LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan nghiên cứu “Tổ chức và hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Dược Hà Nội” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được cô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ HUẾ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
NGƯỜI HNG DẪN: PG
S TS TRẦ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng
TRẦ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nghiên cứu “Tổ chức và hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Dược Hà Nội” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình./
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các quý Thầy, Cô giảng viên Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội Những người "Thầy" đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt thời gian học tập tại Trường
Tác giả cũng trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội - Những người đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
Tác giả không thể hoàn thành luận văn này nếu không có sự giúp đỡ của các cán bộ thư viện Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội Bằng tất cả lòng biết ơn, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới các anh chị em cán bộ thư viện Mong rằng sẽ gặp lại các anh chị em đồng nghiệp trong những công trình nghiên cứu tiếp theo
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng - Thầy là một trong những giảng viên rất tâm huyết với ngành nghề thông tin - thư viện Với sự tậm tâm hướng dẫn và sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy, tác giả đã hoàn thành luận văn này
Bằng sự cố gắng cao nhất và trong khả năng cho phép, tác giả đã hoàn thành
đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên, do trình độ và thời gian hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, tác giả kính mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …/… / 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Huế
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Giả thuyết nghiên cứu 12
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 13
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 13
9 Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI 14
1.1 Khái niệm về tổ chức và hoạt động thông tin thư viện 14
1.1.1 Tổ chức Thông tin thư viện 14
1.1.2 Hoạt động Thông tin thư viện 17
1.1.3 Mối quan hệ giữa tổ chức và hoạt động 19
1.1.4 Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thư viện đại học 20
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện 24
1.2 Khái quát về trường Đại học Dược Hà Nội 25
1.3 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội 27
1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển 27
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức 29
1.3.3 Cơ sở vật chất 31
1.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 31
Trang 61.5 Vai trò của Thư viện Trường Đại học Dược HN đối với sự nghiệp giáo dục
và đào tạo của Nhà trường 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI 41
2.1 Thực trạng công tác tổ chức của Thư viện Đại học Dược Hà Nội 41
2.1.1 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 41
2.1.2 Cơ sở vật chất- hạ tầng, trang thiết bị 46
2.1.5 Nhận xét về công tác tổ chức của Thư viện Đại học Dược Hà Nội 53
2.2 Thực trạng hoạt động thông tin -thư viện 55
2.2.1 Tạo lập và phát triển nguồn lực thông tin 55
Nguồn lực thông tin 55
2.2.2 Xử lí tài liệu 63
2.2.3 Số hóa tài liệu 68
2.2.4 Tổ chức và bảo quản kho tài liệu 69
2.2.5 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện 73
2.2.6 Đào tạo Người dùng tin 81
2.2.7 Ứng dụng công nghệ thông tin 82
2.2.8 Các hoạt động khác 85
2.3 Nhận xét, đánh giá chung về công tác tổ chức và hiệu quả hoạt động của Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội 88
2.3.1 Ưu điểm 88
2.3.2 Hạn chế 92
2.3.3 Nguyên nhân 94
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI 96
3.1 Giải pháp cho công tác tổ chức Thư viện 96
3.1.1 Kiện toàn cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 96
3.1.2 Tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở vật chất-kĩ thuật 101
3.1.3 Chú trọng đầu tư kinh phí cho hoạt động thư viện 102
Trang 73.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin-thƣ viện 104
3.2.1 Tăng cường nguồn lực thông tin, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nguồn tài liệu 104
3.2.2 Hoàn thiện công tác xử lí tài liệu 106
3.2.3 Chú trọng công tác tổ chức và bảo quản kho tài liệu 107
3.2.4 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin 108
3.2.5 Đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin 110
3.2.6 Tăng cường hoạt động đào tạo, hướng dẫn người dùng tin 112
3.3 Các giải pháp hỗ trợ khác 116
3.3.1 Tăng cường giao lưu, trao đổi, hợp tác với các cơ quan thông tin – thư viện trong và ngoài nước 116
3.3.2 Marketing cho Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội 119
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 129
Trang 8TT-TV Thông tin – Thƣ viện
TT TT-TV Trung tâm Thông tin – Thƣ viện
Danh mục từ viết tắt tiếng Anh
AACR2 Anglo-American Cataloguing Rules 2 nd
Quy tắc biên mục Anh Mỹ xuất bản lần thứ hai BBK Bibliotechno - Bibliograficheskaja klassifikacija
Khung phân loại BBK CD-ROM Compact disc Read Only Memory
Bộ nhớ chỉ đọc dùng cho đĩa compact DDC DeWey Decimal Classification
Khung phân loại thập phân Dewey ISBD International Standard Bibliographic Description
Quy tắc mô tả thƣ mục theo tiêu chuẩn quốc tế MARC 21 Marchine Readable Cataloguing
Khổ mẫu biên mục có thể đọc đƣợc trên máy tính OPAC Online Public access catalog
WHO
World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
Trang 9DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
1 Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường ĐHDHN 25
3 Hình 2.1.2-1 Sơ đồ hiện trạng mặt bằng Thư viện 47
4 Hình 2.1.2-2 Các chức năng của phần mềm ABBY 11 53
7 Hình 2.2.2-2 Giao diện nhận dạng tài liệu của phần mềm
11 Hình 2.2.4-2 Giao diện OPAC trong phần mềm Libol 6.0 78
12 Hình 2.2.4-3 Giao diện tra cứu toàn văn LibolDigital 79
13 Hình 2.2.4-4 Giao diện trang web thư viện 80
15 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Thư viện trong tương lai 103
Bảng
1 Bảng 1.3.4-1 Mức độ sử dụng thư viện của NDT 34
2 Bảng 1.3.4-2 Loại hình tài liệu NDT quan tâm 35
3 Bảng 2.1.1-1 Bảng thể hiện tỷ lệ giới tính cán bộ thư viện 42
4 Bảng 2.1.1-2 Bảng thể hiện tỷ lệ cán bộ theo độ tuổi 42
5 Bảng 2.1.1-3 Bảng thể hiện trình độ chuyên môn của CBTV 43
6 Bảng 2.1.1-4 Bảng thể hiện trình độ ngoại ngữ của cán bộ thư
viện
44
7 Bảng 2.1.1-5 Bảng phân công lao động của thư viện 45
Trang 108 Bảng 2.1.2-1 Bảng hiện trạng thiết bị CNTT 51
9 Bảng 2.2.1-1 Bảng thống kê tài liệu tại tủ sách các bộ môn 57
12 Bảng 2.2.1-4 Bảng thể hiện tài liệu thƣ viện theo ngôn ngữ 60
13 Bảng 2.2.1-5 Bảng thể hiện tài liệu theo nội dung 61
15 Bảng 2.2.4-5 Mức độ sử dụng sản phẩm thông tin thƣ viện 81
16 Bảng 2.2.4-6 Mức độ sử dụng dịch vụ thông tin thƣ viện 83
17 Bảng 2.2.5-1 Thống kê NDT tham gia lớp đào tạo NDT 85
18 Bảng 2.2.5-2 Bảng số liệu thống kê nguyên nhân NDT
không tham gia đào tạo
85
Biểu đồ
1 Biểu đồ 2.1.1-3 Biểu đồ trình độ học vấn của cán bộ 43
2 Biểu đồ 2.2.1 Biểu đồ thể hiện kinh phí bổ sung 64
3 Biểu đồ 2.3-1 Mức độ đáp ứng tài liệu về số lƣợng 96
4 Biểu đồ 2.3-2 Mức độ đáp ứng tài liệu về nội dung 95
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà Nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cả những sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn minh của các quốc gia Xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực, đồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Để đạt được điều đó, giáo dục - đào tạo có vai trò quyết định Giáo dục - đào tạo là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Nhận thức vai trò của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp
hành Trung ương lần thứ 2 ( khóa VIII ) đã khẳng định: " Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương Có giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục." [2]
Khi nói đến vai trò của Giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tế, không thể không kể đến vai trò của giáo dục đại học
Giáo dục đại học hiện đại là một trong những thành tích vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại Nhưng giá trị của giáo dục đại học không chỉ nằm trong các kiến thức chính xác và sâu sắc mà giáo dục đại học đem đến cho thế hệ trẻ, mà còn trong các giá trị đạo đức mà giáo dục đại học có thể giúp thế hệ trẻ đóng góp cho các tiến bộ xã hội khi họ ra trường và trở thành những người chín chắc và trưởng thành thực sự Alexander Griboyedov, một nhà soạn kịch Nga thế kỷ 19
đã từng nói: "Con người càng được giáo dục nhiều thì mức độ hữu dụng của họ đối với đất nước của họ càng tăng."
