Trang 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VI VĂN HUẤN Tên đề tài: TÌM HIỂU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG BƯỞI DIỄN VÀ GIỐNG ỔI ĐÔNG DƯ TẠI VƯỜN QUẢ BÁC HỒ, KHU DI TÍCH PÁC BÓ, XÃ T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VI VĂN HUẤN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG BƯỞI DIỄN VÀ GIỐNG ỔI ĐÔNG DƯ TẠI VƯỜN QUẢ BÁC HỒ, KHU DI
TÍCH PÁC BÓ, XÃ TRƯỜNG HÀ, HÀ QUẢNG, CAO BẰNG
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Thái Nguyên – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VI VĂN HUẤN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG BƯỞI DIỄN VÀ GIỐNG ỔI ĐÔNG DƯ TẠI VƯỜN QUẢ BÁC HỒ, KHU DI
TÍCH PÁC BÓ, XÃ TRƯỜNG HÀ, HÀ QUẢNG, CAO BẰNG
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Giảng viên HD : ThS Lương Thị Kim Oanh
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đứng trước một nền kinh tế hiện đại và nhu cầu ngày càng tăng của con người, nhiệm vụ đặt ra đối với Đảng và Nhà nước ta là đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật vững về lý thuyết và giỏi về tay nghề làm chủ được khoa học kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu đổi mới hiện nay
Xuất phát từ thực tế trên, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho mỗi sinh viên ngoài việc nắm chắc được lý thuyết trên lớp, bên cạnh đó phải có một thời gian thực tập nhất định trên đồng ruộng nhằm đạt mục tiêu “ Lý thuyết đi đôi với thực hành ” giúp cho mỗi sinh viên củng
cố và hệ thống hóa các kiến thức đã học, đồng thời trở thành người cán bộ có chuyên môn cao, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa của đất nước
Được sự phân công và nhất trí của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Trồng trọt, Tôi về thực tập tốt nghiệp tại xã Trường Hà – Hà Quảng TP Cao
Bằng từ tháng 06-09-2014 với đề tài: “Tìm hiểu tình hình sinh trưởng và
phát triển của giống bưởi Diễn và giống ổi Đông tại Vườn quả Bác Hồ, Khu Di Tích Pác Bó, xã Trường Hà - Hà Quảng - Cao Bằng”
Qua thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Th.s Lương Thị Kim Oanh cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cơ quan địa phương nơi tôi thực tập, cũng như toàn thể bạn bè cùng với sự nỗ lực của bản thân đã giúp tôi hoàn thành chương trình thực tập của mình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ đó Do điều kiện thời gian và trình
độ bản thân có hạn nên đề tài tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự tham gia đóng góp của quỹ thầy cô và bạn bè
Người thực hiện
Vi Văn Huấn
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất quả của một số nước năm 2006 (1000 tấn) 20
Bảng 2.2: Diễn biến sản lượng quả qua các năm của một số nước ( tấn) 21
Bảng 2.3: Tình hình xuất nhập khẩu một số loại quả tươi năm 2005 23
Bảng 2.4 Tình hình xuất nhập khẩu một số loại quả trên thế giới năm 2005 25
Bảng 2.5: Sản lượng quả tín theo đầu người của một số nước trên thế giới (kg / người/ năm) 26
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất vải thiều năm 2002 29
Bảng 4.1 Diễn biến khí hậu trung bình 10 năm và năm 2014 tại Cao Bằng 40 Bảng 4.2 : Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại Hà Quảng 42
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây ăn quả chính năm 2006-2008 43
Bảng 4.4: Đặc điểm, kích thước lá của các công thức thí nghiệm 45
Bảng 4.5 : Đặc điểm phân cành của các công thức thí nghiệm 46
Bảng 4.6 : Đặc điểm sinh trưởng lộc hè của các công thức thí nghiệm 47
Bảng 4.7 : Đặc điểm hình thái của các công thức thí nghiệm 49
Bảng 4.8 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè của giống bưởi Diễn và ổi Đông dư 51
Bảng 4.9 Động thái ra lá 52
Bảng 4.10 Đặc điểm, kích thước cành hè thành thục của các công thức 53
Bảng 4.11: Tỷ lệ quả rụng trong thời gian theo dõi của giống ổi Đông Dư 54
Bảng 4.12 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu bệnh hại trong vườn cây ăn quả 55
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Biểu đồ 4.1: So sánh lượng mưa và nhiệt độ giữa các tháng 41
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa ttrong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Giới thiệu chung về cây ăn quả 6
2.2.1 Phân loại cây ăn quả 6
2.2.2 Những nghiên cứu về cây ăn quả 14
2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả trên thế giới và Việt Nam 19
2.3.1 Tình hình sản xuất quả trên thế giới 19
2.3.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam 27
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất cây ăn quả tại địa bàn nghiên cứu 32
3.3.2 Thí nghiệm nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống cây ăn quả thí nghiệm 33
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất cây ăn quả tại huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng 37
Trang 74.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 37
4.1.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả của huyện Hà Quảng 43
4.2 Tình hình sinh trưởng và phát triển của giống bưởi Diễn và ổi Đông dư ở vùng nghiên cứu 44
4.2.1 Đặc điểm hình thái của giống bưởi Diễn và ổi Đông dư 44
4.2.2 Động thái tăng trưởng lộc hè của giống bưởi Diễn và ổi Đông dư 51
4.2.3 Tình hình rụng quả của giống ổi Đông Dư trồng tại Pác Bó 53
4.2.4 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu bệnh hại trong vườn cây ăn quả 54
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 KẾT LUẬN 57
5.2 ĐỀ NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 8PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cây ăn quả có một vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong đời sống kinh tế sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình và sự phát triển của đất nước
Cây ăn quả cung cấp nguồn dinh dưỡng quý cho con người, nghành sản xuất cây ăn quả phát triển sẽ cung cấp nguyên liệu cho một số ngành khác như: Công nghiệp chế biến, công nghiệp dược phẩm, cây ăn quả còn tạo ra nguồn hàng hóa giá trị để xuất khẩu từ đó thu về ngoại tệ cho đất nước Trồng cây ăn quả có tác dụng cải tạo môi trường cảnh quan sinh thái, làm tăng độ che phủ cho đất, hạn ché xói mòn đất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở nhiều vùng sinh thái, nhất là vùng đồi núi trung du miền núi phía bắc, một số loại cây ăn quả còn có tác dụng làm thuốc, làm cây cảnh Hiện nay việc trồng cây
ăn quả ở nhiều vùng đã giúp cải tiến và nâng cao đời sống cho người dân, hiệu quả kinh tế trồng cây ăn quả trên đơn vị diện tích cao hơn so với cây trồng khác
Ở nước ta, trong thời qua đã có nhiều giống cây ăn quả cho năng suất
và chất lượng, các giống có thể được tuyển chọn từ cây đầu dòng ở địa phương hay từ nguồn nhập nội
