1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan hệ giữa wto và việt nam

28 394 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 69,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quan hệ giữa wto và việt nam

Trang 1

I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO

1) WTO - Lịch sử hình thành và phát triển.

WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết

WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của

tổ chức tiền thân, GATT - Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay

Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo

hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên

Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 23/4/1948, nhưng

do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được

Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948

Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay(1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và

Trang 2

Thương mại (GATT) vốn chỉ là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý

đã tỏ ra không thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995

Có thể hình dung một cách đơn giản về WTO như sau:

- WTO là nơi đề ra những quy định:

Ðể điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới Tính đến ngày 16 tháng 12 năm 2011, WTO có 155 thành viên Mọi thành viên của WTO được yêu cầu phải cấp cho những thành viên khác những ưu đãi nhất định trong thương mại, ví dụ (với một số ngoại lệ) những sự nhượng bộ về thương mại được cấp bởi một thành viên của WTO cho một quốc gia khác thì cũng phải cấp cho mọi thành viên của WTO (WTO, 2004c)

- WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:

Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộc đàm phán Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mới "Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán" Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ , để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên

- WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:

Ra đời với kết quả được ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý, WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên Các văn bản pháp lý này bản chất là các "hợp đồng", theo đó các chính phủ các nước tham gia ký kết, công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của những thoả thuận này là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh, buôn bán của mình

- WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp:

Nếu "mục tiêu kinh tế" của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh (gọi chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên theo các quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của

Trang 3

công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là mục tiêu, chính trị của WTO Mục tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm tới "mục tiêu xã hội" của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, phát triển bền vững, bảo

vệ môi trường

2) Mục tiêu của WTO

Hình dung đơn giản về WTO như nêu trên cũng chính là nội dung của các mục tiêu của WTO như được ghi nhận tại Lời mở đầu của Hiệp định thành lập WTO như sau:

"Các bên ký kết Hiệp định này thừa nhận rằng: Tất cả những mối quan hệ của họ (tức các bên ký kết thành lập ra WTO) trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo

vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau

(Các bên ký kết Hiệp định) thừa nhận thêm rằng: cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia đó;

(Các bên ký kết Hiệp định) mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuân tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biện đối xử trong các mối quan

hệ thương mại quốc tế;

Do đó, (Các bên ký kết Hiệp định), quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn; quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt ra cho cơ chế thương mại đa biên này

3) Chức năng của WTO

Theo ghi nhận tại Ðiều III, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, WTO có 5 chức

năng sau:

a) WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp định đa biên của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên;b) WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các thành viên về những quan hệ thương mại đa biên;

Trang 4

đồng thời WTO là một thiết chế để thực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết định do Hội nghị Bộ trưởng đưa ra;

c) WTO sẽ thi hành Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (''Thoả thuận'' này được quy định trong Phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO);

d) WTO sẽ thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của các nước thành viên), ''Cơ chế'' này được quy định tại Phụ lục 3 của Hiệp định thành lập WTO;

e) Ðể đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới

và các cơ quan trực thuộc của nó

4) Cơ cấu tổ chức của WTO:

5 tại Cancun, Mehico, tháng 9/2003; lần thứ 6 tại Hongkong, tháng 12/2005

b) Ðại hội đồng:

Ðại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng thì chức năng của Hội nghị bộ trưởng sẽ do Ðại hội đồng đảm nhiệm Như vậy, có thể hiểu Ðại hội đồng là cơ quan quyết định tối cao của WTO trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng

Khi cần thiết, Ðại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan giải quyết tranh chấp

Khi cần thiết, Ðại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan rà soát chính sách thương mại

Như vậy, các hoạt động hàng ngày trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội nghị bộ trưởng thuộc trách nhiệm giải quyết của 3 cơ quan:

- Ðại hội đồng;

- Cơ quan giải quyết tranh chấp;

- Cơ quan rà soát chính sách thương mại

Trang 5

Nhưng theo như quy định của WTO, thực chất, cả 3 cơ quan này chỉ là một Tức là tuỳ theo từng trường hợp cụ thể:

Ðại hội đồng nhóm họp với các chức năng và nhiệm vụ của Cơ quan giải quyết tranh chấp hay là của Cơ quan rà soát chính sách thương mại

Cơ quan giải quyết tranh chấp giám sát việc thực thi các thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (quy định tại Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp)