Trang 12Ở Việt Nam hiện nay, đã hình thành mạng lưới giáo dục đào tạo bậc đại học với đầy đủ các lĩnh vực Trong số những lĩnh vực được quan tâm là lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trường ĐH Dược HN, với sứ mạng lịch sử là nơi tiên phong trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ Dược cho ngành Y tế Việt Nam có trình độ cao ngang tầm khu vực và thế giới Trường là một trong những trung tâm hàng đầu của cả nước về nghiên cứu và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, là đầu mối giao lưu quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học của ngành Dược Góp phần làm nên
sứ mạng lịch sử chung của Trường phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của Thư viện
Thư viện luôn gắn liền với giáo dục và là công cụ đắc lực của giáo dục trong việc truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, giải trí của mọi tầng lớp nhân dân Trong thời đại mới, Thư viện mang một sắc thái mới:
là trung tâm thông tin “ góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”
Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội là môi trường tốt để sinh viên rèn luyện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo trong học tập và nghiên cứu Đây cũng là nơi cán bộ, giảng viên cập nhật, trau dồi kiến thức , qua đó nâng cao chất lượng bài giảng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường Thư viện Trường
có vai trò to lớn trong việc cải tiến nội dung chương trình giảng dạy của Nhà Trường, góp phần quan trọng trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ Dược sĩ ở trình độ đại học và sau đại học của cả nước
Trong những năm gần đây, hoạt động TT-TV của Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội đã có một số đổi mới và đạt được những thành quả quan trọng Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của nhà trường và so với các TT TT-TV y dược trong và ngoài khu vực thì Thư viện nhà trường cần phải có những bước đột phá
hơn nữa, để có thể xứng với thương hiệu riêng “Đại học Dược Hà Nội”
Trang 13Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng đó, Tác giả đã chọn đề tài: “
Tổ chức và hoạt động Thông tin – Thư viện tại Trường Đại học Dược Hà Nội" làm
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Công tác Thư viện Trường đại học được Đảng và Nhà nước quan tâm, trong
Kỷ yếu hội nghị Thư viện các Trường Đại học, cao đẳng lần thứ nhất do Bộ văn hóa, thể thao và du lịch , Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp tổ chức, trong đó có
chuyên luận của Vụ Thư viện về “ Đầu tư xây dựng thư viện hiện đại đáp ứng yêu cầu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học ở nước ta”[43], Vụ giáo dục đại học cũng có chuyên luận
về “ Hướng đến một mô hình thư viện đại học hiện đại phục vụ chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục đại học ”[42]. Hai chuyên luận này đã nêu rõ thực trạng Thư viện các trường Đại học và đưa ra các phương hướng phát triển thư viện đại học trong thời gian tới Tuy nhiên đây chỉ mới là định hướng chung cho tất cả các Thư viện đại học mà chưa đi sâu chi tiết vào từng Thư viện đại học của các khối ngành
cụ thể
Nói về vấn đề tổ chức và hoạt động Thông tin – Thư viện, không thể không
kể đến những đề tài vừa mang tính hệ thống lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
của một số tác giả nổi tiếng trong ngành TT-TV như: đề tài: “ Một số vấn đề về tổ chức và quản lý Thư viện đại học”[11], Đề xuất đổi mới thư viện đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, Kỷ yếu Hội nghị quốc tế “Thư viện Việt Nam hội nhập và phát triển”, 2006 [12] của Nguyễn Huy Chương và Một số vấn đề đổi mới hoạt động thông tin thư viện đại học ”[36] của Trần Mạnh Tuấn
“ Thư viện các trường Đại học với việc nâng cao chất lượng giáo dục” của tác giả
Nguyễn Thị Lan Thanh [31]
"Xử lý tài liệu tại Trung tâm thông tin - thư viện đại học quốc gia Hà Nội" [18] của
Trần Thị Quý [ 26]
“Đổi mới hoạt động thông tin- thư viện tại các trường đại học phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ”, “Trần Thị Minh Nguyệt.[23]
Trang 14Cũng nghiên cứu cụ thể về tổ chức và hoạt động thông tin thư viện nói chung, nhưng áp dụng cụ thể vào các đơn vị thông tin - thư viện Việt Nam phải kể
đếncác đề tài luận văn như:Trần Văn Hồng: "Tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện huyện ở thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và giải pháp.(2013) [17] Đề tài đã làm rõ nét cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động, thực trạng công tác tổ chức
và hoạt động của mạng lưới thư viện huyện ở TPHCM và đưa ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các thư viện trong mạng lưới thư viện huyện
Cũng nghiên cứu chi tiết tổ chức và hoạt động thông tin thư viện nhưng ở các đơn vị là Thư viện trường đại học phải kể đến như:
đề tài: “ Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TT TT-TV Trường Đại học Hà Nội trước yêu cầu đổi mới sự nghiệp đào tạo của nhà trường” của Phạm
"Tổ chức và hoạt động tại kho mượn thư viện Tạ Quang Bửu Trường ĐH Bách Khoa HN phục vụ đào tạo tín chỉ" của Trần Thị Tuyến (2014) [39]
Các đề tài này đã nêu ra được những vấn đề cụ thể trong hoạt động TT-TV của từng TT TT – TV khác nhau và đưa ra được những biện pháp nhằm hoàn thiện, tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các TT TT-TV cụ thể
Nhìn chung, ở các đề tài này đã mang những sắc thái mới mẻ hơn trong việc
đề cập đến những vấn đề cơ bản trong hoạt động thông tin – thư viện và giải pháp tăng cường hoạt động thông tin – thư viện, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, phục
vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học Mỗi đề tài đi sâu chi tiết vào hoạt động của từng
cơ quan thông tin - thư viện cụ thể
Trang 15Cũng đề cập đến vấn đề hoàn thiện hoạt động thông tin thư viện như trên nhưng mang sắc thái riêng cho một số cơ quan thông tin thư viện hoạt động trong
lĩnh vực y tế, cũng đã có một số đề tài đề cập đến như:, Luận văn thạc sĩ “Tăng cường hoạt động TT-TV tại Viện Công nghệ thông tin - Thư viện Y học Trung ương” của Dương Thị Thu Bảo (2011 )[3] Đầu năm 2014 có luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Thiện "Tổ chức và hoạt động tại Thư viện trường Đại học Điều dưỡng Nam Định [34] Các đề tài này đã khái quát được sứ mạng và tầm quan trọng của Thư viện đối với các trường ĐH trong ngành y tế Nêu được thực trạng và đưa ra những giải pháp rất cụ thể đối với thư viện từng trường trong ngành y tế
Tuy nhiên, cùng một vấn đề nghiên cứu này nhưng trên đối tượng cụ thể và phạm vi nghiên cứu cụ thể là tổ chức và hoạt động TT-TV tại Trường Đại học Dược Hà Nội thì chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu như vậy, có thể khẳng định đề tài “ Tổ chức
và hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Dược Hà Nội ” là một đề tài
có nội dung nghiên cứu mang tính mới mẻ và không trùng lặp với đề tài nào trong
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo của Trường Đại học Dược Hà Nội trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ dược sĩ ở Việt Nam
- Nghiên cứu đặc điểm nhu cầu tin của Người dùng tin tại Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động TT-TV tại Trường ĐHDHN, đánh giá khả năng đáp ứng thông tin phục vụ việc học tập, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y dược
Trang 16- Luận chứng và đưa ra những giải pháp cụ thể, có tính khả thi đối với công tác tổ chức và hoạt động TT-TV tại trường ĐHDHN góp phần đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu khoa học đào tạo đội ngũ Dược sĩ của Nhà Trường
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết nghiên cứu đặt ra là: Hoạt động TT-TV của Trường ĐHDHN hiện còn những bất cập dẫn tới Thư viện chưa đáp ứng được công cuộc giáo dục & đào tạo đội ngũ dược sĩ của Trường ĐHDHN Do đó, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường cần phải nghiên cứu nâng cao chất lượng về tổ chức và hiệu quả hoạt động của Thư viện
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thông tin – thư viện của trường Đại học Dược Hà Nội
và đào tạo
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu, các trang web liên quan đến đề tài