Ở Cao Bằng những năm gần đây nghành sản xuất cây ăn quả có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của tỉnh Cùng với chủ trương chung của tỉnh về phát triển sản xuất cây ăn quả theo phương thức sản xuất hàng hóa thì việc trồng và thâm canh một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế vừa cho sản lượng và chất lượng cao sẽ là cây trồng tạo ra hàng hóa tốt mang lại hiệu quả cao cho người làm vườn
Trang 9Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số loại cây ăn quả, áp dụng các biện pháp kĩ thuật vào sản xuất, mở rộng diện tích trồng một số giống cây ăn quả có năng suất cao và chất lượng phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu tình
hình sinh trưởng và phát triển của giống bưởi Diễn và giống ổi Đông tại Vườn ăn quả Bác Hồ, Khu Di Tích Pác Bó, xã Trường Hà - Hà Quảng - Cao Bằng”
1.2 Mục đích và yêu cầu
* Mục đích:
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của một số giống cây ăn quả, nhằm đánh giá khả năng thích ứng của chúng trên địa bàn nghiên cứu, nhằm khôi phục và cải tạo vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu Di Tích Pác Bó để tăng thêm
vẻ đẹp và điều hòa không khí khu di tích
* Yêu cầu :
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Trường Hà có liên quan đến sản xuất cây ăn quả và sản xuất nông nghiệp
- Theo dõi tình hình sinh trưởng của các đợt lộc
- Theo dõi tình hình đậu quả của các công thức thí nghiệm
- Theo dõi tình hình sâu bệnh hại xuất hiện trên thí nghiệm
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa ttrong học tập và nghiên cứu khoa học
Giúp cho sinh viên hệ thống hóa kiến thức, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất Nâng cao trình độ, tiếp cận với tiến bộ khoa học, mở rộng hiểu biết trong nghiên cứu khoa học Tạo cho sinh viên tác phong làm việc, nghiên cứu độc lập phục vụ trong công tác sau khi ra trường
Trang 103.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Từ kết quả đánh giá khả năng thích nghi của một số loại cây ăn quả tại vùng sinh thái tỉnh Cao Bằng, nếu những loại cây ăn quả này sinh trưởng và phát triển tốt sẽ đóng góp thêm vào cơ cấu cây trồng của địa phương
Trang 11PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu tiềm năng cây ăn quả Việt Nam, tác giả Bùi Huy Đáp 1960 [3] và nhiều tác giả khác cùng có chung nhận định : Khu vực miền núi phía Bắc bao gồm các tỉnh : Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn…là vùng có tiềm năng phát triển cây ăn quả nói chung và các loại cam quýt nói riêng Đặc biệt vùng
có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích và có tập đoàn giống phong phú, đa dạng Khí hậu vùng này ngoài thích hợp với sinh trưởng các loại cây ăn quả ôn đới còn có ưu thế nổi bật hơn các vùng khác trong nước là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho các loại quả có múi đẹp, chất lượng tốt thể hiện đặc trưng của giống, vì vậy các loại quả có múi ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn
ở phía Nam, quả ít hạt, thịt mềm, mọng nước và ít xơ bã Ngoài những ưu thế nổi bật trên sản xuất các loại cây ăn quả ở vùng này còn gặp một số hạn chế
cơ bản như:
- Địa hình của nước ta phức tạp, độ dốc cao (đất vùng cao chiếm 38% quĩ đất nông nghiệp toàn quốc, có 58,2% diện tích đồi núi có độ dốc > 200), lượng mưa lớn gây xói mòn, thoái hoá đất dẫn đến tuổi thọ của cây ăn quả thấp, nhiệm kỳ kinh tế ngắn
- Chưa có quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành cây ăn quả, chưa điều tra khảo sát toàn diện trong cả nước và từng vùng sinh thái để định hình
và phát triển các loại cây ăn quả
- Giống cây ăn quả của nước ta nay hầu hết là giống địa phương, đã thoái hoá, quy trình canh tác không hợp lý, năng suất thấp, chất lượng kém,
Trang 12sâu bệnh nhiều, sản xuất phân tán, giá thành cao, chưa tạo được khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, không phù hợp với chế biến công nghiệp và xuất khẩu
- Đầu tư cho nghiên cứu khoa học (chọn giống, nhân giống…) và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong trồng trọt còn quá ít Hoạt động khuyến nông còn yếu; hệ thống quản lý và cung cấp giống cây ăn quả cho nhân dân còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và chưa được quan tâm đầy đủ
- Trình độ công nghệ và thiết bị chế biến, bảo quản lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn yếu và thiếu, vận chuyển và lưu thông trong nước còn chưa kịp thời, gây lãng phí lớn Sản phẩm, bao bì còn đơn điệu, giá thành cao, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu
- Chưa có hệ thống chính sách hợp lý, đồng bộ, chưa lồng ghép được các chương trình để khuyến khích đầu tư, phát triển và tận dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước
- Ý thức chấp hành các qui định về kiểm soát giống cây ăn quả, về bảo
vệ thực vật của nhân dân chưa cao nên trong sản xuất còn nhiều giống xấu, giống bị sâu bệnh, dẫn đến năng suất, chất lượng quả còn thấp
- Trình độ dân trí nước ta còn thấp, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa Dân ta còn nghèo, người nghèo chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, miền núi, nơi có điều kiện đất đai rộng để phát triển và mở rộng diện tích cây ăn quả Nhưng do thiếu thốn về cơ sở vật chất nên khả năng đầu tư cho cây ăn quả còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn
Hướng trọng tâm chủ yếu là nhập nội các giống mới có đặc tính tốt thử nghiệm với các vùng sinh thái và nghiên cứu thử nghiệm cùng với các gốc ghép thích hợp Việc trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đưa giống bưởi Diễn, giống ổi Đông Dư, giống xoài và cây vú sữa vào trồng nhằm khôi phục
Trang 13vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu Di Tích Pác Bó là hướng đi hết sức đúng đắn và có cơ sở khoa học cao, vì những giống cây ăn quả đưa vào trồng là sản phẩm hàng hóa có thương hiệu cao được thị trường ưa chuộng, và trong thời gian sắp tới nó sẽ góp phần vào sản xuất và phát triển cây ăn quả của vùng
2.2 Giới thiệu chung về cây ăn quả
2.2.1 Phân loại cây ăn quả
Ở nước ta có trên 39 họ, 124 loài cây ăn quả; trong đó có gần 40 loài thường gặp và có giá trị kinh tế trong đời sống hàng ngày, bao gồm:
- Cây ăn quả nhiệt đới: Dứa, Chuối, Xoài, Mít, Đủ đủ, Đào lộn hột, Na, Dừa, Sầu riêng, Măng Cụt, Mãng Cầu Xiêm, Me, Hồng Xiêm, Vú Sữa, Lê- ki- ma, ổi, Gioi, Khế, Dâu Da
- Cây ăn quả á nhiệt đới: Cam, Quýt, Chanh, Bưởi, Hồng, Táo, Lựu,
Bơ, Vả, Vải, Nhãn, Sơn Trà Nhật Bản
- Cây ôn đới: Táo Tây, Lê, Đào, Mận, Nho, Dâu tây, óc chó, Anh đào v.v
Dưới đây là một số lớn họ thường gặp theo hệ thống phân loại thực vật
* Họ phụ Cam, Quýt (Aurantioideac (Họ Rutaceae)
Cây bưởi (Citrus grandis osbeck - C.decumana L.)