Cơ quan rà soát chính sách thương mại tiến hành việc phân tích các chính sách thương mại của các nước thành viên (quy định tại Cơ chế rà soát chính sách thương mại)

c) Các hội đồng; các uỷ ban; các nhóm công tác:

Các hội đồng:

Các hội đồng trực thuộc Ðại hội đồng, hoạt động theo sự chỉ đạo chung của Ðại hội đồng Các hội đồng cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO Ðại hội đồng có các hội đồng sau:

- Hội đồng thương mại hàng hoá

- Hội đồng thương mại dịch vụ

- Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Chức năng của các hội đồng là giám sát việc thực hiện các hiệp định liên quan đến lĩnh vực của mình Các hội đồng sẽ nhóm họp khi cần thiết Các hội đồng này thành lập ra các cơ quan cấp dưới theo yêu cầu

Các uỷ ban:

Hội nghị bộ trưởng thành lập ra các uỷ ban Các uỷ ban cũng bao gồm các đại diện của tất cả các thành viên của WTO Các uỷ ban này đảm nhiệm các chức năng được quy định trong các hiệp định của WTO hoặc các chức năng do Ðại hội đồng giao cho

Tuy cũng trực thuộc Ðại hội đồng nhưng thẩm quyền hoạt động của các uỷ ban hẹp hơn

so với các hội đồng Ðại hội đồng có các uỷ ban sau:

- Uỷ ban về thương mại và môi trường;

- Uỷ ban về thương mại và phát triển;

- Uỷ ban về hiệp định thương mại khu vực;

- Uỷ ban về các hạn chế nhằm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế;

- Uỷ ban về ngân sách, tài chính và quản trị;

Trang 6

- Nhóm công tác về tác động qua lại giữa thương mại và chính sách cạnh tranh;

- Nhóm công tác về minh bạch trong chi tiêu chính phủ;

- Nhóm công tác về thương mại, nợ và tài chính;

- Nhóm công tác về thương mại và chuyển giao công nghệ

5) Ban thư ký của WTO:

Ban thư ký của WTO đặt tại Geneva Ban thư ký có khoảng 550 nhân viên Nhân viên của Ban thư ký do Ban thư ký tuyển dụng qua thi tuyển Ðiều kiện trước tiên là phải thông thạo 3 ngoại ngữ là ngôn ngữ chính thức của WTO là Anh, Pháp, Tây Ban Nha

Ðứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc Tổng giám đốc của WTO do Hội nghị bộ trưởng

bổ nhiệm, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, điều kiện phục vụ và thời hạn phục vụ của Tổng giám đốc Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 4 năm.Tổng giám đốc sẽ bổ nhiệm các thành viên của Ban thư ký Dưới Tổng giám đốc là các Phó tổng giám đốc Các vụ chức năng của Ban thư ký trực thuộc Tổng giám đốc hoặc một Phó tổng giám đốc

Ban thư ký có nhiệm vụ:

- Trợ giúp về mặt hành chính và kỹ thuật cho các cơ quan chức năng của WTO (các hội đồng, các uỷ ban, ) trong việc đàm phán và thực thi các hiệp định;

- Trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát triển;

- Thống kê và đưa ra phân tích về tình hình, chính sách và triển vọng thương mại thế giới;

- Hỗ trợ các quá trình giải quyết tranh chấp và rà soát chính sách thương mại;

- Tiếp xúc và hỗ trợ các nước thành viên mới trong quá trình đàm phán gia nhập; tư vấn cho các

chính phủ muốn trở thành thành viên của WTO;

6) Cơ chế vận hành của WTO:

Tổ chức thương mại thế giới họp 2 năm một lần dưới hình thức Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên Ngoài các cuộc họp của Hội nghị bộ trưởng, còn có các cuộc họp của Ðại hội đồng

Trong các cuộc họp của WTO, việc ra quyết định được tiến hành trên cơ sở đồng thuận Ðây là một thông lệ của GATT 1947 (tổ chức tiền thân của WTO) trước kia và được WTO tiếp tục sử dụng

Cơ chế "đồng thuận" khác với cơ chế "biểu quyết" ở cơ chế biểu quyết (có thể biểu quyết bằng bỏ phiếu, bằng giơ tay, bằng ấn nút điện tử ) quyết định được thông qua kể cả khi không

có được 100% số phiếu tán thành, mà tuỳ theo quy định của mỗi tổ chức, mỗi cuộc họp, khi đạt được một tỷ lệ phiếu thuận (tán thành) nhất định thì quyết định đã được thông qua