- Phương pháp khảo sát thực tiễn, điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Trang 17* Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra những biện pháp cụ thể, mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TT-TV tại Trường ĐHDHN nói riêng và các cơ quan TT-TV đại học ở Việt Nam nói chung
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Đánh giá đúng vai trò của hoạt động TT-TV đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo
- Kết quả nghiên cứu sẽ nêu rõ thực trạng hoạt đông TT-TV tại Trường ĐHDHN, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong hoạt động của Thư viện
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động TT-TV của đơn vị đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, sinh viên của Trường ĐHDHN
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động Thông tin – Thư
viện tại Trường Đại học Dược Hà Nội
Chương 2: Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động Thông tin –Thư viện của
Trường Đại học Dược Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao tổ chức và hoạt động TT-TV của
Trường Đại học Dược Hà Nội
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI 1.1 Khái niệm về tổ chức và hoạt động thông tin thư viện
1.1.1 Tổ chức Thông tin thư viện
Có rất nhiều cách hiểu về tổ chức Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên[25], khái niệm tổ chức được xem xét với ba định nghĩa sau:
- Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định
- Làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất
- Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm mục đích chung
Theo Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý và
bổ sung (1994) [30] thì khái niệm tổ chức được định nghĩa như là: “Sắp xếp các bộ phận cho ăn nhịp với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định”
PGS.TS Trần Thị Quý trong tập bài giảng môn Thông tin học nâng cao cho rằng: “Tổ chức là tổ hợp các thành phần, thông qua các luồng thông tin có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng hỗ trợ và thúc đẩy nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ chung trong một môi trường nhất định” [28, tr44-53]
Như vậy, tổ chức là công việc khởi đầu, hạt nhân để hình thành một cơ quan,
xí nghiệp…vv đồng thời tổ chức luôn song song tồn tại và phát triển trong đời sống
xã hội Trong công việc mỗi người thường tự bố trí, sắp xếp mối liên hệ các công việc với nhau nhằm hoàn thành các công việc được giao
Tổ chức đóng vai trò rất quan trọng trong các chế độ xã hội, các lĩnh vực và ngành nghề Tổ chức đóng vai trò quyết định sự hình thành phát triển trong công việc nói riêng và quản lý nói chung
Công tác tổ chức trong thư viện được hiểu là bố trí nhân sự, sắp xếp các bộ phận trong dây truyền tài liệu, động viên các nguồn lực (nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị, ) để đưa thư viện vào hoạt động một cách hiệu quả
Trang 19Công tác tổ chức là công việc đầu tiên phải thực hiện khi thành lập hay cải tổ một thư viện Nội dung của công tác tổ chức là thiết lập bộ máy tổ chức của thư viện, bố trí, sắp xếp nhân sự, xây dựng quy chế vận hành của thư viện
Cơ quan thông tin – thư viện là một thiết chế văn hóa giáo dục có nhiệm vụ thu thập, xử lý, bảo quản vốn tài liệu hợp lí và đưa tài liệu phục vụ NDT một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất Tổ chức thư viện là một phần của tổ chức văn hóa Để tổ chức một cơ quan thông tin – thư viện phải luôn bám vào nội dung và yêu cầu của
tổ chức quản lý văn hóa
Đích hoạt động thông tin – thư viện xuất phát từ nhu cầu sử dụng thông tin của NDT Nhu cầu tin là tính chất của một đối tượng cá nhân, tập thể, thể hiện sự cần thiết tiếp nhận thông tin phù hợp với hành vi hay công việc mà đối tượng đó đang thực hiện
Tổ chức hoạt động thông tin – thư viện là sự tổng hợp các phương pháp lao động khoa học nhằm mục đích phục vụ tối đa nhu cầu tin của NDT với thời gian, chi phí ít nhất
Tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện là việc thiết lập cơ cấu thích hợp
để thư viện tồn tại và phát triển, đó là xây dựng cơ quan TT-TV với hệ thống phòng ban chức năng, qui định nhiệm vụ, chức năng, bố trí nhân sự, trang thiết bị, đào tạo cán bộ và hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ để vận hành thư viện
Trong thư viện các trường đại học, thiết lập cơ cấu tổ chức là công việc đầu tiên phải tiến hành khi xây dựng thư viện Cơ cấu tổ chức phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng, có tác động tích cực đến sự tồn tại và phát triển bền vững của thư viện
Thông thường, thư viện đại học được tổ chức theo các cơ cấu sau đây:
- Cơ cấu tổ chức trực tuyến: trong cơ cấu này người quản lý thư viện (giám đốc) nắm toàn quyền điều hành thư viện, ra quyết định và chịu trách hoàn toàn về mọi quyết định mà mình ban ra cũng như mọi hoạt động của thư viện Đây là cơ cấu
tổ chức đơn giản, phù hợp với phần lớn thư viện đại học có quy mô nhỏ, số lượng tài liệu cũng như số lượng người dùng tin không lớn Ưu điểm của kiểu tổ chức theo
Trang 20cơ cấu trực tuyến là sự chỉ đạo mang tính tập trung, mọi quyết định nhanh chóng được thi hành Tuy nhiên cơ cấu tổ chức này cũng có nhược điểm là thiếu linh hoạt, đòi hỏi người lãnh đạo cao nhất phải có kiến thức đủ rộng, phải có tầm nhìn bao quát và có trách nhiệm cao
- Cơ cấu tổ chức trực tuyến – tham mưu: cơ cấu này tương tự như cơ cấu tổ chức trực tuyến nhưng bên cạnh giám đốc thư viện có thêm bộ phận tham mưu, cố vấn (hội đồng khoa học hay nhóm cố vấn) Ưu điểm của cơ cấu này là tránh được
sự độc đoán, cá nhân và giúp cho quyết định của lãnh đạo chính xác hơn Tuy nhiên
cơ cấu này cũng có nhược điểm là khi bộ phận tham mưu không thật sự giỏi hay bộ phận này bị chi phối bởi lãnh đạo thì tham mưu chỉ là hình thức, che đậy sự độc đoán của lãnh đạo
- Cơ cấu tổ chức chức năng: Kiểu tổ chức này phân chia thư viện thành các
bộ phận chức năng, căn cứ vào năng lực chuyên môn của cán bộ và yêu cầu của từng bộ phận Ưu điểm của kiểu tổ chức này là tính chuyên môn hóa cao, sử dụng được tối đa năng lực của cán bộ, tuy nhiên cơ cấu này cũng có nhược điểm là có thể dẫn đến xung đột giữa các bộ phận nếu như việc phân chia các bộ phận không hợp
lý
- Cơ cấu tổ chức dự án: cơ cấu này tập hợp một nhóm cán bộ có trình độ chuyên môn phù hợp để thực hiện một công việc nào đó (dự án, chương trình,,) trong một khoảng thời gian nhất định cho tới khi công việc hoàn thành Cơ cấu này
có ưu điểm là linh hoạt, mềm dẻo, thích ứng với hoàn cảnh có nhiều thay đổi, biến động
- Cơ cấu tổ chức ma trận: là kiểu tổ chức kết hợp giữa cơ cấu chức năng với kiểu tổ chức theo cơ cấu dự án Ưu điểm của kiểu tổ chức này là vừa mềm dẻo, linh hoạt vừa phù hợp với sự thay đổi, biến động của hoàn cảnh Cơ cấu này phù hợp với các thư viện lớn, phục vụ đông đảo bạn đọc, có nhiều chương trình, dự án hay khi thư viện muốn tiến hành cải tổ, xây dựng, [27, tr.44 – 53]
Trong quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động Thư viện đại học (ban hành kèm theo quyết định số 13/2008/QĐ - BVHTTDL ngày 10 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xác định thư viện các trường đại học là
Trang 21một đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của trường đại học với các bộ phận (phòng, ban) tương ứng với chức năng và nhiệm vụ về nghiệp vụ chuyên môn [9]
1.1.2 Hoạt động Thông tin thư viện
Khái niệm hoạt động
Trên quan điểm triết học, khái niệm “hoạt động” được hiểu là một phương
pháp đặc thù của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của mình Trong mối quan hệ
ấy, chủ thể của hoạt động là con người, khách thể của hoạt động là tất cả những gì
mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Mục đích trên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng hoạt động khác nhau
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, do Hoàng Phê chủ biên,
khái niệm “hoạt động” được hiểu là làm những việc khác nhau nhằm đạt được một
mục đích nhất định trong đời sống xã hội.[25]
Các nhà tâm lý học lại cho rằng “hoạt động” là một chuỗi các hành động kế
tiếp nhau, tác động vào một đối tượng nhất định nhằm một mục đích nhất định và
có một ý nghĩa nhất định
Với tư cách là đơn vị cấu thành đời sống xã hội nói chung, đời sống của mỗi con người nói riêng, hoạt động có thể được coi là tổng hợp các hành động của con người, tác động vào một đối tượng nhất định nhằm đạt một mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội nhất định [32, tr.48-50.]
