1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bảo hiểm y tế tự nguyện trên báo in hiện nay

96 350 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 799,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài "Vấn đề BHYT tự nguyện trên báo in hiện nay” khảo sát báo Tuổi trẻ, Báo Lao động, Báo Nhân dân trong năm 2013 nhằm góp phần nâng cao chất lượn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

––––––––––––––––––––––––––

ĐINH THỊ HIỀN

VẤN ĐỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

TRÊN BÁO IN HIỆN NAY

(Khảo sát báo Nhân dân, Lao động, Tuổi trẻ năm 2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Trang 2

Hà Nội, 2015

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

––––––––––––––––––––––––––

ĐINH THỊ HIỀN

VẤN ĐỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

TRÊN BÁO IN HIỆN NAY

(Khảo sát báo Nhân dân, Lao động, Tuổi trẻ năm 2013)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS.Bùi Chí Trung Các số liệu và kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào trước đây Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả

Đinh Thị Hiền

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn TS.Bùi Chí Trung đã tư vấn, hướng dẫn tôi lựa chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài này Đây là một đề tài khó, mang tính ứng dụng thực tiễn cao đối với công việc của bản thân Mặc dù tôi chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, song được sự hướng dẫn tận tình của TS Bùi Chí Trung, tôi đã có phương pháp tiếp cận, nghiên cứu và thực hiện đề tài một cách hiệu quả

Xin gửi lời tri ân đến các thầy, cô giáo tại Khoa Báo chí - Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những kiến thức cơ bản, để bổ sung, hoàn thiện hơn cơ sở lý luận báo chí của mình đang khuyết thiếu, giúp tôi vững vàng hơn về nghiệp vụ, quan trọng hơn

là bước đầu hình thành tư duy và kỹ năng nghiên cứu khoa học

Xin được gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo, đồng nghiệp của tôi tại Tạp chí BHXH; các nhà khoa học, nghiên cứu hoạch định chính sách

đã dành thời gian trao đổi, cung cấp nhiều thông tin quý báu giúp tôi trong quá trình viết luận văn

Đặc biệt, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, là động lực giúp tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Thông kê số lượng tin, bài đề cập tới vấn đề BHYT tự nguyện năm

2013 33

Bảng 2: Thống kê số lượng và tỷ lệ được 3 báo sử dụng 46

Biểu đồ 1: Tỷ lệ tin, bài đề cập tới vấn đề BHYT tự nguyện năm 2013 33

Biểu đồ 2: Tỷ lệ các thể loại báo chí chuyển tải thông tin BHYT tự nguyện 47

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN VỀ BHYT TỰ NGUYỆN 10

1 1 Cơ sở lý luận về BHYT, BHYT tự nguyện 10

1.2 Vai trò của thông tin báo chí trong sự phát triển BHYT, BHYT tự nguyện 16

Tiểu kết Chương 1 27

Chương 2 THỰC TRẠNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ BHYT TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO IN 29

2.1 Giới thiệu về 3 tờ báo được lựa chọn khảo sát 29

2.2 Kết quả khảo sát tin, bài về BHYT tự nguyện 33

2.3 Nội dung thông tin về BHYT tự nguyện 36

2.4 Hình thức chuyển tải thông tin về BHYT tự nguyện trên báo in 45

2.5 Đánh giá bước đầu về hiệu quả thông tin BHYT tự nguyện 52

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ BHYT TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO IN 64

3.1 Những vấn đề đặt ra trong công tác thông tin tuyên truyền về BHYT tự nguyện 64

3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề BHYT tự nguyện 66

3.3 Đề xuất, kiến nghị 75

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách An sinh xã hội

cơ bản và quan trọng nhất, là một tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia Trong những năm gần đây, BHYT tự nguyện đã dần thu hút được sự quan tâm của đối tượng tham gia; góp phần phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, người lao động; trở thành một trong những nguồn lực để thực hiện An sinh xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, căn cứ số liệu quyết toán do Tạp chí BHXH cung cấp, hiện số người chưa tham gia BHYT còn khoảng 34,5% dân số Trong đó, đối tượng thuộc diện có trách nhiệm tham gia nhưng chưa khai thác hết khoảng 15 triệu người và số đối tượng thuộc diện tự nguyện tham gia BHYT còn tới khoảng 20 triệu người Đó cũng là lý

do khiến vấn đề BHYT được rất nhiều cơ quan báo chí quan tâm phản ánh Giải quyết kịp thời, đúng đắn, hợp lý, công bằng các vấn đề xã hội và an sinh xã hội, trong đó có BHYT và BHYT tự nguyện là điều kiện tối cần thiết và quan trọng để giữ vững ổn định, đoàn kết và đồng thuận xã hội, để bảo đảm và thúc đẩy phát triển bền vững Những nhận thức đó dần từng bước định hình trong lý luận đổi mới của Việt Nam và cũng từng bước được thực hiện trong các chương trình, chính sách quốc gia của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam

Hệ mục tiêu của đổi mới thể hiện rất rõ những định hướng phát triển An sinh

xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, dẫn đến việc một

bộ phận nhân dân, người lao động chưa thực sự mặn mà với BHYT Theo kết quả nghiên cứu công bố trên Tạp chí BHXH về BHYT tự nguyện theo hộ gia đình: “Người tham gia khảo sát cho biết, nắm thông tin về BHYT chủ yếu từ cán bộ chính quyền, đoàn thể xã (84,6%) và cán bộ BHXH huyện (41,2%) Trong khi đó, chịu ảnh hưởng của các phương tiện thông tin truyền thông đại chúng ở tỷ lệ thấp (đài phát thanh 0,4%, TV 36%) Công tác thông tin tuyên

Trang 10

truyền về chính sách BHYT còn nhiều hạn chế, dẫn đến sự thiếu hiểu biết của một bộ phận không nhỏ người dân, một số người vẫn cho rằng BHYT là kinh doanh giống như loại hình bảo hiểm thương mại khác” Vì vậy, hơn bao giờ hết, bên cạnh lực lượng tuyên truyền viên của Ngành BHXH, sự hỗ trợ của các cấp, ngành, tổ chức, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương… báo chí phải là “lá cờ đầu” trong việc thông tin, tuyên truyền chế độ, chính sách, pháp luật BHXH, BHYT tới đông đảo nhân dân, người lao động BHXH, BHYT phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ,

có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHXH, BHYT Với tính chất định hướng, nếu báo chí thông tin tuyên truyền tốt, nhân dân, người lao động sẽ tin tưởng, nhiệt tình và tự giác tham gia Ngược lại, nếu không làm tốt công tác này, việc mở rộng đối tượng BHYT tự nguyện chắc chắn gặp nhiều khó khăn

Lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân toàn dân nhằm đảm bảo toàn bộ dân số cả nước được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, từng bước đạt tới sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân,

do đó, từ năm 2014 sẽ không còn hình thức BHYT tự nguyện mà chỉ còn BHYT bắt buộc Tuy nhiên đứng trước thách thức làm thể nào để huy động hơn 90 triệu dân cùng tham gia BHYT để thực hiện BHYT toàn dân thì việc tổng kết, đánh giá những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn công tác thông tin, tuyên truyền về BHYT tự nguyện đã triển khai là hết sức cần thiết Do đó, tác

giả thực hiện nghiên cứu đề tài "Vấn đề BHYT tự nguyện trên báo in hiện

nay” (khảo sát báo Tuổi trẻ, Báo Lao động, Báo Nhân dân trong năm 2013) nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông, từ đó

giảm thiểu những vấn đề còn tồn tại trong mảng thông tin về vấn đề này

2 Lịch sử nghiên cứu có liên quan tới đề tài

Để có thể đánh giá được thực trạng công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện trên báo in hiện nay, tác giả đã thực hiện quá trình