"Ðồng thuận" là cơ chế ra quyết định mà tại thời điểm thông qua quyết định đó không có thành viên nào (có mặt tại phiên họp) chính thức phản đối quyết định được dự kiến Ví dụ, tại thời điểm 12/2005, WTO có 148 thành viên, nếu Hội nghị bộ trưởng họp và ra một quyết định nào đó, quyết định được thông qua nếu tất cả 148 nước thành viên đều không phản đối về quyết định đó thì gọi là đồng thuận

Trang 7

"Ðồng thuận" cũng khác với "nhất trí" Nhất trí là biểu quyết với 100% tán thành, tức là đạt được 100% số phiếu thuận

Nếu không thể đạt được một quyết định trên cơ sở đồng thuận thì vấn đề cần giải quyết sẽ được quyết định bằng hình thức bỏ phiếu Tại các cuộc họp của Hội nghị bộ trưởng và Ðại hội đồng, mỗi thành viên của WTO có một phiếu Cộng đồng châu Âu thực hiện quyền bỏ phiếu thì

họ sẽ có số phiếu tương đương với số lượng thành viên của cộng đồng là thành viên của WTO

Các quyết định của Hội nghị bộ trưởng và Ðại hội đồng được thông qua trên cơ sở đa số phiếu

7) Những nguyên tắc, luật lệ, quy định cơ bản của WTO

Cho dù có đến gần 30.000 trang văn bản, bao gồm rất nhiều văn bản pháp lý quy định nhiều lĩnh vực kinh tế - thương mại khác nhau như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, viễn thông, các biện pháp kiểm dịch động - thực vật, sở hữu trí tuệ song thực chất, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng và chuyển tải các nguyên tắc cơ bản của WTO, hay nói cách khác, WTO hoạt động dựa trên một số nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại thế giới là:

a) Thương mại không phân biệt đối xử

Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN):

"Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên nhất"

Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình

Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất" Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất" Và như vậy, kết quả là không phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào

Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT):

"Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau

Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị

Trang 8

trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước

Có thể hình dung đơn giản về hai nguyên tắc nêu trên như sau: Nếu nguyên tắc "tối huệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa các nhà xuất khẩu hàng hoá, cung cấp dịch vụ của các nước A, B, C khi xuất khẩu vào một nước X nào đó thì nguyên tắc

"đãi ngộ quốc gia" nhằm tới mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước X trên thị trường nước X, sau khi hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A đã thâm nhập (qua hải quan, đã trả thuế và các chi phí khác tại cửa khẩu) vào thị trường nước X

b) Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán):

Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy

trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép ) Trên thực tế, lịch sử của GATT

và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán

cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ

Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cách khác, đối với nhiều nước, khi

mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từng bước Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan được thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện

c) Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch:

Ðây là nguyên tắc quan trọng của WTO Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện Ðây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán

Trang 9

Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau:

Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:

Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan Ðây gọi là các mức thuế suất ràng buộc Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra

Về các biện pháp phi thuế quan:

Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự do thương mại Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ

bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt

Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình Ðồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại

d) Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn:

Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hoặc các biện pháp bảo hộ khác

Ðể thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá

e) Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển nhất:

Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật

Trang 10

chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh

tế chiếm hơn 3/ 4 số nước thành viên của WTO Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên

Ðể thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một

số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn

II. VIỆT NAM GIA NHẬP WTO.

1) Bối cảnh và phương thức gia nhập WTO

Tháng 1 năm 1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO Ban công tác với nhiều thành viên WTO quan tâm đến thị trường Việt Nam đã được thành lập Tháng 8 năm 1996, Việt Nam đã hoàn tthành «bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam » và đã gởi tới Ban thư ký của WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban công tác Bị vong lục đã giới thiệu tổng quan về kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách cũng như các thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thương mại hàng hoá, dịch vụ

và quyền sở hữu trí tuệ Sau khi nghiên cứu, nhiều thành viên của WTO đã đặt ra các câu hỏi yêu cầu Việt Nam trả lời nhằm hiểu rõ chính sách, bộ máy quản lý và thực thi chính sách của Việt Nam

Việt Nam cũng đưa ra câu trả lời về các câu hỏi này và đã cung cấp nhiều thông tin khác

có liên quan theo biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ nông nghiệp, trợ cấp công nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh…