Như vậy, có thể hiểu khái niệm “hoạt động” là tiến hành thực hiện các nhiệm
vụ có liên quan mật thiết với nhau theo chức năng để đạt được mục tiêu chung của một tổ chức/đơn vị nhất định
Thư viện với chức năng cơ bản của mình, vừa là thiết chế văn hóa - giáo dục, vừa là cơ quan truyền bá thông tin, phổ biến kiến thức cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở này, có thể xác định khái niệm
Trang 22“hoạt động” trong lĩnh vực TT-TV là tiến hành toàn bộ các công việc nghiệp vụ
thuộc chức năng và nhiệm vụ của một cơ quan TT-TV
Khái niệm hoạt động thông tin – thư viện
“Thông tin” là một khái niệm phức tạp được biểu đạt khác nhau, tùy theo góc
độ tiếp cận Tiếp cận dưới góc độ triết học theo nghĩa rộng, có thể coi thông tin là thuộc tính phản ánh của vật chất Theo nghĩa hẹp, dưới góc độ xã hội, thông tin là các tin tức, sự kiện, tri thức được thông báo, được truyền đi, được tiếp nhận và sử dụng bởi con người Tin tức, dữ kiện chỉ thực sự trở thành thông tin khi nó được truyền đi và được tiếp nhận, sử dụng [29]
“Hoạt động thông tin” được hiểu là một quá trình tác động, cải biến để thông
tin, tri thức theo cách nào đó để nó có thể được truyền đi, được tiếp nhận và sử dụng không ngừng với hiệu quả cao Và như vậy, hoạt động thông tin sẽ bao gồm các hành động sáng tạo, thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người sử dụng và duy trì hoạt động sống của con người [3]
Xuất hiện từ khi loài người có chữ viết và tồn tại để đáp ứng nhu cầu đọc của
con người, “Thư viện” có thể hiểu một cách khái quát là nơi tàng trữ và sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội Như vậy “hoạt động thư viện” sẽ phải đảm bảo hai mặt có mối quan hệ hữu cơ là tàng trữ tài liệu và tạo mọi điều kiện cho người đọc sử dụng tài liệu đó Nói cách khác, “hoạt động thư viện” là quá trình thu thập,
xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu cho người đọc [3]
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, cũng như sự xâm nhập sâu rộng của chúng vào các hoạt động hàng ngày của thư viện đã xóa nhòa ranh giới giữa thư viện và cơ quan thông tin Trong các cơ quan
TT-TV thật khó có thể tách bạch giữa “hoạt động thư viện” và “hoạt động thông tin”
giữa chúng có mối quan hệ khăng khít, đan xen, gắn kết và tương tác hữu cơ với
nhau, kết cục đã trở thành khái niệm chung “hoạt động TT-TV”
Xu thế phát triển trong kỷ nguyên thông tin hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới là hình thành các trung tâm TT-TV với chức năng kép – vừa phục vụ thư viện vừa phục vụ thông tin Xu hướng này thể hiện khá rõ nét ở hệ thống các thư viện
Trang 23chuyên ngành Theo đó, khái niệm “hoạt động thư viện” và “hoạt động thông tin”
gần như hòa quyện vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong một khối thống nhất, đồng thời
là lý do tồn tại của nhau [32, tr 310-315]
Nếu tiếp cận từ góc độ thông tin tư liệu, thì hoạt động TT-TVchính là khái niệm
hoạt động thông tin khoa học, được trình bày trong Nghị định số 159/2004/NĐ-CP
của Chính phủ, ngày 31-8-2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ [21]đó là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin Những hoạt động này chính là sự cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ được giao cho cơ quan thư viện hoặc trung tâm TT-TV
Điều này là xu hướng tất yếu bởi quá trình hiện đại hóa các hoạt động thư viện
đã làm thay đổi cơ bản vai trò của các thư viện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng cưởng chức năng phục vụ và phổ biến thông tin của các thư viện hiện đại Đó cũng chính là lý do vì sao hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều coi sự nghiệp thư viện là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của chính sách thông tin quốc gia
1.1.3 Mối quan hệ giữa tổ chức và hoạt động
Hai khái niệm “Tổ chức” và “Hoạt động” có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau
và không thể tách rời, đồng thời là điều kiện tồn tại của nhau, đó là hai mặt của một vấn đề Một tổ chức nào đó được thiếp lập là để triển khai các hoạt động cho thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức đó Đồng thời việc thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ được giao không thể thiếu công tác tổ chức, nghĩa là triển khai các hoạt động chỉ có hiệu quả khi nào có một cơ cấu tổ chức nhất định Nói cách khác, không có tổ chức thì không thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình và đạt được mục tiêu đã đề ra của một hoạt động nhất định
Mối quan hệ giữa “Tổ chức” và “Hoạt động” nhìn từ góc độ triết học được hiểu là hình thức và nội dung Trong đó, “Tổ chức” là biểu hiện của hình thức và
“Hoạt động” là biểu hiện của nội dung Hình thức và nội dung là hai phạm trù của
phép duy vật biện chứng Theo đó, mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội đều có nội dung và hình thức của nó Nội dung là mặt quan trọng nhất của sự vật, biểu thị
Trang 24bản chất sâu kín, thực chất căn bản của sự vật mà được thể hiện qua tính chất và đặc tính của sự vật Hình thức là tổ chức bên trong của nội dung, liên hệ những yếu tố của nội dung thành một khối thống nhất Không có hình thức, không thể có được nội dung Theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin, hình thức không phải như một sự vật tự thân đã đầy đủ rồi, mà là sự biểu hiện của một nội dung nhất định Tổ chức chung qui là hình thức, tất cả đều do nội dung lồng trong hình thức đó quyết định Hình thức không bao giờ và không thể đóng vai trò độc lập được, cũng như không bao giờ có nội dung không hình thức và ngược lại Một nội dung nhất định, cụ thể chỉ
có thể tồn tại dưới một hình thức nhất định mà thôi
Hình thức tác động đến nội dung bằng cách thúc đẩy hoặc ngăn trở sự phát triển của một nội dung Tuy nhiên, sự phát triển luôn bắt đầu bằng nội dung là yếu
tố hoạt động nhất trong các sự vật và quá trình Vì nội dung ở trong tình trạng luôn phát triển nên không thể có sự thích hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình thức Bởi vậy, trong quá trình phát triển mâu thuẫn xuất hiện giữa nội dung và hình thức Khi mâu thuẫn đó trở thành trầm trọng thì đòi hỏi phải thay thế hình thức hiện có, vì khi
đó hình thức đã mất hết khả năng của mình và biến thành trở ngại cho sự phát triển
Vì nội dung quyết định hình thức, nên hình thức cần phải được thay đổi cho phù hợp với toàn bộ nội dung, [8, tr 213- 215]
Như vậy, trong lĩnh vực thông tin-thư viện, mối quan hệ giữa tổ chức bộ máy với các nội dung hoạt động cũng chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau Sự phát triển các nội dung hoạt động đòi hỏi phải kiện toàn tổ chức để có thể đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện hoạt động cũng như quản lý quá trình thực hiện thông qua sự thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động đó