Cây Cam chua (Cam đắng) (C Decumana L.)
Cam Chanh (C sinensis osbeck)
Cam Sành (C nobilis Lour)
Cây Quýt (C Reticulata – C.nobilis)
Cây Cam Đường (C Reticulata Tenore)
Chanh Yên (C Medica Subsp Bajoura Bonavia)
Cây Chanh (C medical…)
Phật Thủ (C.medica var digitata)
Chanh Cốm (C medica Var.acida)
Trang 14Chanh Giấy (C medica Var, limonum Hook)
Cây quất (C japonica Thurb - C.fortunella)
* Họ Dứa (Bromeliaceac)
Cây dứa Ananas comsus (L.) Merr (A sativa L.)
* Họ phụ mận (prunoideae) (Họ rosaceae)
Cây Đào (Persica vulgaris Mill)
Cây mận Prunus triflora Roxb ≈P.communis Franch Cây Mơ (Armeniaca vulgaris LamK)
* Họ phụ táo (Pomoideae) (Họ Rosaceae)
Cây Lê (Pirus communis - P Pyrifolia Nakai)
Táo Tây (Malus domestica = M Pumilia Mill)
Sơn Trà Nhật Bản- Nhót tây (Eriobotrya japonica Lindl)
* Họ Sim (Myrtaceae)
Cây Gioi (Eugenia javanica Lam.)
Cây Ổi (Psidium Guajava L.)
Cây Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk)
* Họ Lựu (Punicaceae)
Cây Lựu (Punica granatum L.)
* Họ Thị (Ebenaceae)
Cây Hồng (Diospyros kali L.f)
Cây Cậy (Diospyros lotus L.)
Cây Thị (Diospyros decandra Lour
* Họ Chay (Sapotaceae)
Cây Hồng Xiêm (Achras Zapota L.)
Cây Vú Sữa (Chrysophyllium canito L.)
* Họ Chua Me đất (Oxalidaceae)
Cây Khế chua (Averrhoa carambola L.)
Trang 15Cây Khế ngọt (Averrhoa Bilimbi L.)
* Họ Măng cụt (Guttiferae- Clusiaceae
Cây Măng cụt (Gareinia Mangoslanna L.)
Cây Bứa (Garcinia Louroiri Pierre)
Cây Dọc (Garcinia tonkinensis Vesque)
* Họ Dâu Tằm (Moraceae)
Cây Mít (Artocarpus integrifolia L.)
Cây Sung (Ficus glomerata Roseb)
Cây Vả (Ficus glomerata Roseb)
Cây Ngái (Ficus hispida)
* Họ Na (Anonaceae)
Cây Na (Anona Squamota L.)
Cây Mãng Cầu Xiêm (Anona muricata L.)
Cây Bình Bát = cây lê (Anona reticulata L.)
* Họ Bồ Hòn (Sapindaceae)
Cây Nhãn (Euphoria Longa (Lour) Steud (Nephelium longana)
Cây Vải (Litchi sinensis Sonn (Nêphlium litchi Cambes)
Chôm chôm (Nephelium mutabile = Kapoulasan)
* Họ Gạo (Bombaceae)
Cây Gạo (Gossampinus malabarica Merr- Bombax malabaricum D.C)
Cây Bông Gòn (Ceiba pentandra Gaertn – Eriodendron anfactuasum
Đ.C)
Cây Sầu Riêng (Duiro Zibethinus D.C)
* Họ táo ta (Rhamnaceae)
Cây Táo ta (Zơziphus mauritiana)
Cây Táo tầu (Z Jujuba Lamk – Zo Vulgaris)
Cây Táo rừng (Z Rugosa)
Trang 16* Họ đào lộn hột (Annacardiaceae)
Cây Đào lộn hột (Annacardium occidentale L.)
