Là tình trạng sâu răng do nuôi dưỡng, do việc sử dụng bình sữa không đúng cách hoặc bú mẹ kéo dài kết hợp với tình trạng nhiễm Streptococcus mutant.. Bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đ
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (874) - SỐ 6/2013 118
SÂU RĂNG BÚ BÌNH
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội
TÓM TẮT
Sâu răng bú bình là một dạng sâu răng đầu tiên ở
trẻ nhỏ, bệnh xuất hiện rất sớm trước 20 tháng tuổi
hoặc thậm chí khi răng vừa mới mọc Là tình trạng sâu
răng do nuôi dưỡng, do việc sử dụng bình sữa không
đúng cách hoặc bú mẹ kéo dài kết hợp với tình trạng
nhiễm Streptococcus mutant [ 5]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng bú bình là một thuật ngữ được dùng để
nói về tình trạng sâu răng ở trẻ nhỏ, là bệnh sâu răng
do cách nuôi dưỡng Bệnh có nguy cơ trên những
cháu ngậm núm vú thường xuyên, uống sữa trong khi
ngủ hoặc uống sữa ban đêm Các chất lỏng có đường
như sữa, mật ong, nước hoa quả bám trên bề mặt
răng của trẻ trong thời gian dài trên hai giờ sẽ bị
chuyển hóa bởi vi khuẩn tạo ra acid gây tổn thương
mô cứng của răng Bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến trẻ do các biến chứng như đau, nhiễm trùng, mất
răng sữa sớm… ảnh hưởng đến ăn nhai của trẻ cũng
như sự phát triển về thể chất, tâm lý, ngôn ngữ… Việc
điều trị cũng gặp nhiều khó khăn do trẻ còn quá nhỏ,
và tình trạng nặng nề của bệnh
ĐẶC ĐIỂM CỦA SÂU RĂNG BÚ BÌNH
Nguyên nhân:
Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, các nguyên
nhân này được chia làm hai nhóm: Nhóm chính và
nhóm phụ
- Nhóm chính: Có ba yếu tố phải cùng đồng thời
xảy ra
+ Vi khuẩn thường xuyên có trong miệng, trong đó
có Streptococcus mutans là thủ phạm chính
+ Chất bột và đường dính vào răng sau ăn sẽ lên
men biến thành acid do tác động của vi khuẩn
+ Răng có khả năng bị sâu nằm trong môi trường
miệng
Ở đây người ta cũng thấy rằng cấu tạo men răng
giữ một vai trò trọng yếu trong nguyên nhân sâu răng
Men răng mới mọc có thành phần apatite chứa nhiều
carbonate, là dạng tinh thể dễ bị tác động của acid
Qua thời gian sau nhiều chu kỳ mất khoáng và tái
khoáng, nhóm carbonate được thay thế bởi nhóm
hydroxyl hoặc fluor và chúng đề kháng tốt hơn với
acid [6]
- Nhóm yếu tố phụ trợ có rất nhiều như: Vai trò của nước bọt, di truyền, đặc tính vi sinh hóa của răng… Nhóm này tác động làm tăng hay giảm sâu răng và gây ra các vị trí lỗ sâu khác nhau
Căn nguyên của sâu răng được giải thích qua
sơ đồ sau:
Răng: Tuổi, flouride, hình thái, các vi tố, độ Cacbonat v.v
Vi khuẩn: Streptococcus mutans
Chất nền:
- VSRM sử dụng fluor
- pH vùng trao đổi quanh răng thấp 4, 5 - 5 sẽ gây thương tổn dưới bề mặt
- Khả năng trung hoà(đệm) của nước bọt Vai trò nước bọt và pH của môi trường xung quanh răng có ý nghĩa quan trọng