Trang 11

tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài, bao gồm các nghiên cứu trực tiếp về công tác tuyên truyền BHYT; cũng như những nghiên cứu cơ bản về chức năng, nhiệm vụ, vai trò của báo chí trong đời sống

xã hội, phương pháp đánh giá hiệu quả của truyền thông đại chúng…

Trước tiên, có thể đề cập về các nghiên cứu hiệu quả tác động của báo

chí Ở góc độ báo chí học, trong cuốn sách „„Nghề nghiệp và công việc của Nhà báo‟‟ do Hội Nhà báo Việt Nam xuất bản năm 1992, tác giả Phan Quang

có bài viết „„Về hiệu quả báo chí‟‟ Bằng kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, nhà

báo Phan Quang cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù khoa học, đồng thời cũng là mục tiêu mà con người phải tính đến trong hoạt động của mình Nói đến hiệu quả báo chí phải xuất phát từ sự tồn tại của bản thân báo chí Nội dung thông tin hấp dẫn, đáp ứng yêu cầu kịp thời, chính xác và đầy đủ đối với người nhận tin, đó chính là yếu tố quan trọng làm cho hiệu quả công tác báo chí phát huy tác dụng thực sự trong việc hướng dẫn dư luận và phục vụ nhân dân [57] Ý kiến của nhà báo Phan Quang mặc dù chưa thật sự hoàn chỉnh về

cơ sở lý luận, nhưng có ý nghĩa phương pháp luận bước đầu định hướng đối với việc nghiên cứu hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông ở nước ta

Trong cuốn sách „„Truyền thông đại chúng‟‟, do Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia xuất bản năm 2001, tác giả Tạ Ngọc Tấn viết tại chương I „„Truyền

thông và truyền thông đại chúng‟‟, ở phần III „„Mô hình và cơ chế tác động

của truyền thông đại chúng‟ Sau khi phân tích về mô hình truyền thông, cơ chế tác động của truyền thông tác giả đã đưa ra quan điểm về hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng Tuy nhiên, tác giả chủ yếu phân tích cơ sở lý luận

về hiệu quả truyền thông đại chúng nói chung, chưa chỉ rõ những vấn đề cụ thể về hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông

Sách giáo trình „„Cơ sở lý luận Báo chí - Truyền thông‟‟ của các tác giả

Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, đã được Nhà xuất bản Văn

hóa - Thông tin cho ra mắt bạn đọc năm năm 1995, trong đó dành 01 chương

(chương VI) viết về hiệu quả báo chí Đến năm 2007, sách giáo trình „„Cơ sở

lý luận Báo chí - Truyền thông‟‟ đã được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà

Nội in tái bản lần thứ 3, lần này được các tác giả sửa chữa, bổ sung, chỉnh lý

Trang 12

một số chi tiết, chương, mục cho phù hợp hơn Sách có 10 chương, trong phạm vi đề tài nghiên cứu của Luận án, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến

chương VIII „„Hiệu quả báo chí‟‟, do tác giả Dương Xuân Sơn biên soạn Với

những chỉnh sửa, bổ sung lần này, cơ sở lý luận về hiệu quả báo chí được đề cập sâu hơn

Điều dễ nhận thấy là trong cả bốn lần xuất bản cuốn „„Cơ sở lý luận Báo chí - Truyền thông‟‟ và cuốn „„Giáo trình lý luận báo chí truyền thông‟‟

mới xuất bản trên, mối quan hệ của báo chí trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng nói riêng và trong hoạt động truyền thông nói chung vẫn chưa được làm sáng tỏ Mặc dù các vấn đề cơ bản về hiệu quả báo chí

được tác giả tập trung phân tích, nhưng các tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí

trong hoạt động truyền thông vẫn chưa được đề cập rõ nét

Trong bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam „„Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng‟‟, đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4 (77), 2001,

tác giả khái quát về sự ra đời, phát triển của truyền thông, truyền thông đại chúng, sự cấp thiết và tính phức tạp trong nghiên cứu truyền thông đại chúng Tác giả đưa ra những hệ thống chỉ tiêu, lấy đó làm cơ sở để phân tích tính hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng, đó là: Hiệu quả vị lợi; Hiệu quả uy tín; Hiệu quả tăng cường quan điểm; Hiệu quả thỏa mãn lợi ích nhận thức; Hiệu quả thẩm mỹ; Hiệu quả thuận tiện Đồng thời, tác giả đưa ra

quan điểm „„Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả truyền thông đại chúng là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp‟‟ Mặc dù

tác giả Mai Quỳnh Nam chưa định danh cụ thể vai trò của báo chí trong hệ thống truyền thông đại chúng, nhưng là những kiến thức bổ ích giúp cho việc nghiên cứu sâu về hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông

Tháng 6/2011, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản cuốn “Giáo trình tác phẩm báo chí đại cương”, do tác giả Nguyễn Thị Thoa chủ biên Tại

Chương 1 “Lý luận chung về tác phẩm báo chí”, đề cập nội dung “Giá trị sử dụng của các tác phẩm báo chí” ở mục 3, tác giả đưa ra quan điểm về cách đo

lường giá trị tác phẩm báo chí, có thể đo trực tiếp hoặc gián tiếp, cụ thể: đo theo thời gian, phạm vi tác động, chiến dịch tuyên truyền, theo công chúng

Trang 13

cần tác động, theo tính chất (nóng hay nguội) của thông điệp mà tác phẩm báo chí chuyển tải Mặc dù tác giả không đề cập đến hiệu quả báo chí, tuy

nhiên, khi phân tích giá trị tác phẩm báo chí với những cách đo lường trên cũng giúp cho việc tham khảo để xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí trong hoạt động thông tin, tuyên truyền

Đối với hệ thống các nghiên cứu có liên quan tới vấn đề BHYT, cho đến nay mới có 04 công trình nghiên cứu của Khoa Báo chí, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, cấp độ Thạc sĩ,

công bố năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Thu Hường với đề tài: “Báo chí với vấn đề ASXH"; : Báo chí với chính sách BHYT ở Việt Nam”, khóa luận năm

2000 của tác giả Bùi Đình Cự; “Báo chí với với đề BHXH”, Luận văn năm

2003 của tác giả Dương Văn Thắng; Nội dung BHYT toàn dân được phản ánh trên Tạp chí BHXH”, khóa luận năm 2006 của tác giả Đinh Thu Hiền

Tuy nhiên, ba công trình ở cấp độ cử nhân này nghiên cứu ở phạm vi chung của báo chí với vấn đề BHYT, không đi vào phân tích cụ thể đối tượng BHYT tự nguyện mà chỉ đề cập chung chung nên tính khái quát chưa cao Gần đây, công trình luận án Tiến sỹ báo chí: “Nghiên cứu hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về An sinh xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”, của tác giả Dương Văn Thắng đã đi nghiên cứu sâu về hiệu quả của báo chí đối với hoạt động An sinh xã hội trong đó có đề cập đến hiệu quả của báo chí đối với BHYT

Những công trình vừa đề cập là những tài liệu quý, tài liệu tham khảo hữu ích làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu lý luận về BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng

Ngoài ra, tổng quan nghiên cứu cho thấy cũng có một số công trình nghiên cứu về các lĩnh vực thông tin, tuyên truyền của ngành BHXH, BHYT như: chuyên đề: “Những giải pháp thực hiện công tác tuyên truyền chính sách BHXH trên địa bàn Hải Phòng” do cử nhân Nguyễn Xuân Đóa làm chủ

Trang 14

nhiệm, nghiên cứu và bảo vệ năm 2000; đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về BHXH hiện nay” do ThS.Trần Xuân Vinh nghiên cứu và bảo vệ năm 2001; chuyên đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền khu vực BHYT tự nguyện” do cử nhân Phạm Văn Cảnh làm chủ đề tài, nghiên cứu và bảo vệ năm 2004; đề án “Thực trạng

và giải pháp hoàn thiện công tác thông tin, tuyên truyền BHXH, BHYT, BHTN ở Việt Nam” do cử nhân Đoàn Phú Nho làm chủ nhiệm, nghiên cứu và bảo vệ năm 2010; đề án “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động thông tin tuyên truyền của hệ thống BHXH Việt Nam”, do ThS.Trần Xuân Vinh làm chủ nhiệm, bảo vệ năm 2011 Tuy nhiên, các công trình trên cũng mới chỉ bước đầu nghiên cứu về công tác thông tin tuyên truyền BHXH, BHYT, BHTN, là những bộ phận cấu thành của hệ thống ASXH Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận báo chí truyền thông, nhất là đánh giá hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông ASXH