1.1.4 Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thư viện đại học
* Hệ thống văn bản pháp quy về thư viện đại học
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về công tác TT-TV giữ vị trí rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp TT-TV Việt Nam thông qua các vai trò chỉ đạo, điều tiết, can thiệp, tiêu chuẩn hóa công tác TT-TV
Trang 25Trên cơ sở định hướng của các văn bản này, các cơ quan hoạch định kế hoạch thực hiện phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử
Bằng các quy định cụ thể trong các VBQPPL, nhà nước sử dụng nhiều công
cụ khác nhau để điều tiết sự phát triển của sự nghiệp thư viện và thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động TT-TV của từng đơn vị cụ thể như: chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế nhập khẩu tài liệu thư viện và trang thiết bị chuyên dùng; chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm cho cán bộ, nhân viên thư viện; mức phí tạo lập nguồn tin điện tử; hỗ trợ kinh phí cho việc khai thác mạng thông tin – thư viện trong nước
và nước ngoài; chính sách đầu tư bảo đảm kinh phí cho các thư viện phát triển vốn tài liệu, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật theo hướng hiện đại hóa; điều tiết, điều chỉnh kinh phí của các thư viện hoạt động bằng ngân sách nhà nước; quy định quy
mô hoạt động, phạm vi hoạt động, đối tượng phục vụ chính của từng loại hình thư viện khác nhau
Trong thực tiễn, hệ thống VBQPPL về công tác TT-TV là cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần tích cực vào việc vận hành thông suốt, có hiệu quả hoạt động của các cơ quan TT-TV trên phạm vi toàn quốc Việc hoàn thiện hệ thống VBQPPL, chế độ chính sách trong hoạt động TT-TV sẽ tạo cơ sở và hành lang pháp
lý ngày càng thuận lợi hơn cho sự phát triển của từng đơn vị
* Nhận thức và sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đơn vị
Công tác thông tin – thư viện chịu sự tác động không nhỏ bởi nhận thức của lãnh đạo đơn vị (trong trường đại học là Ban Giám hiệu nhà trường) Hoạt động của thư viện sẽ hiệu quả hơn, phát triển hơn nếu như có sự quan tâm, lãnh đạo thường xuyên của Ban giám hiệu nhà trường khi họ thấy được vai trò to lớn của thư viện đối với sự nghiệp giáo dục Ngược lại, nếu Ban Giám hiệu nhà trường còn coi nhẹ tầm quan trọng của thư viện, thiếu sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, chưa có kế hoạch đầu tư thích đáng đối với công tác thư viện thì hiệu quả hoạt động của thư viện sẽ không cao, không đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của Nhà trường
Trong thực tiễn hoạt động của các thư viện, nhất là thư viện trường cao đẳng, đại học, không hiếm trường hợp công tác thông tin - thư viện bị xem nhẹ Có người
Trang 26đã ví von một cách chua xót rằng “thư viện được xem như bình hoa đẹp, khi cần thì đem ra trưng bày cho đẹp, cho sang, khi không cần thì để vào một xó cho gọn” Lời
ví von chua xót ấy không phải là không có cơ sở, vì ở nơi này, nơi kia, công tác thư viện còn bị xem thường, có tiền thì đầu tư, không có tiền thì thôi; trang thiết bị, nhất
là máy tính, các bộ phận khác không dùng nữa thì trang bị cho thư viện Điều này thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị đối với công tác thư viện còn chưa tương xứng với tầm quan trong của thư viện
* Đội ngũ cán bộ làm công tác thư viện, thông tin
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các thư viện là cán bộ Vai trò của con người nói chung và của cán bộ thư viện nói riêng trong các thư viện là vô cùng quan trọng Cho dù công nghệ có hiện đại bao nhiêu, cho dù trang thiết bị có tiên tiến đến đâu nhưng nếu không có những cán bộ có trình
độ nghiệp vụ tương thích, không có đội ngũ cán bộ yêu nghề thì thư viện cũng không thể hoạt động có hiệu quả được
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà các thư viện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động xử lý tài liệu, tìm kiếm thông tin, phục vụ ngời dùng tin thì vai trò của cán bộ thư viện lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Trong các thư viện hiện nay, để thư viện hoạt đông có hiệu quả thì cán bộ thư viện cần phải có đủ mấy nhóm sau:
Trang 27viện được xem là “giảng đường thứ hai”, là kênh thông tin quan trọng giúp người học nắm bắt và làm chủ tri thức Để phục vụ người dùng tin theo phương thức đào tạo mới này, đòi hỏi cán bộ thư viện phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ thư viện, nắm bắt được nhu cầu tin của người dùng tin
và sẵn sàng trợ giúp họ tìm được thông tin cần thiết khi họ yêu cầu
* Tiềm lực thông tin, cơ sở vật chất của Nhà trường
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, khi mà năng lực tìm kiếm,
xử lý thông tin của mỗi cá nhân không thể theo kịp sự tăng nhanh khối lượng thông tin cho dù chỉ trong lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình, thư viện phải là “công xưởng” chế biến thông tin, cung cấp cho người dùng tin những “món ăn” hợp với khẩu vị của họ Để thư viện đại học có thể làm tốt công tác phục vụ người dùng tin của mình, thư viện cần được trang bị một nguồn thông tin đủ mạnh, bao quát hết không chỉ các lĩnh vực chuyên môn mà nhà trường đang đào tạo mà cả các lĩnh vực chuyên môn liên quan
Hiện nay, hầu hết các cơ sở xuất bản đã xuất bản tài liệu dưới dạng điện tử
và người dùng tin, nhất là sinh viên, đang có xu hướng thích nghi dần với việc tìm đọc tài liệu điện tử trên mạng, do vậy, thư viện đại học ngoài việc bổ sung các loại tài liệu trên giấy cũng cần tăng cường bổ sung tài liệu điện tử, các loại tạp chí chuyên ngành, giáo trình, sách tham khảo…
Tuy nhiên, để có thể khai thác tối đa các nguồn lực thông tin của thư viện, nhất là các loại tài liệu điện tử, thư viện cũng cần trang bị các phương tiện hiện đại như máy chủ, đường truyền Internet tốc độ cao, mạng LAN, phòng đọc với các tiện nghi để thu hút cán bộ, giảng viên và sinh viên đến thư viện đông hơn
Ngoài ra, thư viện còn phải chú trọng tới các hoạt động đối ngoại, đối nội mở rộng mối quan hệ hợp tác với các phòng/ ban và các thư viện khác Nhờ sự phối hợp hoạt động giữa thư viện với các phòng/ban, trung tâm có tác động to lớn đến
tổ chức và hoạt động của thư viện Căn cứ vào yêu cầu của từng bộ môn, dựa trên yêu cầu thực tế của sinh viên, thư viện đã có kế hoạch bổ sung nguồn tài liệu hợp lý, đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ và sinh viên trong trường Từ sự
Trang 28liên kết, phối hợp hoạt động trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện, đưa thư viện trở thành “cầu nối” giữa tri thức và bạn đọc