Cho đến nay, đã có 9 phiên họp về chính sách của Việt Nam Hai phiên họp đầu tổ chức trong năm 1998, còn phiên họp thứ 3 tổ chức vào tháng 7 năm 1999 Đến 8/2001, Việt Nam chính thức đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hoá và dịch vụ để bước vào giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường Từ phiên 1 đến phiên 6 Việt Nam đã trả lời 2000 câu hỏi về chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư của Việt Nam Từ phiên họp thứ 6 (12-22/5/2003), Việt Nam và các đối tác thực chất đã tiến hành các cuộc đàm phán đa phương và song phương Phiên thứ 9 (15/12/2004)là phiên đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình đàm phán gia nhập WTO với các công việc: xem xét và thảo luận lần đầu tiên Dự thảo báo cáo của Nhóm Công tác; đánh giá tình hình đàm phán song phương; rà soát tình hình xây dựng pháp luật ở Việt Nam và xây dựng lịch trình đàm phán năm 2005 với phiên 10 vào tháng 3/2005 và phiên thứ 11 vào tháng 6/2005

Trang 11

Khi gia nhập vào WTO, Việt Nam sẽ được quyền tiếp cận tới thị trường của tất cả

thành viên khác trên cơ sở đối xử MFN Để hưởng thuận lợi này, Việt Nam sẽ cam kết chấp nhận các nguyên tắc đa biên đồng thời giảm mức độ bảo hộ thông qua loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Mặt khác, Việt Nam cũng phải mở cửa cho các nhà đàu tư nước ngoài vào tham gia kinh doanh trong nhiều lĩnh vực như dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng, xây dựng và dịch vụ vân tải

Sau khi kết thúc đạt kết quả khả quan các cuộc đàm phán song phương, đa phương và tổng hợp các cam kết song phương đồng thời với sự kiện Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương với Chủng quốc Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 10 tháng 12 năm 2001 đã tạo ra một bước tiến quan trọng để gia nhập WTO Các dối tác hàng đầu mà Việt Nam đã mất khá nhiều thời gian đàm phán để đạt được sự đồng thuận của các thành viên WTO là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản….Sau khi đạt được sự nhất trí của các đối tác đàm phán, theo đúng thủ tục WTO, Việt Nam đã kết nạp là thành viên của WTO và chính thức trở thành viên của tổ chức này từ ngày 11/1/2007

Sự ra đời của WTO đã khiến cho các điều kiện gia nhập ngày càng chặt chẽ hơn giai đoạn GATT trước đây và các cuộc đàm phán của Việt Nam đã bị ảnh hưởng rất rõ bởi xu hướng này Các nước xin gia nhập WTO bị yêu cầu phải ràng buộc biểu thuế của họ ở mức bằng hoặc xấp xỉ mức thuế áp dụng Hơn nữa, các nước mới gia nhập phải tự do hóa việc tiếp cận thị trường nội địa của họ nhiều hơn đáng kể so với giai đoạn trước năm 1995 Có một số lý do giải thích cho việc tại sao tiến trình gia nhập WTO lại “phức tạp” hơn trước đây

Trước hết, phạm vi của Hiệp định WTO đã mở rộng hơn nhiều so với GATT Bên cạnh

lĩnh vực truyền thống của GATT là thương mại hàng hóa, WTO điều chỉnh cả thương mại dịch

vụ, các vấn đề về sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại

Thứ hai, có thể thấy sự thay đổi quan điểm đáng kể của các cường quốc thương mại, đặc

biệt là Hoa Kỳ Trước khi Liên bang Xô Viết sụp đổ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Washington sẵn sàng chấp nhận các chính sách thương mại có thể tổn hại tới các lợi ích thương mại của mình để đổi lấy các ưu tiên trong chính sách đối ngoại (Kostecki, 1979) Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, việc theo đuổi các quyền lợi kinh tế quốc gia trở nên quan trọng hơn, cho thấy

đã có nhiều quan tâm hơn tới các thỏa thuận thương mại cụ thể (VanGrasstek, 1995, Naray, 2000)

Thứ ba, các cường quốc thương mại chính ngày càng coi việc gia nhập WTO là một

bước đi lớn của nước xin gia nhập nhằm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Việc trở thành Thành viên WTO là một cách để khuyến khích nước gia nhập xóa bỏ các chính sách kinh tế mang tính can thiệp,