Tóm lại, tổng quan nghiên cứu cho thấy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một toàn diện, hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về mối

quan hệ giữa báo chí và BHYT tự nguyện Do đó, đề tài nghiên cứu “Vấn đề BHYT tự nguyện trên báo in hiện nay” là độc lập, không trùng lặp với các

nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, do tính chất bao trùm, rộng lớn của lĩnh vực truyền thông báo chí và tính trụ cột của BHYT trong hệ thống An sinh xã hội nên trong quá trình nghiên cứu, học viên tham khảo thêm kết quả các nghiên cứu và có những đề xuất mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đang đặt ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện trên báo in hiện nay và tìm ra những vấn đề còn tồn tại, qua đó đánh giá ưu điểm, nhược điểm, và đưa ra giải pháp trong quá trình chuyển tải thông tin BHYT tự nguyện trên báo chí Bên cạnh

Trang 15

đó, qua việc lấy ý kiến đánh giá các chuyên gia về BHYT tự nguyện trên báo chí, tác giả luận văn có đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông, từ đó góp phần giảm thiểu những vấn đề còn tồn tại trong mảng thông tin về BHYT tự nguyện

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chí, đặc biệt xác lập và làm rõ cơ sở lý luận về thông tin báo chí, mỗi quan hệ giữa báo chí và vấn đề BHYT tự nguyện

- Khảo sát, đánh giá thực trạng thông tin, tuyên truyền của báo in về vấn đề BHYT tự nguyện ở nước ta thời gian qua, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế Trên cơ

sở các vấn đề lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin BHYT tự nguyện trên báo in

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: "Vấn đề BHYT tự nguyện trên

báo in hiện nay”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

BHYT tự nguyện là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, công tác thông tin, tuyên truyền cho lĩnh vực này là nhiệm vụ thường xuyên của các phương tiện thông tin đại chúng, trong khuôn khổ luận văn, người viết tập trung nghiên cứu tất cả những tin, bài đề cập đến vấn đề BHYT tự nguyện được đăng tải trên trên 3 tờ báo Lao động, Tuổi trẻ, Nhân dân trong năm 2013 để phần nào thấy được bức tranh thông tin phản ánh về quá trình đưa một chính sách xã hội quan trọng vào cuộc sống Giai đoạn năm 2013 cũng là thời điểm cuối cùng chuẩn bị khép lại tiến trình triển khai BHYT tự nguyện sang giai đoạn phổ biến BHYT toàn dân, do đó các cứ liệu khảo sát

Trang 16

phân tích sẽ có điều kiện phân tích đánh giá được toàn diện, đầy đủ và phù

hợp với đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử như một cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu

Cùng với việc vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận của xã hội học Mác xít là những lý luận về thông tin, thông tin báo chí, các văn kiện, tài liệu của Đảng, Quốc hội, các Bộ, ngành có liên quan cũng như các tác phẩm báo chí được đăng tải trên 3 tờ báo được tác giả lựa chọn khảo sát

5.2 Phương pháp công cụ

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu lịch sử và tài liệu thứ cấp: Kế

thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước đã nghiên cứu về những

đề tài có liên quan Tổng hợp tất cả các quan điểm lý luận, thực tiễn liên quan

đến vấn đề tài liệu từ các văn bản, tài liệu khoa học, sách, báo…

- Phương pháp phân tích nội dung: tập trung phân tích nội dung báo

chí, những bài báo đăng tải trên các trang báo in được lựa chọn khảo sát trong năm 2013.Trong quá trình nghiên cứu, tác giả chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại các các bài báo có liên quan đến vấn đề BHYT tự nguyện, đồng thời những phương pháp hỗ trợ nhau như phương pháp đối chiếu, so sánh để thấy được thành công và hạn chế trong việc thực hiện chức năng tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện của từng tờ báo đối với cùng một sự kiện, vấn đề

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Nhằm thu thập các ý kiến của một số nhà

quản lý, chuyên gia, lãnh đạo cơ quan báo chí, chúng tôi thực hiện phỏng vấn

Trang 17

tùy theo điều kiện khách quan, đề tài thực hiện phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp

(quan email, điện thoại)

Ngoài ra, nhằm bổ sung cứ liệu thông tin, đặc biệt là các số liệu khảo sát điều tra về vấn đề BHYT tự nguyện trên báo in, luận văn có sự kế thừa hệ thống số liệu khảo sát điều tra đã được thực hiện và công bố trong một số công trình nghiên cứu liên quan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Trên cơ sở làm rõ vấn đề BHYT tự nguyện ở những tờ báo được khảo sát, luận văn có thể đưa ra những kinh nghiệm và giải pháp thông tin trên báo

in Việt Nam Điều này có ý nghĩa đối với nhà báo, cơ quan báo chí trong việc xác lập kế hoạch tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện

- Kết quả nghiên cứu của luận văn là một nguồn tư liệu tập trung, bổ ích đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý báo chí, các nhà báo và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tham khảo, luận văn gồm có các chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận của công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện

Chương 2 Thực trạng thông tin, tuyên truyền về BHYT tự nguyện trên

báo in

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền về vấn

đề BHYT tự nguyện trên báo in

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN,

TUYÊN TRUYỀN VỀ BHYT TỰ NGUYỆN

1 1 Cơ sở lý luận về BHYT, BHYT tự nguyện

1.1.1 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của BHYT

Con người ai cũng muốn sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc Nhưng trong đời người, những rủi ro bất ngờ về sức khỏe như ốm đau, bệnh tật …

có thể xảy ra Các chi phí khám và chữa bệnh này không được xác định trước, mang tính “đột xuất”, vì vậy cho dù lớn hay nhỏ, đều gây khó khăn cho ngân quỹ mỗi gia đình, mỗi cá nhân, đặc biệt là đối với người có thu nhập thấp Không những thế, những rủi ro này nếu tái phát, biến chứng… vừa làm suy giảm sức khỏe, suy giảm khả năng lao động, vừa kéo dài thời gian không tham gia lao động nữa làm cho khó khăn trong cuộc sống tăng lên

Để khắc phục khó khăn cũng như chủ động về tài chính khi rủi ro bất ngờ về sức khỏe xảy ra, người ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như tự tích lũy, bán tài sản, kêu gọi sự hỗ trợ của người thân, đi vay…Mỗi biện pháp đều có ưu điểm và hạn chế nhất định Tuy nhiên, không thể áp dụng trong trường hợp rủi ro kéo dài về thời gian và lặp đi lặp lại Vì thế, cuối thế kỷ XIX, bảo hiểm y tế ra đời nhằm giúp đỡ mọi người lao động và gia đình khi gặp rủi ro về sức khỏe để ổn định đời sống, góp phần bảo đảm

an toàn xã hội[34]

Điều này được thể hiện rõ trong nghị quyết của đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX là: "Thực hiện đồng bộ các chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu Đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, đảm bảo các loại thuốc thiết yếu đến mọi địa bàn dân

Trang 19

cư Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới cơ chế chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân

BHYT ở nước ta được hình thành và phát triển hơn 10 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách mới, hoàn toàn phù hợp quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý ở nước ta, từng bước hòa nhập với xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới Tuy nhiên đến nay, mạng lưới BHYT trong lĩnh vực y tế mới bao phủ trong phạm vi còn khiêm tốn đối

với toàn bộ dân cư nước ta Việc thực hiện BHYT toàn dân phải được coi

là mục tiêu, là biện pháp góp phần thực hiện công bằng xã hội trong công tác chăm sóc sức khỏe người dân; đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt thành phần kinh tế, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, vị trí địa lý, tuổi tác, giới tính đều được sự bảo vệ sức khỏe, đều được khám chữa bệnh bằng BHYT

Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, ngành y tế cũng đã có những bước chuyển biến lớn Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phương tiện khám chữa bệnh ngày càng hiện đại và đắt tiền Đặc biệt, ngày nay y học đã phát triển mạnh mẽ, nhiều loại thuốc đặc trị ra đời, nên việc chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh ngày càng đắt đỏ Tình trạng này làm cho một bộ phận lớn dân cư không có khả năng chi trả khi ốm đau, bệnh tật, buộc phải có sự hỗ trợ của BHYT

Mặt khác khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dịch vụ khám, chữa bệnh thường đắt đỏ, có thể nói là cao nhất trong tất cả các dịch vụ xã hội Khi không may bị ốm đau bệnh tật bất ngờ, nhiều người dân không đủ khả năng tài chính để bảo vệ sức khỏe của mình cũng như gia đình Điều này dẫn đến sự cần thiết phải có một giải pháp để giải quyết vấn đề trên và BHYT ra đời trên cơ sở đó