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện
+ Công tác chính trị - tư tưởng
Đây là tiêu chí chỉ đạo đánh giá việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của thư viện như thế nào vào các cuộc vận động kinh tế, chính trị chung của cả nước Việc vận dụng đúng công tác chính trị - tư tưởng vào hoạt động TT-TV sẽ đánh giá được hiệu quả hoạt động của từng cơ quan TT-TV
+ Tính tối ưu hóa của cơ cấu: Giữa các khâu, các cấp quản lý đều thiết lập những mối liên hệ hợp lý với số lượng cấp quản lý ít nhất trong một bộ phận nhằm đáp ứng tối ưu của bộ phận đó hoặc thư viện
+ Trình độ tổ chức cán bộ: Cán bộ được tổ chức vào các phòng ban một cách hợp lý và phù hợp với năng lực chuyên môn của từng cá nhân Khi đánh giá hiệu quả hoạt động TT-TV của một cơ quan TT-TV người ta nhìn vào cách tổ chức cơ cấu cán bộ của cơ quan đó có hợp lý hay chưa, trình độ của cán bộ phụ trách một công việc nào đó đã phù hợp hay chưa để họ có thể phát huy hết khả năng của mình vào công việc Tiêu chí này giúp cho các cán bộ phát huy hết năng lực để thực hiện công việc hiệu quả
+ Trình độ trang bị cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất phải hiện đại và tương ứng với trình độ của cơ quan TT – TV
+ Sử dụng kinh phí hợp lý: Nguồn kinh phí được sử dụng một cách hợp lý nhất phục vụ cho việc phát triển của cơ quan
+ Về hiệu quản lý được tính theo công thức sau: HQ = Kết quả - chi phí nguồn lực
+ Khối lượng và quy mô phục vụ Tiêu chí này vô cùng quan trọng, bởi nó liên quan đến lợi ích của NDT Nếu một cơ quan TT-TV nào có khối lượng và quy
mô phục vụ lớn và chất lượng tốt sẽ đem lại hiệu quả hoạt động cao
Trang 291.2 Khái quát về trường Đại học Dược Hà Nội
Trường Đại học Dược Hà Nội, tiền thân là trường Thuốc Đông Dương, được thành lập theo sắc lệnh của Chính phủ Pháp do toàn quyền Doumer ký ngày 08 tháng 01 năm 1902, có nhiệm vụ đào tạo y sỹ, dược sỹ Đông Dương và nghiên cứu một số bệnh ở vùng nhiệt đới
Trường được hình thành ở ấp Thái Hà vào ngày 27/02/1902, sau đó chuyển vào trung tâm thành phố 13-15 Lê Thánh Tông ngày nay, Trường có một thư viện và một bệnh viện thực hành 40 giường bệnh BS Alexandre Yersin được bổ nhiệm làm giám đốc
Ngày 26/07/1909, chính phủ Pháp ra sắc lệnh quy định một số vấn đề về đào tạo Dược Năm 1914 Ban Dược được thành lập, việc đào tạo Dược sỹ bắt đầu được thực hiện từ đó
Thời kỳ đầu, trường đào tạo thầy thuốc phụ tá (assistant médecin) sau đổi thành thầy thuốc bản xứ (Médecin indigene), sau đó lại đổi thành y sỹ và dược sỹ Đông Dương (Médecin indochinois)
Năm 1926, trường bắt đầu đào tạo bác sĩ và dược sĩ hạng nhất (tương đương dược sỹ đại học ngày nay) nhưng phải qua kì thi tốt nghiệp tại Pháp
Đến năm 1936, Trường thực hiện thi tốt nghiệp và cấp bằng cho các dược sỹ hạng nhất tại Đông Dương
Ngày 15/10/1941, Chính phủ Pháp đổi tên Trường Y - Dược thực hành Hà Nội thành Trường Đại học Y - Dược Đông Dương
Cách mạng tháng Tám thành công, Trường Đại học Y - Dược Đông Dương được đổi tên thành Trường Đại học Y - Dược khoa Ngày 15/11/1946 Bộ Quốc gia Giáo dục tổ chức khai giảng khóa đầu tiên Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trường Đại học Y - Dược khoa của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sơ tán đến vùng kháng chiến Chiêm Hóa (Tuyên Quang)
Ngày 10/10/1954, Thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng, Trường Đại học Y - Dược khoa ở Việt Bắc trở về tiếp quản Trường Đại học Y - Dược cũ của Pháp để lại, đảm nhận công tác đào tạo cán bộ y tế trong giai đoạn mới
Trang 30Ngày 29/09/1961, do yêu cầu phát triển của ngành, Bộ Y tế ra Quyết định số 828//BYT/QĐ, tách Trường Đại học Y - Dược khoa Hà Nội thành hai trường: Trường Đại học Y khoa Hà Nội và Trường Đại học Dược khoa Hà Nội
Ngày 11/9/1985, Trường Đại học Dược khoa Hà Nội đổi tên thành Trường Đại học Dược Hà Nội theo Quyết định số 1004/BYT - QĐ, của Bộ trưởng Bộ Y tế
Từ đó đến nay Trường hoạt động chính thức với tên gọi Trường Đại học Dược Hà Nội
Bộ máy tổ chức của Trường Đại học Dược Hà Nội hiện nay như sau:(Hình 1)
Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường ĐHDHN
Trang 31Trong chiến lược phát triển Trường đã xác định sứ mạng và mục tiêu phát triển
cụ thể như sau:
Sứ mạng
Trường Đại học Dược Hà Nội có sứ mạng đi tiên phong trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ Dược cho ngành Y tế Việt Nam, đặc biệt là đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ cao ngang tầm với khu vực và thế giới
Trường phải là một trong những trung tâm hàng đầu của cả nước về nghiên cứu và ứng dụng khoa học dược vào sản xuất, là đầu mối giao lưu quốc tế của ngành trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học về Dược trong khu vực
Mục tiêu phát triển
Xây dựng Trường Đại học Dược Hà Nội thành một trường trọng điểm quốc gia, một trung tâm đào tạo cán bộ và nghiên cứu Dược của cả nước, ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới
1.3 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội
1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Cùng với giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện là nơi gần gũi, gắn bó, là địa chỉ tin cậy của giảng viên, sinh viên trong suốt thời gian giảng dạy, học tập ở trường
Năm 1964, sau khi thành lập trường, một căn nhà 2 gian đã được xây dựng sau dãy nhà cao tầng ở Khu nội trú sinh viên ở Dốc Thọ Lão đã được giành để triển khai, phục vụ cho nhu cầu đọc của cán bộ và sinh viên Ban đầu, sách và tài liệu phần lớn bằng tiếng Việt và một số tài liệu tiếng Nga
Năm 1965, nhà trường đi sơ tán, một bộ phận lớn của Thư viện lên Lục Ngạn (Bắc Giang) Trong những năm trường sơ tán, Thư viện là nơi được các sinh viên rất quan tâm vì sinh viên có nhiều thời gian, nhu cầu về thư viện thực sự lớn
Năm 1969, trường chuyển về Ninh Sở, Thường tín (Hà Tây cũ) Đến năm
1975, Thư viện được tổ chức thành đơn vị độc lập trong trường, được bố trí vào địa điểm mới và tồn tại từ đó
Trang 32Ngày 25 tháng 5 năm 2009 Thư viện Trường được chính thức thành lập theo quyết định số 181/QĐ-DHN Trong thời gian này được sự đầu tư của Bộ Y tế và nhà trường, Thư viện đã có thêm những trang thiết bị hiện đại Thư viện cũng triển khai hệ thống Medline và IDIS về thông tin thuốc nước ngoài Bước đầu xây dựng thư viện điện tử, nối mạng Internet phục vụ cho công tác học tập và tra cứu của cán
bộ và sinh viên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của độc giả Thư viện đã được đánh giá cao và thu hút được nhiều độc giả trong đó có nhiều cán bộ ngoài trường Thư viện được định hướng là bộ phận tư liệu thông tin của trường phù hợp với xu hướng hiện đại và yêu cầu của người sử dụng nhằm cung cấp sách, báo, tạp chí, thông tin tư liệu cho cán bộ và sinh viên trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Hiện nay Thư viện có một cơ sở vật chất khá tốt, với diện tích 350m2, được chia thành các bộ phận: Tổ in, Phòng giáo trình, Phòng đọc tham khảo, Phòng đọc