Trang 12

thay vào đó là việc áp dụng các cách tiếp cận ít mang tính bảo hộ và theo định hướng thị trường nhiều hơn Việc này giải thích tại sao tiến trình gia nhập sẽ hiệu quả nhất khi tiến hành song song với một chương trình cải cách trong nước Khía cạnh này trở nên đặc biệt quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập của những nước như Trung Quốc, Nga hoặc Việt Nam, những nước mà khối lượng thương mại hiện tại hoặc trong tương lai rất có thể sẽảnh hưởng lớn tới hệ thống thương mại trong các thập kỷ tới

Cuối cùng, và cũng liên quan tới lý do trên, rõ ràng là các Thành viên WTO có xu hướng

muốn nước gia nhập đưa ra các cam kết cao hơn các quy định ghi trong lời văn của các Hiệp định WTO, hay còn gọi là hiện tượng “WTO cộng” Ví dụ, một số nền kinh tế đang chuyển đổi

đã bị yêu cầu phải đưa ra các cam kết và báo cáo về tiến trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước trong khi đó GATT/WTO hoàn toàn không quy định gì về vấn đề này (Kostecki,1979, Bernier, 1982) Một ví dụ của yêu cầu này là hiện nay vấn đề sở hữu ngành năng lượng vẫn là nội dung cản trở tiến trình gia nhập WTO của Nga, ngay cả khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức này Việc Nam cũng bị yêu cầu phải đưa ra các cam kết liên quan tới cổ phần hóa trong tiến trình gia nhập của mình

Vấn đề cốt lõi trong các cuộc đàm phán gia nhập nằm ở chỗ nước muốn gia nhập là bên

“bịđộng” Điều này có nghĩa nước này có nghĩa vụ phải đàm phán với các Thành viên hiện tại của WTO và thông thường có rất ít quyền trong quá trình đàm phán này Nói cách khác, tiến trình gia nhập mang tính bất cân bằng, theo nghĩa nước gia nhập không thể đưa ra các yêu cầu

về quyền lợi bổ sung, vượt quá những gì đang được quy định trong các Hiệp định hiện tại của WTO trong khi các Thành viên WTO có thể - và thường thực hiện - đưa ra các yêu cầu cao hơn mức độ hiện tại (Hoekman, Kostecki, 2001) Trong một số trường hợp, các nước xin gia

nhập bị yêu cầu phải thực hiện các nghĩa vụ thậm chí cao hơn mức độ cam kết của các Thành viên hiện tại Một ví dụ tiêu biểu là mức độ cam kết về thuế, trong khi quy tắc phổ biến hiện nay

là mức độ cam kết phải toàn diện và thuế ràng buộc không cao hơn hai lần mức thuế áp dụng bình quân gia quyền theo khối lượng nhập khẩu áp dụng tại các nước OECD (khoảng 10%) Trong khi mức độ cam kết bình quân của các Thành viên đang phát triển là khoảng 20% đối với các dòng thuế cam kết (rất nhiều dòng thuế chưa cam kết) Các ví dụ khác là yêu cầu xóa bỏ trợ cấp hàng nông sản trong khi rất nhiều Thành viên phát triển của WTO, kể cả EU và Hoa Kỳ, vẫn duy trì các khoản trợ cấp này, ngoài ra còn có cả các cam kết về dịch vụ toàn diện hơn so với các cam kết trong Vòng đàm phán Uruguay cũng như việc yêu cầu thực hiện đầy đủ các cải cách cần thiết (thay vì thực hiện quá trình chuyển đổi một cách từ từ) trở thành một điều kiện của tiến trình gia nhập

2) Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam và WTO

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo cho tới tận giữa những năm 80 của thế kỷ trước Kể từ

Trang 13

năm 1986, dưới chính sách “Đổi mới”, tăng cường định hướng thị trường và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã trở thành mục tiêu chính của Việt Nam Tiến trình cải cách tập trung vào việc tái cơ cấu các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước, tổ chức lại hệ thống hành chính và thiếp lập các mối quan hệ kinh tế với thế giới Nhằm tăng cường các mối quan hệ kinh

tế với khu vực, Việt Nam đã gia hập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương (APEC) Việt Nam cũng duy trì các mối quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, được điều chỉnh theo Hiệp định Thương mại năm 1991 và các hiệp ước hợp tác kinh tế khác Tham gia vào các thể chế khu vực nói trên tạo ra bước hội nhập đầu tiên của Việt Nam vào hệ thống thương mại để chuẩn bị cho việc trở thành thành viên WTO