Trang 20

Ở nước ta đã có một thời gian dài, Nhà nước dùng tiền từ ngân sách

để lo việc chữa bệnh cho nhân dân Đến nay khả năng chi trả đó rất hạn chế

vì nhu cầu chữa bệnh ngày càng tăng, chi phí y tế ngày càng đắt, trong khi

đó cơ sở vật chất ngành y tế ngày càng giảm sút, cần phải sửa chữa cũng như càng có thêm các phương tiện để điều trị hữu hiệu

Việc thu một phần viện phí trong những năm qua không những không đủ chi phí cho ngành y tế, vì mức thu được là quá ít so với thực chi khám chữa bệnh, mà còn tạo ra sự bất công mới, gây khó khăn cho người nghèo Để khắc phục từng bước những điều chưa tốt trong việc thu viện phí cần phải sớm tổ chức thực hiện BHYT

Từ những vấn đề trên, BHYT ra đời là tối cần thiết vì nó đáp ứng

được nguyện vọng của địa đa số người dân trong xã hội

1.1.2 Khái niệm, bản chất BHYT

Ở các nước công nghiệp phát triển “BHYT là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT”[76.tr42]

Ở nước ta, BHYT tự nguyện do Nhà nước thực hiện không vì mục đích

lợi nhuận Người dân tự nguyện tham gia để được chăm sóc sức khỏe khi đau

ốm, bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế

Theo quy định của pháp luật nước ta, BHYT là một chính sách xã hội

do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi ốm đau

* Bản chất của BHYT

BHYT có bản chất xã hội và bản chất kinh tế, là loại hình bảo hiểm vì mục tiêu An sinh xã hội, do đó bản chất xã hội là đặc trưng cơ bản của BHYT Bản chất xã hội của BHYT được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Trang 21

Thứ nhất, BHYT là một bộ phận quan trọng trong chính sách của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo quyền được bảo vệ, chăm sóc y tế cho mọi thành viên của xã hội Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe không phải thuần túy chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng Bởi lẽ, nguy cơ về bệnh tật có thể đến với bất kể ai, không phân biệt quốc gia, dân tộc và hơn nữa không ai có thể một mình đơn phương chống lại bệnh tật Lẽ đương nhiên việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trước tiên thuộc về mỗi cá nhân nhưng vẫn cần sự trợ giúp mang tính xã hội, có tính

tổ chức cao, đó là sự trợ giúp mang tính Nhà nước Ở đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là người tổ chức, quản lý và bảo trợ

Thứ hai, Thực hiện BHYT nhằm liên kết, chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội Bên cạnh sự trợ giúp mang tính Nhà nước, tính xã hội của BHYT còn thể hiện ở sự chia sẻ, liên kết của chính các thành viên trong xã hội thông qua đóng góp dựa trên thu nhập Các thành viên trong xã hội đóng góp một phần thu nhập vào quỹ chung để chăm sóc y tế cho chính mình và các thành viên khác Bệnh tật và những rủi ro về sức khỏe không phải khi nào cũng xuất hiện cùng một lúc với tất cả mọi người, chúng cũng xuất hiện giống nhau ở mỗi người Thực tế cho thấy có người ốm lúc này, người ốm lúc khác, có người bệnh nặng, có người bệnh nhẹ, có người hay ốm, người ít ốm và bệnh tật thường đến bất ngờ không báo trước Nếu cứ

để ai có bệnh người đó tự chống đỡ sẽ gây kho khăn cho chính họ vì không đủ tiền để trang trải Thực tế này đòi hỏi cần một sự liên kết mang tính cộng đồng rộng rãi để chia sẽ rủi ro bệnh tật Một quỹ chung cho chăm sóc sức khỏe sẽ điều tiết để nhiều người chưa hoặc không ốm chăm sóc cho người

ốm, người ốm nhẹ giúp người ốm nặng

BHYT là một nội dung của chính sách xã hội, hoạt động không vì lợi nhuận nhưng lại mang bản chất kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế - y tế Bản chất kinh tế của BHYT thể hiện ở sự điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa

Trang 22

các thành viên tham gia BHYT Có hai góc độ thể hiện chính đó là sự phân phối trực tiếp và sự phân phối gián tiếp Phân phối trực tiếp thể hiện ở sự chuyển phần thu nhập của người tạm thời khỏe sang người đang ốm, của người bệnh nhẹ sang người bệnh nặng, của người trẻ khỏe sang người đang

ốm, của người bệnh nhẹ sang người bệnh nặng, của người trẻ khỏe sang người già yếu, thông qua sự điều hành luân chuyển của chính phần thu nhập đóng trực tiếp cho quỹ BHYT Phân phối gián tiếp thể hiện ở sự hỗ trợ giữa người giàu và người nghèo, người thu nhập cao và thu nhập thấp

1.1.3 Về khái niệm, bản chất của BHYT tự nguyện

Khái niệm: Bảo hiểm y tế tự nguyện được xác định là cơ sở để thực hiện BHYT toàn dân là một hình thức BHYT áp dụng cho người có thu nhập thấp không đủ điều kiện tham gia BHYT bắt buộc, BHYT tư nhân, do người dân tự nguyện tham gia.[Giáo trình Bảo hiểm,tr80]

Bản chất của hoạt động của BHYT tự nguyện do chính cộng đồng người tham gia đảm nhiệm với nguyên tắc tài chính là phi lợi nhuận Do vậy, mức đóng BHYT tự nguyện không hoàn toàn phục thuộc vào thu nhập của người tham gia Đặc điểm nổi bật của BHYT tự nguyện chi phối quá trình tổ chức thực hiện không chỉ có riêng ở Việt Nam mà còn có ở nhiều quốc gia có trình

độ phát triển cao trên thế giới và khu vực, chính từ hình thức tham gia là tự nguyện nên số lượng người tham gia nhỏ, không ổn định, dễ bị lựa chọn ngược bởi chỉ có một số ít người có nguy cơ ốm đau bệnh tật cao, người già mới tham gia Việc huy động được số lượng đông đảo người tham gia, nhất là những người đang khỏe mạnh, tuổi trẻ là cực kỳ khó khăn Bên cạnh đó còn

có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động, mà trước hết là nhận thức của con người, là điều kiện kinh tế của từng cá nhân và của cả cộng đồng, là thói quen, nếp sống và nhiều nguyên nhân khác tùy theo đặc điểm của mỗi nước làm cho việc vận động người dân tham gia luôn là thách thức lớn với mọi cơ quan thực hiện BHYT tự nguyện

Trang 23

Không hoàn toàn giống như BHYT bắt buộc theo luật định, BHYT tự nguyện được tiến hành hướng tới việc đảm bảo quyền lợi cho người tham gia một cách mềm dẻo và đồng thuận trong cộng đồng Chính từ tiêu chí này mà hình thức BHYT tự nguyện rất phong phú và đa dạng ở mỗi quốc gia, không thể áp đặt hoặc sao chép nguyên bản mô hình ở nước này cho nước khác và ngay trong một nước cũng thường không có sự giống nhau về

mô hình triển khai BHYT tự nguyện khi thực hiện ở những vùng mà có sự khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội hoặc phong tục tập quán

Mặc dù có nhiều hạn chế và khó khăn khi thực hiện các mô hình BHYT tự nguyện và không thể coi BHYT tự nguyện là hình thức chủ đạo