Cây Quéo (Mangifera Reba)
Cây Xoài (M.indica L)
Cây Muỗm (M.foetida)
Cây Thanh trà (Bouea macrophylla Griff)
Cây Sấu (Dracontomelum Duperreanum Pierre)
Theo quy hoạch mới đây trên đất nước ta được chia làm 7 vùng kinh tế lớn (7 vùng nông nghiệp) Mỗi vùng kinh tế được trồng trọt nhiều loại cây, trong đó cây ăn quả chiếm một ví trí nhất định Dưới đây là tình hình khái quát của 7 vùng kinh tế đó
Vùng 1: Đồng bằng Sông Hồng Diện tích trên 1 triệu ha Đất màu mỡ
để trồng lúa và cây lương thực khác - Vùng trọng điểm Lúa + Lợn Cây ăn quả sẽ kinh doanh trên quy mô nhỏ 5 - 7 ha ở vườn hợp tác xã, vườn nhà riêng
Vùng 2: Đồng bằng sông Cửu Long: Theo thống kê năm 1970 miềm Nam có 57.350ha cây ăn quả chiếm 21% tổng diện tích đất trồng trọt Riêng đồng bằng sông Cửu Long có 38.570 ha chiếm trên 67% diện tích cây ăn quả miền Nam Vùng này sẵn có nước tưới, đất phèn ít hoặc nhiều thích hợp cho lúa và các cây hoa mầu khác hơn cây ăn qủa Ở đây năng lượng bức xạ lớn, tổng số nhiệt độ cả năm hơn 90000C Vùng trồng cây quả tập trung ở các tỉnh Tiền Giang, Cửu Long, Hậu Giang, Đồng Tháp
Vùng 3: Đông Nam Bộ có tiềm năng lớn khoảng 55 vạn ha đất đỏ, hơn
1 triệu ha đất xám, 20 vạn ha đất phù sa ven sông (Vàm Cỏ, Đồng Nai, La Ngà) ít phèn 12 vạn ha đất felarit (Phước Long, Long Khánh) Ở đây thích hợp cho việc trồng cao su, cây ăn quả, cây công nghiệp Đặc biệt vùng hữu ngạn sông Đồng Nai, thuộc thị xã Phước Long, Chuối mới được trồng ở đất
Trang 17cao dọc các đường giao thông
Vùng 4: Tây Nguyên là vùng có nhiều triển vọng phát triển các loại cây
ăn quả như Mít, Bơ, Dứa, Chuối, Cam, Mãng Cầu Xiêm Đặc điểm ở đây là mùa khô và mùa mưa rõ rệt, cần có biện pháp giải quyết nước trong mùa khô
kể cả cho con người
Vùng 5: Vùng Bắc Trung Bộ Phủ Quỳ (Nghệ An) Diện tích khoảng 10 vạn ha, trong đó đất nông nghiệp 5 vạn ha, có 6 nông trường quốc doanh và
24 xã Ở đây đang hình thành vùng kinh tế trù phú Đất Bazan (Basalte), phù
sa cổ Có nhiều nông trường cây ăn quả và cây công nghiệp là Sông Con, Cờ
Đỏ, Đông Hiếu, Tây Hiếu, 19/5, 1/5, 3/2, trạm nghiên cứu cây nhiệt đới, nhà máy điện, nhà máy chế biến hoa quả - thực phẩm với công suất 1 vạn tấn/năm
Vùng 6: Trung du và miền núi Bắc Bộ có nhiều triển vọng phát triển cây ăn quả, bao gồm :
- Khu Đồng Giao đã trồng được trên 1.500ha trong đó khoảng 1000 ha dứa, thu hoạch trên 3.000 tấn dứa quả để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đông lạnh với công suất 1 vạn tấn /năm
- Tỉnh Hà- Sơn- Bình hiện có nhiều nông trường trồng cây ăn quả và cây công nghiệp là Cao Phong, Thanh Hà, Sông Bôi, 2/9, Cửu Long
- Tuyên Quang có các nông trường Sông Lô, 26/3, Tân Trào, Vối, bưởi Đoan Hùng nổi tiếng
- Việt Bắc gồm các nông trường Bố Hạ, Yên Thế, Hữu Lũng, Sông Cầu
Vùng 7: Duyên hải Nam Trung Bộ đã có truyền thống trồng các loại cây Nho (ở Phan Rang để làm rượu), Xoài, Cam, Dừa, Mít, Chuối v.v…
* Phân loại cây ăn quả ở Việt Nam
Kết quả điều tra nghiên cứu cây ăn quả ở các vùng sinh thái khác nhau
Trang 18trong cả nước cho thấy ở Việt Nam có 39 họ, 124 loài và trên 350 giống cây
ăn quả Dựa vào nguồn gốc và yêu cầu nhiệt độ để sinh trưởng và phát triển
có thể chia thành 3 nhóm
+ Nhóm cây ăn quả nhiệt đới gồm có: chuối, dứa, mít, xoài, ổi, dừa, đu
đủ, na, sầu riêng, măng cụt, vú sữa, hồng xiêm, trứng gà (lêkima), me, gioi, dâu gia, táo, khế, dưa hấu, đào lộn hột, bưởi, chanh lai v.v…
+ Nhóm cây ăn quả á nhiệt đới: bơ, cam quýt, vải, nhãn, lựu, hồng, nhót Nhật Bản, vả v.v…
+ Nhóm cây ăn quả ôn đới: mận, đào, lê, táo tây, nho, dâu tây, óc chó v.v…
Trong 3 nhóm kể trên, nhóm cây ăn quả nhiệt đới chiếm vị trí quan trọng về tỷ lệ thành phần loài và giống cây ăn quả cũng như diện tích trồng
Trong hơn 124 loài cây ăn quả, hiện nay có hơn 40 loài với hàng trăm giống trồng rộng rãi ở các vùng có giá trị kinh tế Đó là các loài cây ăn quả như chuối, mít, dứa, xoài, đu đủ, hồng xiêm, ổi, na, mãng cầu xiêm, trứng gà (lêkima), sầu riêng, măng cụt, me, cóc, dừa, táo, chôm chôm, vải, nhãn, khế, nho, dưa hấu, dưa lê, cam quýt, chanh, bưởi, quất, đào, mận, mơ, hồng, lê, dâu gia, sơri, thanh long, trám, hạt giẻ, dâu, đào lộn hột v.v…chưa kể một số loại quả thu hái ở rừng hoặc trồng ở vườn nhà ít được chú ý chăm sóc như sim, muồng, dâu rượu, bứa, dọc, sấu, thị, chay, ngấy, dâu gia rừng, bồ quân rừng, óc chó, vả v.v…
Rõ ràng là nếu biết khai thác và sử dụng vào các mục đích kinh tế dân sinh thì nguồn tài nguyên cây ăn quả của nước ta thật là phong phú và rất có ích
Dựa vào giá trị sử dụng sản phẩm có thể phân thành các nhóm dưới đây:
1 Nhóm cây ăn quả cho đường bột và có thể giải quyết một phần lương
Trang 19thực: mít, chuối, hạt giẻ, xa kê
2 Nhóm cây cho chất béo: bơ, dừa, óc chó, mạy châu
3 Nhóm cung cấp nguồn vitamin các loại: cam quýt, chanh, bưởi, xoài,
bơ, đu đủ, ổi, sơri, đào lộn hột v.v…
4 Nhóm cây ăn quả sử dụng các bộ phận của cây để làm thuốc: đu đủ, (hoa, thịt, quả), măng cụt (vỏ), quýt (vỏ), táo (lá), lựu (rễ), chuối (thịt quả), bưởi đào (vỏ), mơ (hạt) v.v…