Các mối quan hệ của Việt Nam với WTO được bắt đầu vào năm 1995 với việc nộp yêu cầu gia nhập chính thức Vào tháng 1 năm 1995, Đại hội đồng của WTO đã thành lập Ban công tác để xem xét đơn xin gia nhập của Việt Nam Ban công tác đã tiến hành 14 cuộc họp trong giai đoạn gần 12 năm - một quá trình đàm phán gia nhập khá dài Các thành viên của Ban công tác gồm Áchentina, Úc,Braxin,Brunây,Bungari, Campuchia, Canađa, Chilê, Trung Quốc, Côlômbia, Croatia, Cuba, Cộng hòa Đôminíc, Ai Cập, En Sanvađo, Liên minh châu Âu và các Thành viên của mình, Honđuras, Hồng Kông, Ixơlen, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Kyrgyzxtanxtan, Malaysia, Mêhicô, Marốc, Myanma, Niu Dilân, Na Uy, Pakistan, Panama, Paraguay, Philíppin, Rumani, Singapo, Sri Lanka, Thụy Sỹ, Đài Loan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và Uruguay (www.wto.org)

Việt Nam đã chuẩn bị bản Bị vong lục về chế độ ngoại thương của mình vào năm 1996 nhưng phải tới tận năm 1998 thì kế hoạch cho các cuộc họp định kỳ của Ban công tác mới được đưa ra Các cuộc đàm phán diễn ra chậm chạp do các lo ngại về chính trị, nhu cầu cần có những thay đổi

hệ thống quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và các Thành viên WTO đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đưa ra các nhượng bộ lớn

Bảng 1

Các mốc lớn trong quan hệ của Việt Nam với WTO

1994 Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và thiết lập quan hệ ngoại

giao bình thường vào năm 1995 Điều này đã thúc đẩy việc mở cửa nền kinh tế Việt Nam

1995 Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2005

1996 Bắt đầu cuộc gặp thường kỳ của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập

WTO

Trang 14

1998 Các cơ quan quản lý Việt Nam quyết định đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO

2001 Phiên đàm phán đa phương lần thứ 9 của WTO/GATT - vòng đàm phán Đôha vì sự phát

triển - được khởi động vào tháng 11 năm 2001

2002 Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên đối với hàng hóa và dịch vụ

2004 Việt Nam đưa ra Bản chào sửa đổi tham vọng hơn về tiếp cận thị trường vào tháng 6

năm 2004 tại phiên họp lần thứ 8 của Ban công tác, Bản chào này thể hiện một bước đột phá trong đàm phán gia nhập WTO

2004 Bắt đầu các cuộc đàm phán song phương với các Thành viên WTO Một thỏa thuận đột

phá được ký kết với Liên minh châu Âu (EU)

2005 Ký thỏa thuận với Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập WTO

2006 Hoa Kỳ và Việt Nam ký Hiệp định song phương về các cam kết gia nhập WTO

của Việt Nam, đây là Hiệp định song phương cuối cùng và dường như là khó khăn nhất trong số 28 Hiệp định song phương với các Thành viên WTO

2002 – 2006 Các cơ quan quản lý Việt Nam đã rà soát sâu rộng hầu hết luật và quy định

của Việt Nam trong các lĩnh vực liên quan tới WTO cũng như các lĩnh vực khác

và đã đưa kế hoạch hành động liên quan tới WTO vào Kế hoạch phát triển năm năm 2006 - 2010 (SRV, 2006)

2007 Việt Nam trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới vào ngày 11

ký vào tháng 5 năm 2006 là thỏa thuận song phương cuối cùng và có lẽ là thỏa thuận song phương khó khăn nhất mà Việt Nam đã đàm phán Việc ký kết thỏa thuận này cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm quyền cần thiết để dành cho Việt Nam quy chế

“quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn” (PNTR) - đây là điều kiện tiên quyết cho phép Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là một Thành viên WTO

Trọng tâm cải cách kinh tế và chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu của Việt Nam đã khiến cho quá trình gia nhập, vốn kéo dài và rất phức tạp, trở nên đơn giản hơn Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) và tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) rất hữu ích trong bối cảnh này do các thỏa thuận này đã khởi

Ngày đăng: 20/08/2015, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w