để có được BHYT toàn dân ở mỗi quốc gia nhưng các nước đã thực hiện

mô hình BHYT tự nguyện nhiều năm nay đều khẳng định: "BHYT tự nguyện là bước quá độ, là bước tập dượt cần thiết để tiến tới BHYT toàn dân" Trong giai đoạn đầu khi triển khai BHYT thì đối tượng bắt buộc

tham gia có phạm vi rất hẹp chỉ bao gồm những người có thu nhập ổn định

do đó mà phạm vi những đối tượng không đủ điều kiện tham gia BHYT là rất đông, phần lớn trong xã hội, BHYT tự nguyện sẽ đáp ứng được nhu cầu tham gia của những người này từ đó góp phần nâng cao công tác và bảo vệ sức khỏe cho mọi người dân trong xã hội Do không có tính chất bắt buộc nên BHYT tự nguyện thực hiện được là thành công phụ thuộc rất lớn vào đường lối chính sách và quan điểm của Đảng và Nhà nước trong phát triển

sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân Mặt khác tuỳ vào điều kiện kinh

tế xã hội mà mỗi nước chọn cho mình một cách riêng để tổ chức thực hiện bởi để thực hiện được thành công không phải là dễ đó là cả một quỏ trình Quá trình đó là quá trình đưa khái niệm BHYT tự nguyện vào trong nhận thức của mọi người dân trong xã hội, khi họ hiểu rằng tham gia BHYT tự nguyện họ và gia đình của họ sẽ được an toàn, được bảo vệ trước những rủi

ro ốm đau bệnh tật thì họ sẽ tự giác tham gia

Trang 24

Nếu mức đóng của BHYT bắt buộc được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nào đó so với thu nhập tức thu nhập cao thì mức đóng cao, thu nhập thấp thì mức đóng thấp thì mức đóng của loại hình BHYT tự nguyện thường rất thấp mà các dịch vụ y tế thường được hưởng là như nhau khi phát sinh nhu cầu khám, chữa bệnh Đây cũng là cách để thu hút số lượng người tham gia BHYT tự nguyện Tuy nhiên, trong BHYT bắt buộc số lượng người tham gia thường ổn định và tăng qua các năm còn trong BHYT tự nguyện thì lại không có điều đó, các mô hình BHYT tự nguyện được thực hiện thường là thiếu bền vững một phần do trong thời gian tham gia họ không phát sinh nhu cầu khám, chữa bệnh từ đó không muốn tham gia tiếp khi hết hạn hợp đồng hoặc do Quỹ BHYT tự nguyện không đủ chi trả cho nhu cầu khám, chữa bệnh của số ít người tham gia[76, tr32]

BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng luôn luôn cần sự can thiệp và giúp đỡ của Nhà nước, biểu hiện cụ thể: Nhà nước xây dựng chính sách, xây dựng Luật BHYT, thiết kế chương trình BHYT tự nguyện chung của quốc gia thông qua hàng loạt chính sách quy định về điều kiện triển khai, đối tượng, mức đóng và ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn các địa phương thực hiện; Nhà nước thực hiện việc quản lý giám sát hoạt động của cả hệ thống làm BHYT tự nguyện; Nhà nước phân cấp việc đào tạo, tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ làm BHYT tự nguyện; cuối cùng bằng nguồn lực ngân sách to lớn, Nhà nước thực hiện bao cấp một phần mức phí, bao cấp dịch vụ y tế có chi phí lớn, bổ sung và hỗ trợ chi phí hoạt động điều hành Quỹ BHYT tự nguyện

1.2 Vai trò của thông tin báo chí trong sự phát triển BHYT, BHYT

tự nguyện

1.2.1 Đặc trưng thế mạnh của báo in trong hoạt động thông tin, tuyên truyền BHYT tự nguyện

Thế mạnh của báo in

Trang 25

Báo in là một trong những loại hình của báo chí, bên cạnh phát thanh, truyền hình và báo điện tử Mặc dù là loại hình lâu đời nhất của báo chí và chịu sự cạnh tranh khốc liệt của một số loại hình báo chí khác trong thời đại

kỹ thuật số, nhưng báo in vẫn khẳng định được vai trò, vị trí và tồn tại song song với các loại hình báo chí khác, bởi những đặc trưng, thế mạnh riêng của nó

Thứ nhất, xét ở loại hình thì báo in được xem là loại hình có truyền

thống lâu đời nhất Theo PGS TS Đinh Văn Hường, "Báo in là loại hình báo chí trình bày tin, bài, hình ảnh trên giấy, chuyển tải thông tin mang tính thời

sự bằng ấn phẩm định kỳ và được phát hành rộng rãi trong xã hội"

Định kỳ của báo in có nhiều thể loại khác nhau như: hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng Định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định của sản phẩm báo, nói cách khác, nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sẩn phẩm Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung thông tin của tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc, ngay trên cùng một trang báo, thông qua việc trình bày

tổ chức trang báo bao gồm các phần: tên chuyên mục, tiêu đề, tít, sapo hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ, tranh ảnh… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sapo hấp dẫn hay cũng có thể

do tranh ảnh, biểu đồ minh họa được trình bày ấn tượng Đây là một trong những lợi thế nhất định của báo in

Công chúng có thể cùng một lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau

đó có thể tìm những thông tin mình quan tâm Do phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc trưng như công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác, giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, vì vậy, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc đến việc chủ động về tốc độ đọc, cách thức

Trang 26

đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể… Khi đọc cách tờ báo in người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà khi đọc lần đầu họ chưa hiểu cặn kẽ Đặc trưng này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung sâu sắc, phức tạp

Sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não Nhờ đó, khả năng ghi nhớ thông tin tăng, giúp độc giả có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện Đồng thời việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói quen của nhiều người đọc Người đọc có thể lưu trữ những bài báo, bản tin theo chuyên đề, theo mục đích của người đọc Dễ dàng chia sẻ cùng những người khác Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài

Bên cạnh đó, báo in còn có đặc tính là có thể cung cấp cho bạn đọc những thông tin chuyên sâu, bình luận chi tiết và có hệ thống về một vấn đề một sự kiện nào đó Giúp người đọc nắm rõ thông tin hơn và có thời gian nghiên cứu hơn các loại hình báo chí khác Có thể nói, báo in có khả năng phân tích, bình luận, lý giải sâu rộng đầy đủ các vấn đề, sự kiện Đây là một thế mạnh có thể nói là đặc trưng nhất của báo in so với các loại hình báo chí khác Chính lợi thế này mà nó đã giúp báo in đứng vững và cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ Đối với báo in, khi đọc tác phẩm, với sự phân tích, bình luận của nhà báo cùng với những dữ liệu xác thực sẽ giúp công chúng hiểu rõ được vấn

đề, từ đó, định hướng cho độc giả những phán đoán, suy nghĩ đúng đắn về vấn đề, sự kiện Đó cũng chính là giúp báo in thực hiện được chức năng định hướng tư tưởng cho độc giả ngoài chức năng thông tin, giải trí và khai sáng Mặc khác, lượng thông tin của báo in, tùy từng tính chất của sự kiện, vấn đề

mà bài có thể dài một hoặc hai trang giấy Trong khi đó, phát thanh hay

Trang 27

truyền hình lượng thông tin chỉ có khoảng mấy trăm chữ nên những thông tin nổi bật chứ không nêu cụ thể như báo in Với 3 báo in được lựa chọn khảo sát thì báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Lao động là ba tờ báo tiêu biểu của nền báo chí nước nhà Đối tượng bạn đọc của những tờ báo này rất phong phù, từ các nhà quản lý, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, và cả những người dân quan tâm tới các vấn đề xã hội

Một trong những lợi thế khác của báo in là khổ báo được chú ý hoàn chỉnh về khuôn khổ và hình thức phù hợp với thị hiếu của người đọc, giúp họ

dễ dàng lật, giở tìm kiếm thông tin mà không gặp trở ngại Báo in là lựa chọn hàng đầu, ngay cả với những người ưa dùng các thiết bị công nghệ cao khi họ cần đọc để thư giãn sau nhiều giờ làm việc trên máy tính Bên cạnh đó, hiện nay nhiều tờ báo in có chú trọng đổi mới cách thức trình bày, sinh động, đẹp mắt Các bài báo không chỉ có phần chữ viết mà nội dung còn được thể hiện qua nhiều hình thức khác như: biểu đồ, lược đồ, tranh, ảnh, box thông tin sao cho phù hợp cách đọc, cách tiếp nhận của nhiều đối tượng công chúng

1.2.2 Vai trò của báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền về BHYT tự nguyện

Báo chí thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách, của Đảng và Nhà nước về vấn đề BHYT tự nguyện

Với chức năng giáo dục chính trị - tư tưởng, cổ động và tổ chức tập thể, báo chí giữ vai trò chủ lực trong hoạt động truyền thông đại chúng, kịp thời chuyển tải chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về BHYT tự nguyện đến với mọi tầng lớp cán bộ và nhân dân, định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận trong thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, góp phần xây dựng và quảng bá thương hiệu, tôn vinh giá trị nhân văn, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Báo chí đăng tải, phổ biến, giải thích đường lối, chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành về