5 Nhóm cây ăn quả vừa cho quả vừa làm cây bóng mát, cây cảnh ở công viên, đường phố Đây là những cây thân gỗ lớn hoặc nhỡ như: xoài, dừa, mít, sấu, nhãn, vải, hồng xiêm, vú sữa, dâu gia xoan, lựu….; nếu làm giàn cho thân bò nữa thì có thêm nho, nhót, lạc tiên, dưa tây…Một số vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt như ở Tây Nguyên, một số vùng ở Tây Bắc mùa khô hạn kéo dài, nắng nóng gay gắt trồng mít, bơ, mãng cầu xiêm, chôm chôm, xoài, sầu riêng, vú sữa…là những cây bóng mát tốt
6 Nhóm cây ăn quả cho tanin : hồng, vải, bàng, cóc, sim, măng cụt, ổi v.v…
7 Làm cây chủ để thả cánh kiến : táo, vải, nhãn, óc chó, bình bát Trong đó vải là cây dùng để gây nuôi cánh kiến đỏ và thu hoạch sản lượng cánh kiến rất cao
8 Nhóm cây nguồn mật: hầu hết hoa của các loài cây ăn quả ong đều
có thể hút mật, song đáng chú ý hơn cả là vải, nhãn, táo, cam, quýt
9 Nhóm cây cho nhựa: trám, đu đủ, hồng xiêm
Nhựa trám trắng, đen dùng làm hương, chất gắn trám…và thay thế phần nhựa thông trong công nghiệp; nhựa đu đủ chích từ quả xanh dùng trong công nghiệp thực phẩm để phân giải protit; nhựa hồng xiêm dùng làm kẹo cao
su trong công nghiệp bánh kẹo
10 Nhóm cây ăn quả dùng để làm rau ăn như mít (dùng quả non), đu
Trang 20đủ (quả xanh), dứa ta, sấu, dọc, tai chua, khế, dưa hấu (quả non), dừa (cùi trắng), trám đen…là những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có hương vị dân tộc trong bữa ăn hàng ngày theo tập quán của nhân dân các vùng khác nhau trong nước
* Phân bố tự nhiên cây ăn quả ở Việt Nam
Vị trí của nước ta trải dài trên 15 vĩ độ từ Bắc đến Nam, lại ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu ở mỗi vùng có những nét riêng Tại đây các yếu tố sinh thái như nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, lượng bức xạ, gió, độ ẩm không khí, đất đai, tình hình sâu bệnh v.v… không những trực tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất của từng giống cây ăn quả mà còn ảnh hưởng đến sự phân bố các loài và giống cây ăn quả trên địa bàn cả nước
Những loài cây ăn quả như chuối, dứa, mít, hồng xiêm, táo, ổi, na, đu
đủ, cam, chanh, quýt, bưởi… được trồng rộng rãi hầu hết các vùng trong nước, trừ những nơi mùa đông có nhiệt độ thấp hoặc có sương muối Do yêu cầu điều kiện sinh thái của từng giống, đối chiếu với tình hình khí hậu đất đai
cụ thể ở các vùng, một số cây ăn quả có phạm vi phân bố hẹp hơn Ví dụ:
- Vải và hồng trồng cho quả tốt từ vĩ tuyến 18, 19 trở ra Bắc Ở miền Nam hồng chỉ trồng được vùng Đà Lạt, Đơn Dương có độ cao so mặt biển khoảng 1500m
- Xoài trồng tốt kể từ Bình Định trở vào (vĩ tuyến 14) Nếu trồng lên phía Bắc lúc ra hoa gặp rét và ẩm, tỷ lệ đậu quả rất thấp, hiệu quả kinh tế kém Riêng vùng Yên Châu (tỉnh Sơn La) và Khe Sanh - Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị) có tiểu khí hậu gần giống với miền Nam nên ở đó xoài sinh trưởng khoẻ, ra hoa đậu quả tốt
- Đào lộn hột thích hợp với vùng đất cát biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào Đây là một cây ăn quả chịu hạn, chịu được phèn nên có thể trồng ở
Trang 21nhiều vùng miền Đông, miền Tây Nam Bộ và Tây Nguyên
- Cây bơ phát triển tốt, cho nhiều quả trên đất Tây Nguyên ở 3 tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng Các tỉnh miền Bắc đều có thể trồng được nhưng chú ý chọn giống tốt và phòng trừ sâu bệnh trong mùa mưa
- Dừa là cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở vùng đất cát ven biển, trồng có kết quả trên đất bazan ở Buôn Ma Thuột Vùng trồng có hiệu quả kinh tế từ Thanh Hoá trở vào (ở 19 đến 20 vĩ độ bắc) Vượt lên quá 200 bắc tuy cây dừa sinh trưởng tốt, vẫn có quả nhưng do ảnh hưởng trực tiếp các đợt gió lạnh mùa đông nên kết quả kém, có năm rét kéo dài nhiều đợt (cuối 1983- đầu 1984) cây chết nhiều
- Sầu riêng, măng cụt là 2 cây ăn quả nhiệt đới điển hình cho đến nay mới trồng đến Huế, trong các vườn ở bờ nam và bờ bắc sông Hương
- Các cây ăn quả ôn đới như mận, đào, lê, hạt giẻ, óc chó trồng và cho thu hoạch tốt ở các tỉnh biên giới phía Bắc ở các độ cao từ 500m trở lên so với mặt biển
- Trồng nho tốt nhất là ở Thuận Hải (vùng Phan Rang và các huyện lân cận) Thanh long mọc tốt cho nhiều quả ở tỉnh Bình Thuận và đang có xu hướng mở rộng ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (Long An và Tiền Giang)
Việc chọn các giống cây ăn quả thích hợp cho các vùng trong nước không những giúp các nhà làm vườn giảm được vốn đầu tư, kinh doanh có lãi
mà còn có thể hình thành được vùng sản xuất chuyên canh để có thể có khối lượng hàng hoá lớn cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu
2.2.2 Những nghiên cứu về cây ăn quả
* Một số nét chung về Bưởi Diễn
Được trồng nhiều ở Phú Diễn, Phú Minh ( Từ Liêm, Hà Nội ) Bưởi Diễn là một biến dị của bưởi Đoan Hùng Trái tròn, vỏ nhẵn khi chin màu
Trang 22vàng cam Trọng lượng trung bình quả từ 0,8 – 1 kg / trái Múi và vách múi
dễ tách rời nhau Thịt trái màu vàng xanh, ăn giòn, ngọt Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường được thu trước tết Nguyên Đán khoảng nửa tháng