Có thể tóm tắt bệnh sinh của sâu răng như sau: Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng
Hay nói khác đi quá trình sâu răng bắt đầu từ khi các yếu tố gây mất ổn định mạnh hơn các yếu tố bảo
vệ trong động học sinh lý bệnh sâu răng
Mất ổn định
2 Dịch tễ
- Mảng bám vi khuẩn
- Chế độ ăn đường nhiều
lần
- Thiếu nước bọt hay nước
bọt acid
- Acid từ dịch dạ dày lên
miệng
- pH môi trường miệng <5
- Nước bọt
- Khả năng kháng acid của men răng
- Fluor có ở bề mặt men răng (do sử dụng Fluoride)
- Trám, bít hố rãnh
- Độ Ca++
, NP04 quanh răng
-pH >5,5
Sự bảo vệ
Nước bọt
khuẩn
Chất nền
Dòng Chảy
pH
Quanh răng
Trang 2Y HỌC THỰC HÀNH (874) - SỐ 6/2013 119
Có nhiều báo cáo có sự khác nhau về tỷ lệ mắc
bệnh do tiêu chuẩn nghiên cứu khác nhau và do trẻ
còn quá bé để có thể chọn mẫu nghiên cứu
M.O Folayan nghiên cứu trên 205 trẻ đang dược
điều trị về mối liên quan giữa sâu răng với tần suất sử
dụng đường đã đưa ra kết luận: trẻ em có chế độ ăn
uống thức ăn có đường trên 3 lần một ngày nên được
quản lý như một bệnh nhân nguy cơ sâu răng cao [ 3]
G.P Barnes(1992) nghiên cứu trên trẻ da trắng, da
đen, trẻ nói tiếng Tây Ban Nha và trẻ da đỏ ở Mỹ cho
thấy trẻ da đỏ có tỷ lệ cao nhất 35,8% so với trẻ nói
tiếng Tây Ban Nha 23,8%, trẻ da trắng 22,2% và da
đen 20,5% Trẻ sống ở vùng nông thôn có tỷ lệ cao
gấp hai lần so với trẻ thành thị và không có sự khác
biệt ở nhóm trẻ sống trong vùng có và không có fluor
hóa [ 4]
Brothwell (2002)báo cáo kết quả nghiên cứu trên
trẻ ở lứa tuổi 2,9 ± 1,7 tại cộng đồng ở Manitoba có tỷ
lệ sâu răng 53,7% [ 2]
Theo một nghiên cứu tại Kuwait (2010) tại một số
vườn trẻ cho thấy tỷ lệ sâu răng ở trẻ 4 tuổi là 32%, và
ở trẻ 5 tuổi là 24% [ 1]
3 Đặc điểm lâm sàng
Bệnh bắt đầu từ rất sớm, có những trường hợp
xuất hiện ngay sau mọc răng một thời gian ngắn Bệnh
xuất hiện đầu tiên ở mặt ngoài răng cửa hàm trên, tổn
thương nhanh chóng phát triển ở nhiều răng như răng
nanh, răng hàm sữa Tổn thương trên các mặt trơn
láng của răng, là những mặt mà bình thường ít khi bị
sâu Biểu hiện đầu tiên là những vết màu trắng nhạt ở
mặt ngoài gần sát đường viền lợi, dần dần chuyển
sang màu trắng đục, nâu vàng… và nhanh chóng lan
rộng Nếu tình trạng này không được kiểm soát thị
bệnh diễn biến ngày càng nặng nề dẫn đến tổn
thương phá hủy tổ chức men ngà răng, viêm tủy, viêm
cuống răng hoặc các biến chứng nhiễm trùng khác…
Bệnh thường gặp ở những trẻ bú sữa ban đêm
hoặc có tần suất sử dụng thức ăn có đường nhiều lần
trong ngày Phụ huynh của trẻ chưa hiểu biết hoặc có
ý thức kém trong việc vệ sinh răng miệng cho trẻ
4 Các biện pháp phòng và điều trị:
Phòng bệnh
Là biện pháp quan trọng và hữu hiệu để ngăn
ngừa sự phát triển của sâu răng bú bình Thành công