Trang 28

BHYT tự nguyện cho các thành viên xã hội biết, hiểu, nhận thức và hành động trong thực tiễn

Vai trò của Báo chí được thể hiện trên nhiều bình diện Trước hết, báo chí cung cấp cho công chúng những thông tin phong phú về chính sách BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng Thông qua đó, báo chí giúp cho công chúng hiểu được đường lối chính sách an sinh xã hội của đất nước Báo chí viết về vấn đề BHYT tự nguyện đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau như: cách nhìn của người dân, giải thích của nhà quản lý, ý kiến của nhà khoa học và cả quan điểm riêng của nhà báo Với quan điểm tiếp cận như vậy,

đã thể hiện tính dân chủ, công khai, công bằng trong thông tin về BHYT tự nguyện và thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong từng thời kỳ lịch sử, vấn đề chính sách thường nảy sinh nhiều bật cập vì vậy đòi hỏi phải có cách nhìn nhận và sự định hướng đúng đắn Khi vấn đề nào đó đang có nhiều quan điểm và được nhà báo đưa

ra bàn luận trên báo chí công chúng sẽ hiểu được vấn đề một cách trọn vẹn, còn nhà quản lý sẽ có cơ sở để đưa ra các quyết sách phù hợp ý Đảng, lòng dân Không chỉ phản ánh thông tin, báo chí còn chuyển tải nhiều ý kiến tham vấn, có những ý kiến, phân tích mang tính phản biện xác đáng về những lỗ hổng của cơ chế, chính sách, phần nào giúp cho các cơ quan quản lý, điều hành Hơn thế nữa, báo chí giờ đây không chỉ phản ánh đơn thuần đời sống xã hội, mà còn chủ động tham gia tìm tòi, gợi mở, kết nối thông tin và thúc đẩy hành động, nhầm xây dựng một xã hội tốt đẹp vì An sinh xã hội

Cũng chính vì thế, vấn đề BHYT tự nguyện không chỉ thu hút sự quan tâm của nhân dân, mà còn dành được sự quan tâm đặc biệt của báo giới Bám sát thực tiễn, hệ thống báo chí đã tích cực thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; chương trình hành động của các cấp, các ngành; tình hình triển khai chính sách BHYT tự nguyện đến

Trang 29

với người dân, từ đó xây dựng những diễn đàn trao đổi, thảo luận, phản biện chính sách, tạo được sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị về vấn đề mang tính quốc gia này Thông qua báo chí, vấn đề BHYT tự nguyện được nhìn nhận, mổ xẻ ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó đề xuất của cơ quan nghiên cứu, nhà quản lý, đến phản biện của các chuyên gia, những chia sẻ từ cộng đồng doanh nghiệp và dư luận xã hội Nhiều vấn đề đã và đang được làm rõ hơn, sâu hơn và cụ thể hơn Và điều rất quan trọng là tập hợp, phản ánh kịp thời ý kiến đóng góp của nhiều đối tượng trong xã hội đối với từng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Không chỉ truyền bá các quan điểm lý luận trong các nghị quyết Đảng, mà báo chí cũng đã đi sâu tham gia tổng kết thực tiễn, đóng góp tích cực trong việc hoàn thiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề BHYT tự nguyện

Có thể khẳng định rằng, nhiệm vụ tuyên truyền các định hướng, quan điểm, đường lối của Đảng về chính sách BHYT tự nguyện là rất quan trọng, bởi việc phổ cập được các định hướng, quan điểm, đường lối của Đảng về chính sách BHYT tự nguyện đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân sẽ góp phần tạo sự đồng thuận, nhất trí chung trong chính sách An sinh xã hội của đất nước Thực tế cho thấy Đảng đã ra nhiều Nghị quyết về phát triển kinh tế

xã hội, có những nghị quyết đi vào cuộc sống rất nhanh nhưng củng có Nghị quyết vào cuộc sống còn chậm do nhận thức không theo kịp tình hình phát triển Cho nên tạo sự nhất trí, đồng thuận cao thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng trong lĩnh vực Bảo hiểm y tế là mấu chốt của công tác tuyên truyền trên báo chí hiện nay

Và để tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong xã hội thì điều quan trọng là phải chuyển tải nội dung tuyên truyền thông tin về vấn đề BHYT tự nguyện của các cơ quan chuyên môn thành dư luận xã hội rộng rãi Để làm được điều này đòi hỏi cần phải đảm bảo cơ cấu nội dung và chất lượng thông tin, mở

Trang 30

rộng thông tin, tạo ra thông tin hai chiều Với phương thức tuyên truyền linh hoạt, khoa học, báo chí đã phản ánh trung thực, kịp thời, tập hợp được tiếng nói tâm huyết của các chuyên gia, các nhà quản lý chính sách và cả người dân tham gia góp ý, phản biện, góp phần đưa các chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

Báo chí thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội về chính sách BHYT tự nguyện

Có thể nói, tuyên truyền về các chính sách của đất nước là một nhiệm

vụ quan trọng của báo chí Nhiệm vụ ấy bao gồm việc phổ biến các chủ trương, chính sách, BHYT sâu rộng trong công chúng một cách kịp thời, chính xác, đồng thời thông tin phản hồi lại việc thực hiện các chủ trương chính sách BHYT, những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn và điều quan trọng hơn nữa là đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống

an sinh xã hội của đất nước

Với khả năng thông tin nhanh chóng, khách quan, báo chí là kênh kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật BHYT Kết quả kiểm tra, giám sát của báo chí thông qua điều tra, khảo sát, thu thập tư liệu, số liệu, nắm bắt phản ánh tình hình thực tiễn là nguồn thông tin quan trọng giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính sách về BHYT theo chức năng, nhiệm vụ

Với tính chất là những phương tiện truyền thông đại chúng hoạt động trên quy mô toàn xã hội, báo chí đã tham gia vào việc tìm tòi, phát hiện những bất hợp lý trong quá trình triển khai thực hiện chính sách Mặt khác, đảm bảo thông tin cho nhân dân về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội và thế giới xung quanh với một phạm vi rộng lớn, tham gia vào việc hình thành dự

Trang 31

luận xã hội đúng đắn, xây dựng thế giới quan khoa học, thái độ sống tích cực

và nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với tổ quốc

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, báo chí là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa có nhiệm vụ làm cho nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân; cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố mới đi liền với việc phê phán các hành vi tiêu cực; bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp của con người Việt Nam

Thông tin tuyên tuyền về vấn đề BHYT trong tình hình mới

BHXH và BHYT là những chủ trương, chính sách xã hội lớn của Đảng

và Nhà nước ta Cụ thể hóa quan điểm này của Đảng, ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc, cũng như sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT Nghị quyết còn xác định rõ tầm quan trọng, vai trò trụ cột của chính sách BHXH, BHYT trong hệ thống An sinh xã hội và đặc biệt đã xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 trên phạm vi cả nước có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BH thất nghiệp và trên 80% dân số tham gia BHYT, theo đó thực hiện BHXH cho mọi NLĐ và tiến tới BHYT toàn dân Để đạt được những mục tiêu này, thì việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Công tác tuyên truyền, không chỉ triển khai để các cấp, các ngành, mỗi tập thể và cá nhân nắm vững được chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về BHXH, BHYT, mà còn nhận rõ được trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi khi tham gia BHXH, BHYT