* Một số nét chung về cây ổi Đông Dư
Giống cây ổi Đông Dư khỏe mạnh, dễ trồng, khả năng sinh trưởng tốt Giống ổi Đông Dư cho quả quanh năm, quả ổi nhỏ, tròn căng, từ lúc xanh đến lúc chín, da chuyển từ xanh thẫm sang vàng trắng ổi ương giòn, vị mát, ngọt vừa ổi chín lại thơm, mềm, ngọt đậm
Nói đến ổi làng Đông Dư thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội Làng Đông Dư có truyền thống lâu đời trong việc trồng rau và cây ăn quả Từ xưa, nhân dân cả nước đã từng biết đến rau cải bẹ Đông Dư tươi ngon, còn nay miền quê này lại nổi danh với trái ổi găng thơm phức, ngọt lịm
Làng Đông Dư chuyển sang trồng ổi khi không thành công với nhiều loại cây ăn quả trước đó Đến nay ổi Đông Dư đã trở thành đặc sản có tiếng của Hà Nội và có “thương hiệu” riêng trên thị trường trong nước Cũng vì thế
mà nhiều người cho rằng “đất Đông Dư là đất dành cho cây ổi, dân làng Đông
Dư chỉ hợp với trồng ổi”
Hiện nay giống ổi này đã được nhân rộng ra nhiều vùng và cho hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân
2.2.2.1 Yêu cầu về sinh thái của cây bưởi
* Nhiệt độ
Bưởi có thể trồng ở vùng nhiệt độ từ 12 – 39 0 C trong đó nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 – 29 0 C Nhiệt độ thấp hơn 12,50C và cao hơn 400C cây ngừng sinh trưởng Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sống của cây, cũng như năng suất và chất lượng quả ( Vũ Công Hậu, 1995 [4] Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng các đợt lộc trong mùa
Trang 23xuân là 12 – 20 0 C , trong mùa hè là 25 – 30 0 C , còn cho hoạt động của bộ rễ
từ 17 – 30 0 C Nhiệt độ tăng trong phạm vi 17- 300C thì sự hút nước và các chất dinh dưỡng cũng tăng và ngược lại, do liên quan đến sự bốc hơi nước và
hô hấp của lá
Đối với thời kỳ phân hoá mầm hoa nhiệt độ phải thấp hơn 250
C trong vòng ít nhất 2 tuần, hoặc phải gây hạn nhân tạo ở vùng nhiệt đới nóng Ngưỡng nhiệt độ tối thiểu cho nở hoa là 9,40C Trong ngưỡng nhiệt độ nhỏ hơn 20 0C sẽ kéo dài thời gian nở hoa, còn từ 25 – 300C quá trình nở hoa ngắn hơn ( Trần Thế Tục và cộng sự, 1994) [9]
Nhiệt độ thấp trong mùa đông có ảnh hưởng đến sự phát sinh cành hoa
có lá và cành hoa không có lá Cành hoa không có lá tỷ lệ đậu quả tới khi thu hoạch là rất thấp so với cành hoa có lá, do vậy nếu nhiệt độ mùa đông quá thấp cành hoa không lá sẽ nhiều hơn và như vậy tỷ lệ đậu quả sẽ thấp
Nhiệt độ ảnh hưởng tới sự thụ phấn gián tiếp thông qua hoạt động của ong và trực tiếp ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của ống phấn Sự nảy mầm của hạt phấn khi rơi vào đầu nhụy và tốc độ sinh trưởng của ống phấn trong vòi nhụy nhanh hơn khi nhiệt độ cao từ 25 – 30 0C và chậm khi nhiệt độ dưới
20 0C Sinh trưởng của ống phấn xuyên suốt hết vòi nhụy đến noãn từ 2 ngày đến 4 tuần phụ thuộc vào giống và điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên thời gian cang kéo dài cũng sẽ làm tỷ lệ đậu quả thấp
Sự rụng quả sinh lý là một rối loạn chức năng có liên quan tới vấn đề cạnh tranh của các quả non về hydratcacbon, nước, hoocmon và sự trao đổi các chất khác, song nguyên nhân quan trọng nhất là nhiệt độ mặt lá lên tới 35 – 400C và hạn Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của quả từ 14 – 400C, tốt nhất là ở nhiệt độ xung quanh 320C, nhiệt độ từ 29 – 35 0C tích lũy đường tốt nhất và vỏ quả có màu sắc tốt nhất
Trang 24Nhiệt độ ảnh hưởng đến hình thức bên ngoài và chất lượng bên trong của quả Ở những vùng nóng không có mùa đông lạnh hàm lượng diệp lục cao trên vỏ quả làm cho quả luôn có màu xanh, nhưng nếu nhiệt độ không khí
và đất đâi giảm xuống 150C thì chất diệp lục trên vỏ quả bị biến mất và các hạt luc lạp biến đổi thành các hạt sắc tố màu vàng, vàng cam hoặc màu đỏ Sự tổng hợp carotenoid giảm nếu nhiệt độ trên 350C hoặc dưới 150C nhưng vẫn làm cho diệp lục biến mất Ở những vùng nóng có hàm lượng chất khô hòa tan cao hơn và hàm lượng axít giảm ( Trần Thế Tục và cộng sự, 1994 [9]
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất và chất lượng của bưởi, bởi vậy việc chọn vùng tròng bưởi trước hết phải xem xét yếu tố nhiệt đọ xem có phù hợp không
* Lượng mưa và ẩm độ
Nước : Là hàm lượng vật chất tối đa trong nội thể của bưởi Diễn Ở bộ phận cành, lá, và rễ hàm lượng nước chiếm tối đa 50%, trong quả hàm lượng nước là nguyên liệu chủ yếu của quá trình quang hợp Rễ cây hấp thụ nước một phần nhỏ để tái tạo nên tế bào và các cơ quan mới, còn phần lớn là bị bốc hơi Độ ẩm của đất là nguyên nhân hạn chế sự đậu quả, làm giảm kích thước quả và chất lượng bên trong quả Yêu cầu lượng nước tưới là rất khác nhau phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, loại đất, tuổi cây
Cần chú ý bưởi là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng vì rễ của cây bưởi thuộc loại rễ nấm ( hút dinh dưỡng qua một lọa nấm công sinh ) nếu ngập nước đất bị thiếu oxy rễ hoạt động kém, ngập lâu sẽ bị thối chết làm rụng lá, quả non