của chương trình ngăn ngừa sâu răng bú bình đã
được chứng minh bằng các đánh giá khách quan ở
nhiều quốc gia trên thế giới Hiệp hội nha khoa Mỹ
khuyến cáo làm thế nào để ngăn chặn vấn đề và giữ
cho miệng con bạn khỏe mạnh:
Không dùng chung đồ với các trẻ em khác hoặc
ngậm núm vú giả trong miệng của bạn rồi cho con
ngậm mà có thể làm lây nhiễm vi khuẩn gây sâu răng
sang con bạn
Khi chưa mọc răng, cần lau rửa lợi của bé với khăn
ấm
Khi mọc răng, đánh răng bằng bàn chải trẻ em và nước lọc Không sử dụng kem đánh răng có fluor cho đến hai tuổi hoặc theo khuyến cáo của bác sỹ
Sử dụng một lượng nhỏ kem đánh răng bằng hạt đậu cho trẻ từ 2-6 tuổi
Giám sát việc đánh răng của trẻ cho đến 6-7 tuổi, hoặc cho đến khi bạn chắc chắn rằng đứa trẻ sẽ không nuốt kem đánh răng
Không bao giờ cho con đi ngủ với một bình sữa hoặc nước có đường
Đảm bảo núm vú của trẻ luôn sạch sẽ và không bao giờ nhúng nó vào nước có đường rồi cho trẻ ngậm
Tập cho trẻ thói quen ăn uống lành mạnh và khuyến khích trẻ uống nước từ cốc khi trẻ được một tuổi
Điều trị:
Ở giai đoạn đầu khi tổn thương chưa phá vỡ cấu trúc men và ngà có thể sử dụng liệu pháp fluor để điều trị Fluor được sử dụng dưới dạng Varnish hoặc Gel bôi lên bề mặt răng
Khi đã tổn thương men và ngà răng cần phải phục hồi lại men ngà bởi các vật liệu hàn răng như GIC, Composite, Amalgam
Khi đã tổn thương nặng tới tủy răng cần phải điều trị các bệnh lý về tủy răng
Khi có các biến chứng nhiễm trùng tùy mức độ nặng nhẹ cần phải có hướng xử lý phù hợp
KẾT LUẬN
Sâu răng bú bình là một tình trạng sâu răng ở trẻ nhỏ do bú bình hoặc bú mẹ kéo dài, hoặc có tần suất
sử dụng thức ăn có đường nhiều lần trong ngày kết hợp với tình trạng vệ sinh răng miệng kém Bệnh gây ảnh hưởng tới sự phát triển về thể chất cũng như tâm
lý của trẻ Việc điều trị bệnh gặp nhiều khó khăn do trẻ còn quá bé, do đó việc đẩy mạnh công tác giáo dục phòng bệnh bảo vệ sức khỏe răng miệng cho trẻ là hết sức quan trọng
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Al-Mutawa SA, Shyama M, Al Duwairi Y, Soparkar
P, Dental Caries Experiene Of Kuwait Kindergarten
Schoolchildren, Community Dent Health, 2010 Dec; 27(4): 123-7
2 D.J Brothwell, R.J Schroth, P moore Prevalence
Of Early Childhood Caries in 4 Manitoba Communities, J Can Dent Assoc 2005;71(8):576
3 Folayan M.O., Sowole C.A, Kola-Jebutu A,
Owotade FJ Risk Factors For Rampant Caries in
Children From Southwestern Nigeria, AFRJ Med Med Sei,
2012, Sep 41(3), 249-55
4 G.P Barnes, W.A Parker, T.C Lyon, Jr, M.A
Drum and G.C Coleman, Ethnicity, Location, Age and Fluoridation Factors in Baby Bottle Tooth Decay And
Caries Prevalence Of Head Star Children, 107(2), Mar- Apr !992
Hùng, Đặng Thị Nhân Hòa, Nha khoa trẻ em, Tr 156-178
Tổng quan chuyên khảo ngắn Y Dược, Số 18, 1985:19-35