Trang 32

Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện ngày một tăng, Việt Nam cũng đang thực hiện nhiều giải pháp mạnh mẽ hướng đến BHYT toàn dân Từ đó cho thấy BHYT tự nguyện sẽ ngày càng gắn bó thiết thực với đời sống người dân hơn nữa Nhu cầu thông tin về BHYT chắc chắn cũng vì thế mà ngày một tăng; và báo chí phải là lực lượng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng

về lĩnh vực này

Không phải ngẫu nghiên mà Nghị quyết số 21 của Bộ Chính trị và Đề án thực hiện BHYT toàn dân của Chính phủ đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương chính sách, pháp luật BHYT đến với nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân Báo chí hiện nay cũng đã và đang phần nào cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu của công chúng về BHYT Thuật ngữ BHYT xuất hiện ngày một nhiều hơn trên mặt báo Cùng với đó, các vấn đề liên quan đến BHYT cũng được khai thác, phản ánh rộng và sâu hơn, liên quan đến việc tổ chức thực hiện cụ thể hơn như: quyền lợi hưởng BHYT của người dân khi khám, chữa bệnh ở các tuyến bệnh viện, vấn đề đấu thầu thuốc BHYT, chi phí khám, chữa bệnh BHYT hàng năm, thái độ, phục vụ bệnh nhân BHYT, hay vấn đề lạm dụng trục lợi Quỹ BHYT Nóng nhất trong thời gian gần đây được khai thác, phản ánh nhiều nhất có lẽ là vấn đề trục lợi, lạm dụng Quỹ BHYT, liên quan đến các vụ việc cụ thể xảy ra tại Bệnh viện đa khoa Hoài Đức, hai phòng khám tư nhân ở Hải Phòng… Chưa có một nghiên cứu, hay số liệu thống kê

cụ thể về nội dung của các tin bài, phản ánh về BHYT Tuy nhiên có thể khẳng định số lượng các tin, bài về BHYT ngày một tăng Tuỳ từng cơ quan báo chí, ở từng thời điểm khác nhau, các nội dung trên có thể được khai thác

ở các mức độ, số lượng nhất định

Bên cạnh sự chủ động cung cấp thông tin của báo chí, các cơ quan quản

lý, tổ chức thực hiện BHYT như Bộ Y tế, BHXH Việt Nam, lãnh đạo các

Trang 33

bệnh viện… cũng rất chủ động cung cấp thông tin đến với công chúng Các ý kiến phát biểu, nêu rõ đường lối, chủ trương, định hướng cụ thể hơn Công tác tuyên truyền cũng được chủ động thực hiện với nhiều nỗ lực cố gắng, thể hiện qua sự đổi mới các hình thức thông tin, tác động đến nhân dân

Nở rộ thông tin về BHYT nhất có lẽ là thời điểm những tháng cuối năm

2013 Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII của Quốc hội (tháng 10,11/2013) đã đưa ra nhiều quyết sách quan trọng liên quan đến BHYT Cụ thể, tại kỳ họp này, các đại biểu Quốc hội đã lắng nghe Báo cáo giám sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật BHYT giai đoạn 2009-2012; cho ý kiến thông qua Nghị quyết của Quốc hội về BHYT Cũng tại kỳ họp này, các đại biểu Quốc hội cho ý kiến đánh giá dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT Đây là những nội dung thực sự có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến quản lý, tổ chức thực hiện BHYT, quyền lợi BHYT của người dân Cũng trong khoảng thời gian này, lượng thông tin về BHYT trên các mặt báo xuất hiện nhiều hơn; chủ yếu là khai thác phản ánh các nội dung liên quan đến Báo cáo giám sát của Quốc hội, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT; quan điểm ý kiến của các đại biểu quốc hội, các chuyên gia, lãnh đạo các cơ quan ban ngành có liên quan…

Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XIII diễn ra mới đây (tháng 5,6/2014), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT chính thức được thông qua Thông tin về BHYT tiếp tục được nhiều tờ báo quan tâm; tin bài về BHYT xuất hiện nhiều hơn, đem đến cho công chúng nhiều thông tin về quá trình thảo luận của các đại biểu Quốc hội

Có thể khẳng định thông tin về BHYT tự nguyện ngày càng được các cơ quan báo chí quan tâm, khai thác, cập nhật chuyển tải nhiều đến công chúng Tuy nhiên có thể thấy mức độ thường xuyên cập nhật thông tin của báo chí về BHYT còn khá ít, nhất là khi so sánh với các lĩnh vực khác; tin, bài về BHYT

Trang 34

tự nguyện xuất hiện trên báo chí, nhất là trên các tờ nhật báo, truyền hình, phát thanh chưa thường xuyên liên tục Bên cạnh đó, thông tin mang tính chất

tư vấn chỉ dẫn các thủ tục hành chính liên quan đến BHYT – những thông tin liên quan thiết thực đến quyền lợi BHYT của người dân xuất hiện còn khá hạn chế cả về nội dung lẫn hình thức

Trang 35

Tiểu kết Chương 1

Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội, là diễn đàn của nhân dân, Báo chí phải đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, người lao động, báo chí phải theo định hướng của Đảng, pháp luật của nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ sâu rộng; luôn gắn bó với thực tiễn của đất nước; tiếp tục phát triển sự nghiệp báo chí đi đôi với quản lý tốt, không ngừng nâng cao chất lượng và từng bước hiện đại

BHYT tự nguyện là một chính sách An sinh xã hội có ý nghĩa nhân đạo, nhân văn và rất ưu việt của Đảng và Nhà nước ta, hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân Là một chính sách có ảnh hưởng lớn đến xã hội góp phần thực hiện chính sách An sinh xã hội của đất nước hiện nay

Mối quan hệ giữa báo chí và BHYT tự nguyện được nhiều công trình nghiên cứu, cho thấy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông góp phần rất quan trọng giúp các cơ quan quản lý thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện là một nhiệm vụ quan trọng của xã hội, chỉ có tuyên truyền thì người dân mới hiểu và nhận thức được tầm quan trọng của chính sách BHYT và mới tham gia góp phần hoàn thiện chính sách An sinh xã hội của đất nước

Trong quá trình thực hiện công tác tuyên truyền đã và đang chứng minh hiệu quả truyền thông qua những chức năng, đặc trưng riêng Không chỉ ở Việt Nam và ở hầu hết các quốc gia khác đều đặc biệt coi trọng phương tiện truyền thông để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền pháp luật BHYT

Trong chương 1, tác giả đã đưa ra được quan niệm của Đảng và Nhà nước về về vấn đề BHYT tự nguyện cũng như vai trò của báo chí đối với chính sách BHYT tự nguyện và thế mạnh của báo in trong việc thông tin tuyên truyền về vấn đề BHYT tự nguyện Đây là cơ sở lý luận quan trọng của vấn đề BHYT tự nguyện Để nâng cao hiệu quả truyền thông của báo chí về

Trang 36

BHYT tự nguyện không chỉ cần sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan báo chí mà cần phải có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cơ quan tổ chức thực hiện BHYT

Dù vậy, báo chí cần phát huy vai trò, sự chủ động tích cực hơn, trên cơ sở hướng đến mục tiêu BHYT toàn dân, bám sát thực tiễn phát triển BHYT Quan trọng hơn cần hướng đến nhu cầu thông tin của công chúng về BHYT

tự nguyện, từ đó có chiến lược thông tin hợp lý, có phương thức chuyển tải, với nội dung, hình thức tác phẩm có chất lượng, độc đáo hấp dẫn và bảo đảm tính khách quan Từ đó, báo chí mới ngày càng nâng cao hiệu quả truyền thông về BHYT tự nguyện nói riêng, về BHYT nói chung, góp phần hướng đến mục tiêu BHYT toàn dân

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ

BHYT TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO IN

2.1 Giới thiệu về 3 tờ báo được lựa chọn khảo sát

2.1.1 Báo Nhân dân

Báo Nhân dân, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước Báo Nhân Dân là ngọn cờ chính trị và tư tưởng của Đảng trên mặt trận báo chí, là cầu nối hàng ngày của Đảng, Nhà nước với đông đảo nhân dân

Báo Nhân dân phát hành số đầu tiên vào ngày 11/3/1951 tại Chiến khu Việt Bắc Giai đoạn này, sau 6 năm bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, chúng ta đã giành được những thắng lợi quân sự quan trọng như chiến thắng Thu đông (1947), Biên giới (1950) và cuộc kháng chiến có những thời cơ mới

để đạt được những thắng lợi cuối cùng Trước yêu cầu tuyên truyền phục vụ cuộc đấu tranh cách mạng tới quần chúng nhân dân trong giai đoạn mới Báo Nhân dân ra đời được đánh giá là đã kế tục truyền thống báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 21/06/1925 Đây là sự tiếp nối và kế tục của các tờ báo như: Tranh đấu, Dân chúng, Cờ Giải phóng, Sự thật Hiện nay, Báo Nhân dân hằng ngày có lượng phát hành khoảng 180 nghìn bản, Báo Nhân dân cuối tuần khoảng 110 nghìn số mỗi kỳ, báo Nhân dân hằng tháng khoảng 130 nghìn số mỗi kỳ Báo in tại bảy điểm in (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Định, Đắc Lắc) phát hành trên phạm vi toàn quốc và một số lượng nhất định được gửi ra nước ngoài Đã có nhiều người giữ các vị trí quan trọng của Đảng và Nhà nước từng làm Chủ nhiệm Báo Nhân dân như các ông Trường Chinh, Tố Hữu, Tổng Biên tập báo Nhân dân qua từng thời kỳ là Trần Quang Huy (1951-1953), Vũ Tuấn (1953-1954), Hoàng Tùng (1951-1954-1982), Hồng Hà (1982-1987), Hà Đăng

