quan trọng trong việc tạo lập thêm một kênh tài trợ tín dụng mới, hữu hiệu cho các đơn vị thành viên trong Tập đoàn và mở rộng, phục vụ tổ chức, cá nhân ngoài Tập đoàn Hoạt động của các công ty tài chính cũng đồng thời góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính tiền
tệ trong nền kinh tế thị trường
Cá biệt một số công ty tài chính đã đạt được những kết quả khả quan, tạo được vị thế trên thị trường, là các đối tác tin tưởng của các định chế tài chính lớn trong nước và quốc tế Tiêu biểu cho nhóm này là: Công ty tài chính Dầu khí (PVFC)
và công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy Vinasin
Tính đến nay tại Việt Nam đã có khoảng 18 công ty tài chính được cấp phép trong đó có 02 Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài Những công ty tài chính tại Việt Nam đầu tiên được ra đời vào năm 1998 và đều thuộc các Tổng công ty 91 (một
số hiện nay là các tập đoàn) như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông việt Nam, tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn cao su Việt Nam, Tập đoàn Than-khoáng sản, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy, Tập đoàn dệt may Việt Nam,…
Trang 17Danh sách các công ty tài chính ở Việt Nam (đến ngày 15/06/2012) STT Tên Công ty Số và ngày cấp Giấy phép Trụ sở chính Vốn điều lệ
1
Cty tài chính cổ phần
Dệt may Việt Nam
Vietnam Textile and
Garment Finance Joint
stock Company
Số: NHNN ngày 16/11/2010
255/GP-169-171 Phố Chùa Láng, Phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà
Fiannce Company
Limited
Số: 03/GP-NHNN ngày 10/10/1998 68 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội 500 tỷ đồng
5
Tổng công ty tài chính
cổ phần Dầu khí
Petro Vietnam Finance
Joint stock Corporation
Số: 72/GP-NHNN ngày 17/3/2008 (Cấp lại) 20 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội 6.000 tỷ đồng
157/GP-Tầng 9, 10, 11 Tòa Nhà Văn phòng Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Quận Thanh Xuân, Hà nội
550 tỷ đồng
7
Cty TNHH một thành
viên tài chính Prudential Việt Nam(100% vốn
Trung tâm Thương mại Sài Gòn, 37 Tôn Đức Thắng, Q 1, TP
Toà nhà Việt – Hồng
58 Trần Nhân Tông, Hai Bà Trưng, Hà Nội 1.000 tỷ đồng
Trang 18Tầng 2, Toà nhà Lawrence S.Ting, 801 Nguyễn Văn Linh, P
Tân Phú, Q7, TP HCM
112/GP-Tầng 1, Cao ốc Văn
phòng 194Golden Building,
137/GP-Tầng 2, Tòa Nhà HH4 Sông Đà Twin Tower, đường Phạm Hùng,
142/GP-28 Bà Triệu, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 604,9 tỷ đồng
187/GP-434 Trần Khát Chân, quận Hai Bà Trưng,
Toyota Financial Services
Vietnam Company
Limited
Số NHNNngày 24/7/2008
208/GP-Tầng 12, Bitexco Financial Tower, số 02 Hải Triều, quận 1, TP
304/GP-Tầng 1 Toà nhà 18T2 Khu đô thị Trung Hoà-Nhân chính, phường Nhân Chính quận Thanh Xuân, Hà Nội
340/GP-Toà nhà Vinachimex,
số 4 Phạm Ngũ Lão, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
600 tỷ đồng
17 Công ty TNHH một
thành viên tài chính
Quốc tế Việt NamJACCS
JACCS International
Vietnam Finance
90/GP-NHNN ngày 13/4/2010
Lầu 15, tòa nhà Centec, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3, TP
Hồ Chí Minh
500 tỷ đồng
Trang 19Company Limited
18
Công ty tài chính TNHH
một thành viên Miare
Asset (Việt Nam)
Miare Asset Finance
Company (Vietnam)
Limited
250/GP-NHNN ngày 11/11/2010
Lầu 1 Saigon Royal,
số 91 đường Pasteur, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.Hồ Chí
Minh
500 tỷ đồng
(Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
Những khó khăn của nền kinh tế vĩ mô và những cơn lốc của thị trường tài chính tiền tệ của Việt Nam trong những năm gần đây đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng trong đó có các công ty tài chính
Dễ nhận thấy rằng năm 2008 là một năm hoạt động đầy khó khăn của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính nói chung và các CTTC nói riêng Nhiều CTTC có kết quả lợi nhận âm, không thể hoàn thành kế hoạch đặt ra nhưng các công
ty không tiết lộ con số chính xác Thực tế, nhiều công ty tài chính đã xin điều chỉnh
kế hoạch Sự khó khăn, lúng túng trong các quyết định của các CTTC đã thể hiện rõ khi mà tiềm lực, trình độ, kinh nghiệm của các CTTC không thể so sánh với các NHTM Trong điều kiện đó, nếu không có sự trợ giúp từ phía các tập đoàn/ tổng công
ty mẹ thì chắc chắn nhiều CTTC đã rơi vào tình thế tiến hóa lưỡng nan
Năm 2009, kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước như: nguy cơ lạm phát tái xuất hiện, cán cân thương mại thâm hụt lớn, bội chi ngân sách vượt ngưỡng cho phép… cùng rất nhiều tác động từ môi trường kinh doanh không thuận lợi Điều này đã khiến cho các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các định chế tài chính gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện kế hoạch kinh doanh và mục tiêu phát triển của mình đề ra Với những chính sách linh hoạt, chính phủ đã điều hành tương đối hiệu quả kinh tế vĩ mô, nổi bật trong chính sách đó là chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho các tổ chức doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động ngân hàng-tài chính phải đối mặt với hàng loạt các diễn biến xảy ra như: tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tốc độ gia tăng nguồn vốn, việc cân đối vốn và tích tụ vốn đáp ứng yêu cầu kinh doanh khó khăn, diễn biến lãi suất, tỷ giá không ổn định, hoạt động kinh doanh ngoại hối căng thẳng, cân cân thanh toán quốc
tế còn nhiều diễn biến không thuận lợi