Ẩm độ : Là một nhân tố khí hậu chủ yếu ảnh hưởng đến sự phân bố của bưởi, nó không những ảnh hưởng một cách rõ rệt đến sự sinh trưởng và hoạt động của cây mà còn có quan hệ mật thiết với sản lượng và phẩm chất của
Trang 25quả Ẩm độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển tốt 75 – 80% Đủ ẩm quả lớn đều, mã đẹp, vỏ mỏng, nhiều nước, ít rụng
2.2.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây Ổi
Cây ổi nhỏ hơn vải nhãn, cao nhiều nhất 10m, đường kính thân tối đa 30cm Những giống mới còn nhỏ và lùn hơn nữa Thân chắc, khỏe, ngắn vì phân cành sớm Thân nhẵn nhụi rất ít bị sâu đục, vỏ già có thể tróc ra từng mảng phía dưới lại có một lượt vỏ mới cũng nhẵn, màu xám, hơi xanh Cành non 4 cạnh, khi già mới tròn dần, lá đối xứng Hoa lưỡng tính, bầu hạ, mọc từng chùm 2, 3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá, cánh 5, màu trắng, nhiều nhị vàng, hạt phấn nhỏ rất nhiều, phôi cũng nhiều Ngoại hoa thụ phấn dễ dàng nhưng cũng có thể tự thụ phấn Quả to từ 4 – 5g đến 500 – 700
g gần tròn, dài thuôn hoặc hình chữ lê Hạt nhiều, trộn giữa một khối thịt quả màu trắng giòn thơm Từ khi thụ phấn đến khi quả chín khoảng 100 ngày Đánh giá chất lượng căn cứ vào các chỉ tiêu sau: Ít hạt, hạt mềm, bé: ở những giống dại tỷ lệ hạt so với khối lượng quả 10 – 15%, ở những giống tốt được chọn lọc, tỷ lệ này chỉ còn 2 – 4% thậm chí có giống gần như không hạt Cùi (phía ngoài hạt) nên dày vì cùi dày đi đôi với ít hạt nhưng cũng có giống cùi mỏng ruột, nhiều hạt vẫn được ưa chuộng Quả to, hình thù đều đặn, chín tới,
có mùi thơm: chỉ tiêu này giống các quả khác
* Yêu cầu nhiệt độ, ẩm độ đất : Cây ổi lá xanh quanh năm, không chịu được rét, độ nhiệt -20
Ccả cây lớn cũng chết Ngược lại ổi chịu đựng dễ dàng những độ nhiệt cao ở các sa mạc nếu đủ nước Độ nhiệt thấp ví dụ dưới 18 -
200Cquả bé, phát triển chậm chất lượng kém Ổi ưa thích khí hậu ẩm, nếu
lượng mưa hàng năm 1.500 – 4.000 mm phân bố tương đối đều thì không phải tưới Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột độ ẩm trong đất Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có khả năng phát triển nhanh một số rễ thẳng đứng ăn sâu xuống đất tận 3 – 4 m và hơn Nếu mưa nhiều, mực nước
Trang 26dâng cao ổi đâm nhiều rễ ăn trở lại mặt đất do đó không bị ngạt Thậm chí bị ngập hẳn vài ngày ổi cũng không chết Có thể lợi dụng đặc điểm này chủ động điều khiển mạch nước ngầm bằng phương pháp tưới tiêu để cho rễ ăn nông ở lớp đất mặt nhiều màu mỡ
* Yêu cầu đất trồng ổi : Ổi trồng được ở nhiều loại đất, pH thích hợp từ 4,5 đến 8,2 Tất nhiên muốn đạt sản lượng cao chất lượng tốt phải chọn đất tốt, sâu và phải bón phân đủ và hợp lý Cần nhấn mạnh: ổi mọc được bất cứ ở đất nào nhưng đó là chỉ nói mọc, có cành lá, nếu muốn có nhiều quả, chất lượng tốt phải bón nhiều phân Ổỉ không sợ gió nhưng giống quả to lá to khi
bị bão bị rách lá, rụng quả Vậy nên chọn chỗ khuất gió hoặc trồng hàng rào
chắn gió
2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất quả trên thế giới
Cây ăn quả được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới, tuỳ điều kiện
về khí hậu, địa hình và đất đai mà mỗi nước có một hoặc nhiều loại cây ăn quả khác nhau Các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới: Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi, Đông Nam Á trồng nhiều các loại cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới (chuối, dứa, xoài, cam, quýt…) Các nước vùng ôn đới trồng nhiều các cây
ăn quả có khả năng chịu lạnh (lê, táo, mơ, mận, nho…)
Theo số liệu thống kê của FAO statistics production – 2006, năm
2006 tổng sản lượng quả của thế giới đạt trên 526.496,05 tấn Trong đó có 5
nước có sản lượng quả đứng đầu thế giới là: Trung Quốc, Ấn Độ, Baraxin,
Mỹ, Italia
Trang 27Bảng 2.1 Tình hình sản xuất quả của một số nước năm 2006 (1000 tấn)
Các loại quả chuối, nho, táo chiếm vị trí quan trọng trong tổng sản lượng quả trên thế giới, các loại quả này có sản lượng lớn là do năng suất cao: chuối, táo và nho có giá trị sử dụng lớn: nho vừa dùng để ăn tươi, khô, vừa dùng để chế biến rượu
Hiện nay Trung Quốc là nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất các loại quả với sản lượng chiếm 17,74% tổng sản lượng quả của thế giới, trong
Trang 28đó sản lượng táo chiếm tới 27,88% Các nước Ấn Độ, Mỹ, Braxin là những nước có sản lượng quả lớn, trong đó Ấn Độ đứng đầu thế giới về sản xuất chuối, Italia đứng đầu thế giới về sản xuất nho…
Bảng 2.2: Diễn biến sản lượng quả qua các năm của một số nước ( tấn)
và các loại quả á nhiệt đới: cam, quýt, nhãn, vải…
Hiện nay trên thế giới hầu hết các loại quả đều tham gia vào thị trường thương mại, các loại quả được sản xuất nhiều là: nho, quả có múi, chuối, dứa, táo, mận, xoài…trong đó chuối chiếm vị trí đứng đầu trong số lượng quả tươi lưu thông trên thị trường, tiếp đến các loại quả có múi: cam, quýt, chanh, bưởi
và táo