Trang 38

(1987-1992), Hữu Thọ (1992-1996), Hồng Vinh (1996-2001), Đinh Thế Huynh (từ 2001)

Là cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng, là tiếng nói của quần chúng nhân dân trong cả nước, Báo Nhân dân giữ vai trò quan trọng trong đời sống báo chí nước nhà, là công cụ tuyên truyền hiệu quả của Đảng trước những yêu cầu lịch sử của từng giai đoạn cách mạng, góp phần thực hiện tốt công tác tư tưởng của Đảng trong từng thời kỳ

Hiện nay, báo Nhân Dân có 6 ấn phẩm gồm: Nhân Dân hằng ngày, Nhân Dân cuối tuần, Nhân Dân hằng tháng, Nhân Dân điện tử tiếng Việt, Nhân Dân điện tử tiếng Anh, báo Thời nay Báo Nhân Dân hằng ngày có số phát hành khoảng 220.000 nghìn bản/ngày Báo Nhân Dân cuối tuần 16 trang ra hằng tuần khoảng 110.000 bản/kỳ Báo Nhân Dân cuối tuần in tại Hà Nội, Đà Nẵng chuyển bằng máy bay, xe lửa, ô-tô đến các tỉnh, thành phố trong cả nước

Ngày 21/6/1998, báo Nhân Dân điện tử chính thức phát hành trên mạng Internet, trở thành nhật báo chính thức đầu tiên của Việt Nam lên mạng ở địa chỉ www.nhandan.org.vn và hiện phát hành đồng thời cả ở hai địa chỉ www.nhandan.org.vn và www.nhandan.com.vn Báo Nhân Dân điện tử tiếng Việt và tiếng Anh hiện mỗi ngày có từ 800.000 đến 1.000.000 lượt người truy cập Báo Thời nay ra vào thứ hai và thứ năm hằng tuần, mỗi số có 16 trang Báo Thời nay in ở 4 nhà in: Nhà in báo Nhân Dân tại Hà Nội, Nhà in báo Nhân Dân tại Đà Nẵng, Nhà in báo Nhân Dân tại TP Hồ Chí Minh và Công ty in Bình Định [Báo Nhân Dân điện tử, 31/03/2012]

Từ tháng 8/2012, báo Nhân Dân điện tử tiếng Trung Quốc ra đời, hòa mạng internet toàn cầu Sự kiện mang ý nghĩa đặc biệt lần này diễn ra đúng dịp kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử hình thành và phát triển của báo Nhân Dân

Trang 39

Các sản phẩm của báo Nhân Dân đã hợp thành "binh chủng thông tin" hùng mạnh của báo Đảng, góp phần tích cực và có hiệu quả thể hiện tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam

2.1.2 Báo Tuổi trẻ

Báo Tuổi trẻ là cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên cộng sản thành phố Hồ Chí Minh, chính thức ra đời vào ngày 2/9/1975 So với nhiều tờ báo khác, báo Tuổi trẻ đã khẳng định vị trí hàng đầu của mình trong làng báo chí Việt Nam Hiện nay, báo phát hành trên toàn quốc với số lượng bình quân

350 bản /ngày Báo Tuổi trẻ xếp thứ 6/100 tờ báo lớn tại Châu Á, thứ 34/200 trên thế giới, khởi nguồn của Báo Tuổi trẻ bắt đầu từ tờ truyền đơn và bản tin của sinh viên, học sinh trong phong trào chống mỹ Số báo đầu tiên phát hành với số lượng khoảng 500 nghìn bản/tuần, đến tháng 7/1981 tuổi trẻ phát hành hàng kỳ 2 kỳ/tuần

Từ 2/4/2006 Tuổi trẻ chính thức trở thành một tờ nhật báo khi được phép ra thêm một kỳ vào chủ nhật Đặc biệt từ ngày 10.9.2007 báo Tuổi trẻ từ

16 trang tăng lên 20 trang góp phần mở rộng phạm vi thông tin và đa dạng chủng loại nội dung thông tin Cùng lúc đó, Tuần báo Tuổi trẻ chủ nhật đổi tên thành Tuổi trẻ cuối tuần (hiện phát hành 60.000 bản trên kỳ) Ngày 21/6/2010, Tuổi trẻ News được thành lập và ngay sau đó Tuổi trẻ Mobile vào tháng 9/2010 Ngày 1/1/1984, Tuổi trẻ cười ra đời, số lượng phát hành ban đầu khoảng 50.000 nghìn, sau đó nhanh chóng tăng lên 250.000 tờ /kỳ vào cuối năm Báo điện tử Tuổi trẻ online ra mắt chính thức vào ngày 01/122/2003, chưa đầy 02 năm sau đã vươn lên vị trí thứ 3 về số lượng truy cập trong bảng xếp hạng tất cả các website tiếng Việt trên thế giới

Từ 2/4/2006, Tuổi trẻ chính thức trở thành tờ nhật báo khi được phép ra thêm một kỳ vào ngày chủ nhật đặc biệt, từ ngày 10/9/2007, báo tuổi trẻ từ

16 trang tăng lên 20 trang góp phần mở rộng phạm vi thông tin và đa dạng chủng loại thông tin Cùng lúc đó Tuần báo Tuổi trẻ chủ nhật đổi tên thành

Trang 40

Tuổi trẻ cuối tuần (hiện phát hành 60.000 bản/kỳ ngày 21/6/2010 tuổi trẻ News được thành lập và ngay sau đó là Tuổi trẻ Mobile vào tháng 9/2010

Sau gần 40 năm phát triển và trưởng thành đến nay báo tuổi trẻ đã trở thành tờ nhật báo hàng đầu Việt Nam, với số lượng phát hành bình quân cao nhất cả nước Báo có trụ sở chính ở Thành phố Hồ Chí Minh và các văn phòng đại diện ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước Để có sự vượt trội như vậy là nhờ định hướng đúng đắn trong việc thực hiện tự chủ tài chính từ rất sớm của lãnh đạo báo Tuổi trẻ

2.1.3 Báo Lao động

Báo Lao động là cơ quan của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, là tiếng nói của của người lao động thuộc mọi lĩnh vực Trong những năm cuối của thập niên 90, Báo Lao động được coi là một trong những tờ báo có

sự đổi mới mạnh mẽ trong làng báo chí Việt Nam Tờ báo này được biết đến trong giai đoạn này bởi nhiều thông tin, nhiều bài báo dũng cảm lên tiếng phản ánh mặt trái của xã hội Với vai trò là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng văn hoá, dòng chủ lưu về thông tin trên báo Lao Động luôn hướng tới một dư luận xã hội lành mạnh, vì sự ổn định chính trị,

vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hiện nay, báo Lao Động xuất bản 6 kỳ /tuần và báo Lao động cuối tuần (ra từ chiều thứ 5 hàng tuần); với số lượng phát hành trên 80.000 bản /kỳ Báo Lao động điện tử hằng ngày có hàng nửa triệu lượt người truy cập Báo Lao Động được bình chọn là một trong 200 tờ báo hiện đại trong số vài nghìn loại báo hiện có trên toàn cầu, được mời dự Triển lãm Báo chí quốc tế năm 1995

Với quan điểm "Xây là chính, chống là cần" góp phần làm trong sạch

Đảng, trong sạch bộ máy công quyền, nâng cao lòng tin của dân đối với Đảng

và chế độ XHCN, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người lao động và mọi tầng lớp nhân dân, báo Lao Động ngày càng chiếm được cảm tình của bạn đọc

Ngày đăng: 20/08/2015, 11:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thông kê số lƣợng tin, bài đề cập tới vấn đề BHYT tự nguyện - Vấn đề bảo hiểm y tế tự nguyện trên báo in hiện nay
Bảng 1. Thông kê số lƣợng tin, bài đề cập tới vấn đề BHYT tự nguyện (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w