mở, Phòng tra cứu điện tử, Phòng nghiệp vụ Vốn tài liệu khá phong phú , hiện tại, Thư viện có khoảng 11.873tài liệu bao gồm: sách tham khảo tiếng Việt, sách tham khảo ngoại văn, giáo trình học tập, luận án, luận văn, khoá luận, báo, tạp chí Trang thiết bị được cải thiện, nguồn lực thông tin tương đối đầy đủ, Thư viện thực sự trở thành giảng đường thứ hai trong nhà trường
Năm 2013 Dự án thư viện điện tử đã được triển khai thành công Hiện nay Thư viện đã có trang web riêng và xây dựng dựng được bộ cơ sở dữ liệu số với hơn
2360 file dữ liệu số về sách tham khảo, luận án, luận văn, khóa luận và hơn 40.000 bài trích báo, tạp chí toàn văn Cơ sở dữ liệu số đưa vào phục vụ và được đông đảo người dùng tin đánh giá hiệu quả tốt
Trong những năm gần đây hoạt động đào tạo cho người dùng tin luôn được đẩy mạnh, Thư viện đã chú trọng đến chương trình giảng dạy cho bạn đọc, đảm bảo cung cấp đến người dùng tin những kiến thức cơ bản nhất về các hoạt động và dịch
vụ của thư viện: Bổ sung các kĩ năng tra cứu thông tin cho người dùng tin, ngoài ra thư viện còn phát triển các hình thức tuyên truyền khác: tổ chức định kỳ giới thiệu
Trang 33sách chuyên đề và vận động thu hút các nguồn tài liệu điện tử miễn phí để giới thiệu cho bạn đọc
Tích cực hợp tác, giao lưu với Thư viện của các trường đại học trong và ngoài ngành nhằm chia sẻ và trao đổi thông tin
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
Chức năng
Tham mưu cho Hiệu trưởng và tổ chức tốt việc phục vụ thông tin – thư viện cho hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý của nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong thư viện (tài liệu chép tay, in, sao chụp, khắc trên mọi chất liệu, tài liệu điện tử, mạng Internet…)
Nhiệm vụ
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của thư viện;
tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong nhà trường;
- Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường; thu nhận các tài liệu do nhà trường xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khoá luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện;
- Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý nguồn tài nguyên của thư viện; xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp; thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm kiếm thông tin tự động hoá; xây dựng các cơ sở dữ liệu; biên soạn, xuất bản các ấn phẩm thông tin theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tìm kiếm,sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin – thư viện thông qua các hình thức phục vụ của thư viện phù hợp với quy định của pháp luật;
- Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác thư viện;
Trang 34- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác;
- Đáp ứng các nhu cầu về in ấn giáo trình bài giảng và những ấn phẩm khác phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tác quản lý của nhà trường, đồng thời đóng góp tài chính cho nhà trường trên cơ sở hạch toán nội bộ
- Không ngừng mở rộng quan hệ trao đổi, hợp tác chia sẻ tài nguyên với các đối tác trong và ngoài nước Đặc biệt chú trọng việc trao đổi thông tin tư liệu với các đơn vị trong ngành, với Liên hiệp thư viện các trường đại học và Trung tâm Thông tin – Tư liệu các bộ ngành hữu quan
- Quản lý tốt cơ sở vật chất hiện có, từng bước có kế hoạch nâng cấp, hiện đại hoá Thư viện
- Có trách nhiệm chia sẻ các thông tin của thư viện cho các đơn vị trong trường
- Tham gia các hoạt động đoàn thể và các nhiệm vụ khác do nhà trường giao
Quản lý đơn vị
Giao ban đơn vị hàng tuần để điều chỉnh kịp thời các khó khăn phát sinh trong quá trình công tác Phân công quản lý theo mảng công việc và theo dõi tiến độ thực hiện
Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ, viên chức của đơn vị được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý, ngoại ngữ, tin học Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ viên chức của phòng
Quản lý và khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường, đơn vị
* Cơ cấu tổ chức Thư viện trường đại học Dược Hà Nội bao gồm:
- 01 Phụ trách thư viện
- Phòng nghiệp vụ
Trang 35- Phòng máy tính điện tử - Phòng Giáo trình
- 01 cử nhân chuyên ngành hóa học
- 01 công nhân kỹ thuật in ấn
1.3.3 Cơ sở vật chất
Hiện nay Thư viện có một cơ sở vật chất khá tốt, với diện tích 352m2, được chia thành các bộ phận: Tổ in, Phòng giáo trình, Phòng đọc tham khảo, Phòng đọc
mở, Phòng tra cứu điện tử, Phòng nghiệp vụ
Thư viện được trang bị 30 máy tính điện tử, nối mạng internet tốc độ cao và được cài đặt phần mềm quản lý, tra cứu tài liệu Libol, 3 máy in laze, 01 máy in màu, 01 máy in nối mạng chất lượng tốt Bên cạnh đó các phòng chức năng của Thư viện được trang bị hệ thống quạt, điều hòa, camera chất lượng cao đảm bảo công tác
an toàn và tạo môi trường đọc sách thoải mái, thân thiện cho bạn đọc
1.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
Cùng với vốn tài liệu, cơ sở vật chất, cán bộ thư viện thì người dùng tin là một trong những nhân tố quan trọng cấu thành nên một Thư viện
Người dùng tin chính là đối tượng, là mục tiêu, là đích hướng tới của bất kỳ một Thư viện nào Nếu không có người dùng tin thì thư viện sẽ mất đi giá trị tồn tại của mình
"Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng phục
vụ của công tác thông tin tư liệu.Người dùng tin vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới.Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau:
Trang 36Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin Người dùng tin tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin Họ biết các nguồn thông tin và có thể thông báo hoặc đánh giá các nguồn tin đó Chính sách bổ sung phụ thuộc vào yêu cầu của người dùng tin Họ có thể tham gia vào việc hiệu chỉnh các hoạt động kỹ thuật như xây dựng ngôn ngữ tư liệu, xác định cấu trúc của các bộ phiếu Họ tham gia vào việc mô tả nội dung, hình thành chiến lược tìm tin và đánh giá các kết quả tìm được
- Người dùng tin cũng tham gia sản sinh ra thông tin mới, tham gia vào các dòng thông tin bằng tiếp xúc cá nhân
Tóm lại người dùng tin là một yếu tố thiết yếu của một trung tâm thông tin Họ là một yếu tố năng động của một trung tâm thông tin" [ 29, Tr50, Tr 338]
Mỗi người dùng tin lại có những nhu cầu tin khác nhau "Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người.Nhu cầu tin nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con người Con người càng tham gia nhiều loại hoạt động khác nhau, nhu cầu tin của họ càng phong phú hơn,hoạt động càng phức tạp thì nhu cầu tin càng trở nên sâu sắc hơn