Các nước xuất khẩu quả nhiều chính là các nước có sản lượng sản xuất các loại quả cao: Trung Quốc, Pháp, Indonesia… các nước nhập khẩu quả nhiều chủ yếu là các nước phát triển ở Bắc Á: Nhật Bản, Hàn Quốc… Châu Âu: Đức, Pháp, Ý, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ… do các nước này khí hậu ôn đới, không trồng được các loại quả á nhiệt đới và nhiệt đới
Trang 29Mỹ là nước đứng thứ 4 trên thế giới về sản xuất các loại quả, nhưng hàng năm Mỹ vẫn nhập rất nhiều các loại quả với số lượng lớn, do dân số của
Mỹ đông và nhu cầu sử dụng lớn
Trung Quốc năm 2001 là nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất các loại quả, tuy nhiên Trung Quốc cũng là nước xuất nhập quả lớn Với dân số đông, hàng năm Trung Quốc phải nhập tới 6.823,24 tấn quả tươi, trị giá gần 177.838,07 nghìn đôla, đồng thời Trung Quốc cũng xuất khẩu những loại quả tươi thế mạnh: táo, mận…sang các thị trường khác với số lượng 518.343,45 tấn với giá trị 325.555,54 nghìn đôla
Các nước Tây Âu và Bắc Mỹ: Đức, Pháp, Mỹ, Canada…là các thị trường xuất nhập quả nhiều vì ở các khu vực này đời sống của người dân cao, mức độ sử dụng lớn, đồng thời điều kiện tự nhiên hạn chế sự sản xuất của một
số loại quả, nhất là các loại quả nhiệt đới
Theo tin từ Trung tâm Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD) phát ngày 29/11/2002, năm 2002 do điều kiện khí hậu không thuận lợi tại một số quốc gia Mỹ, Úc và Niudilân nên lượng táo tiêu thụ toàn cầu đang trong tình trạng thiếu hụt Do vậy, dự tính giá táo trên thị trường thế giới sẽ tăng cao
Trang 30Bảng 2.3: Tình hình xuất nhập khẩu một số loại quả tươi năm 2005
Giá trị (1000 USD) Thế giới 1.338.359,72 1.040.236,86 1.700.701,59 1.609.219,53
Công ty cung ứng trái cây Maluti đã cố gắng đáp ứng nhu cầu đang rất lớn hiện nay và kiếm được nhiều lợi nhuận nhờ việc tăng giá cao mặc dù đồng Rand Nam Phi đang tăng giá so với đồng đôla Trong khi đó, công ty Cape, một đối thủ của công ty Maluti ở miền đông Nam Phi lại không thể thu được lợi nhuận với cơ hội này Nguyên nhân là do sản lượng táo của công ty Cape
Trang 31năm nay ước giảm khoảng 25%
Cũng theo tin từ Trung tâm Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD) phát ngày 26/11/2002, dự tính niên vụ 2002-2003 lượng kiwi thu hoạch của Ý sẽ đạt 394.000 tấn, tăng 20% so với 329.000 tấn niên vụ trước Đây sẽ là một mùa kiwi bội thu Lượng kiwi thu hoạch ở Lazio, khu vực trồng kiwi lớn nhất nước Ý- ước tăng 27% là 102.000 tấn Ngoài ra, ba vùng Piedmont, Veneto và Emilia Romagna dự tính cũng sẽ thu hoạch tương ứng là 88.155 tấn (tăng 27%), 51.676 tấn (tằng 4,1%) và 69.342 tấn (tăng 6,6%) Được biết, 80% khối lượng kiwi của Ý chủ yếu tập trung tại 4 khu vực này Những khu vực khác dự tính mức sản lượng cũng sẽ tăng khoảng 26% Hiện nay, hơn 21.000 ha diện tích trồng rau quả của Ý được dành cho các trang trại trồng kiwi Năng suất kiwi ước tính đạt 18,7 tấn/ ha, tăng 15%
so với niên vụ trước Song, chất lượng trái cây dường như không đổi Hàm lượng đường trong trái cây và kích cỡ quả đều đạt tiêu chuẩn cao Trong kết quả điều tra của các công ty cung ứng kiwi gần đây, một nửa số công ty sử dụng phương pháp tổng hợp, trong đó 11 mẫu kiwi được trồng theo phương pháp hữu cơ
Niên vụ 2002- 2003 tình hình sản xuất cây ăn quả ở một số nước có nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu thời tiết bất lợi, sau đây là tình hình thị trường tại một số nước:
Trang 32Bảng 2.4 Tình hình xuất nhập khẩu một số loại quả trên thế giới năm 2005
Loại quả
Số lượng (1000 tấn)
Giá trị (1000 USD)
Số lượng (tấn)
Giá trị (1000 USD)
Đu đủ 260,06 191.999,44 257,66 217.470,75 Đào 1.422,43 1.321.120,88 1.438,00 1.381.375,64
Dứa 2.205,67 1.026.859,52 1.963,91 1.453.109,05 Dâu tây 610,31 1.281.754,99 624,72 1.314.660,36
(Nguồn: FAO statistic trade – 2005) Tình hình xuất nhập khẩu của thế giới năm 2005 chủ yếu là các loại quả chủ lực như: chuối, táo, cam quýt, nho… Trong đó nhập khẩu năm 2005 lớn nhất là chuối 16.186,34 nghìn tấn, xếp thứ 2 là táo 6.879,20 nghìn tấn, sau
đó đến cam và nho… với giá trị nhập khẩu lớn nhất là chuối, tiếp đến là táo Riêng cam với lượng nhập khẩu lớn hơn nho song giá trị nhập khẩu thấp hơn
vì giá bán của nho cao hơn cam nhiều Về xuất khẩu 4 loại cây chuối, táo, cam, nho vẫn dẫn đầu về số lượng và giá trị xuất khẩu
Trang 33Trong các loại quả thì chuối, táo, nho, cam… được tham gia trao đổi nhiều nhất trên thị trường để sử dụng ăn tươi và chế biến Chuối tươi với sản lượng khoảng hơn 30 nghìn tấn được trao đổi trên thị trường thế giới năm
2005, đạt giá trị nhập khẩu 4.863.146,59 nghìn đôla Cam và táo là 2 sản phẩm tham gia trao đổi trên thị trường tương đối nhiều, đã đem lại nhiều tỷ đôla cho các nước: Trung Quốc, Pháp, Đức, Mỹ…
Sản lượng quả tính theo đầu người là chỉ tiêu đánh giá việc sử dụng dinh dưỡng của các quốc gia Hiện nay Achentina đứng đầu thế giới về chỉ tiêu này, tiếp đến là Braxin, Úc, Thái Lan…Việt Nam hiện nay mới đạt 66,01 kg/người/năm, phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt trên 70kg/người/năm
Bảng 2.5: Sản lượng quả tín theo đầu người của một số nước trên thế giới