Nhu cầu tin là nhu cầu quan trọng của con người, là một dạng của nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con người" [24]
Đặc điểm người dùng tin
Căn cứ vào mục tiêu và chương trình đào tạo đội ngũ dược sĩ của nhà trường, ta có thể phân chia NDT của Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội thành các nhóm chính sau:
Trang 37- Cán bộ quản lí:
Nhóm NDT này chiếm tỷ lệ không cao nhưng đặc biệt quan trọng vì họ là những người đưa ra chính sách, xây dựng các kế hoạch phát triển của trường nói chung và của Thư viện nói riêng
Cán bộ quản lí vừa là NDT vừa là chủ thể hoạt động thông tin Chính họ là người cung cấp thông tin có giá trị cao trong quá trình quản lí, điều hành mọi hoạt động của nhà trường Họ thường có rất ít thời gian đến khai thác tài liệu tại Thư viện, do đó thông tin để phục vụ nhóm đối tượng này cần được cung cấp đến tận nơi ở hoặc nơi làm việc của họ
Đặc điểm nhu cầu tin của họ là những thông tin mang tính tổng kết, dự báo, lượng thông tin có diện rộng nhưng mang tính khái quát, thông tin cần cô đọng, súc tích, có chọn lọc và được cung cấp tận nơi để kịp thời phục vụ cho quá trình ra quyết định
- Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
Đây là nhóm NDT có nhu cầu cao và bền vững vì thông tin là nguyên liệu cho hoạt động khoa học và giảng dạy của họ Họ vừa là những người cung cấp thông tin qua các bài giảng, các công trình nghiên cứu khoa học,các dự án, hội nghị vừa là những NDT thường xuyên, liên tục của các bộ phận thông tin trong
Nhóm 2: Học viên cao học và nghiên cứu sinh
NDT nhóm này là những người đã tốt nghiệp đại học, bao gồm ho ̣c viên cao ho ̣c, chuyên khoa cấp 1, cấp 2 và nghiên cứu sinh Họ có ít nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng thư viện, hiểu biết về phương thức khai thác và sử dụng thư viện một cách có hiệu quả để phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập của mình
Về nội dung thông tin, họ cần những thông tin chuyên đề, chuyên sâu phù
Trang 38hợp với chương trình đào tạo và liên quan đến đề tài nghiên cứu của họ
Nhóm 3: Sình viên (bao gồm sinh viên chính qui; văn bằng hai; sinh viên hệ
cao đẳng) Đây là những chủ thể thông tin đông đảo và biến động nhất trong trường ĐH Dược HN Họ có nhiều thời gian đến Thư viện học tập và nghiên cứu tài liệu Tuy nhiên, họ chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác thông tin tai Thư viện Thông tin mà họ tìm kiếm rất phong phú và đa dạng phục vụ học tập
và giải trí Thông tin cụ thể liên quan đến chuyên ngành theo học, mục tiêu khóa học hay đề tài cụ thể mà họ tham gia nghiên cứu khoa học, thí nghiệm dược phẩm vv
Tuy nhiên, sự phân chia thành nhóm NDT ở trường ĐH Dược HN như trên chỉ là tương đối Bởi NDT có thể vừa là giảng viên vừa là cán bộ lãnh đạo, quản
lý hay cán bộ nghiên cứu khi họ tham gia vào các hoạt động khác nhau Vì vậy bức tranh về nhu cầu tin của NDT thực tế sẽ phong phú và đa dạng hơn
Thực tế nghiên cứu cho thấy, khi nghiên cứu NDT cần phải phân chia từng đối tượng NDT và hiểu rõ nhu cầu tin của họ, từ đó đánh giá nhu cầu tin để đưa ra những nội dung thu hút người dùng tin đến với Thư viện
Để nhận dạng được nhu cầu tin của NDT tại Thư viện trường Đại học Dược
Hà Nội, tác giả đã thực hiện việc điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp Việc tổ chức điều tra thu đươ ̣c kết quả như sau : Tổng số phiếu phát ra điều tra là
350 trong đó cán bô ̣ giảng viên là 30 phiếu, 70 phiếu NCS , học viên cao học , chuyên khoa 1, 2,
Sinh viên đa ̣i ho ̣c , cao đẳng chính quy là 235 phiếu, số phiếu NDT khác là 5 phiếu Tổng số phiếu thu về là 340 phiếu hợp lê ̣ trên tổng số 350 phiếu phát ra, đa ̣t 97,1 %
Trong số đó : số phiếu của cán bô ̣ giảng viên là 30/30 đa ̣t 100%, NCS, HV cao ho ̣c, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 là: 70/70 đa ̣t 100% Sinh viên đa ̣i ho ̣c và cao đẳng chính quy đa ̣t 235/245 đa ̣t 96% Nhóm đối tượng NDT khác là bác sĩ , dươ ̣c sĩ ngoài trường được điều tra là 5/5 đa ̣t 100%
Qua phân tích, xử lý phiếu điều tra, Bức tranh nhu cầu tin của NDT ở Trường
ĐH Dươ ̣c HN được thể hiê ̣n cu ̣ thể như sau:
Trang 39Để xác lập được mức độ sử dụng Thư viện, bức tranh đánh giá được chia thành ba mức độ: thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi
Sinh viên đa ̣i ho ̣c,
cao đẳng chính
Bảng 1.3.4 - 1: Mức độ sử dụng thư viê ̣n của người dùng tin
Qua bảng 1.3.4-1 trên ta thấy: Sinh viên đa ̣i ho ̣c, cao đẳng chính quy là nhóm NDT thường xuyên đến Thư viê ̣n Trong khi đó nhóm người dùng tin là NCS , học viên cao học, chuyên khoa1, 2 phần lớn thỉnh thoảng mới đến Thư viện Nhóm cán
bộ giảng viên thì ít đến Thư viện hơn, thỉnh thoảng họ mới đến Thư viện để tìm tài liệu liên quan đến bài giảng, liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học Số ít cán bộ giảng viên thường xuyên đến Thư viện đều là cán bộ giảng viên trẻ
Họ có nhiều thời gian để đến Thư viện hơn những cán bộ giảng viên lớn tuổi
và cán bộ giảng viên tham gia công tác quản lý Điều này chứng minh tần suất đến thư viện liên quan rất nhiều đến độ tuổi Theo thống kê trong số 145(=100%) NDT thường xuyên đến Thư viện NDT có độ tuổi từ 18-25 (tương ứng với sinh viên) chiếm 120 = 82.8% NDT ở độ tuổi từ 26-35 chiếm 20 =13.8% và NDT ở độ tuổi
từ 36 trở lên chiếm 5 người = 3.4%
Trang 40Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp nhóm NDT “thỉnh thoảng” và“hiếm khi” đến thư viện nghiên cứu, học tập Ngoài thời gian đến Thư viện thì họ nghiên cứu và học tập ở đâu?, phần lớn câu trả lời là họ nghiên cứu ngay tại bộ môn thông qua tủ sách bộ môn hoặc ở nhà thông qua mạng internet
Như vậy có thể thấy, ngoài Thư viện là nơi NDT đến để thỏa mãn thông tin thì tủ sách bộ môn cũng là một nơi cung cấp thông tin hữu ích cho NDT Bên cạnh
đó, phải tính đến trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão Mạng internet cũng mang lại rất nhiều hữu ích cho NDT: Internet tạo cho NDT cơ hội tiếp cận với thông tin nhanh chóng, thuận tiện, mọi lúc, mọi nơi
*Loại hình tài liệu được NDT quan tâm
Loại hình tài liệu
Đối tượng NDT Sinh viên NCS, cao
học
Cán bộ giảng viên
Tài liệu tham khảo 198 84.25 70 100 30 100 5 100 303
Tài liệu tra cứu 150 63.8 70 100 30 100 5 100 255
Bảng 1.3.4-2 Loại hình tài liệu được NDT quan tâm
NDT còn quan tâm tới các dạng nguồn tin thể hiện dưới các loại hình tài liệu Bảng 1.3.4-2 trình bày kết quả điều tra về mức độ quan tâm của NDT đối với các loại hình tài liệu
Qua bảng trên ta thấy, loại hình tài liệu mà NDT quan tâm rất phong phú và