1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình công tác xã hội với gia đình có người cai nghiện ma túy tại địa bàn thị xã phú thọ, tỉnh phú thọ

139 931 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này cho thấy một thực trạng rằng: đối với những người nghiện, việc được điều trị bằng thuốc cũng như chương trình khác là chưa đủ, mà nó cần có sự phối hợp từ nhiều hoạt động khác n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ YẾN DƯƠNG

MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TUÝ TẠI ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Quyết

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi nhận được những sự giúp đỡ chân thành và hướng dẫn nhiệt tình từ các ban ngành, tổ chức xã hội tại địa bàn nghiên cứu; Quý thầy cô, bạn bè và gia đình Với sự kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới những người hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này:

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Phạm Văn Quyết là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và theo sát mọi bước tiến trong quá trình tôi tiến hành nghiên cứu Mặc dù bận rộn với công việc tại trường, nhưng thầy đã thường xuyên giành thời gian để kịp thời giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình những vướng mắc về chuyên ngành

Tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Những kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn được thầy cô truyền đạt lại đã trở thành nền tảng vững chắc để tôi xây dựng định hướng sát thực trong quá trình nghiên cứu

Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn các lãnh đạo, tổ chức xã hội và nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu trên địa bàn xã Đặc biệt, tôi muốn dành lời cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ thuộc phòng Lao động, thương binh và xã hội; công an thị xã; cán bộ trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ đã cung cấp những thông tin, số liệu thực tế đồng thời hợp tác cùng tôi để thực hiện những hoạt động tại cộng đồng

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè của tôi đã luôn động viên, tạo động lực cho tôi quyết tâm vượt qua mọi trở ngại để học tập, nghiên cứu trong thời gian vừa qua

Tuy rằng đã luôn nỗ lực nhưng do còn hạn chế về khả năng, kinh nghiệm làm việc cũng như những trải nghiệm thực tế nên luận văn chắc chắn còn tồn tại những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp quý báu từ thầy cô, những nhà chuyên môn và cá nhân quan tâm tới đề tài luận văn này

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Quyết Toàn bộ số liệu và thông tin được nêu ra đảm bảo tính xác thực, những phần kiến thức tham khảo đều được trích nguồn một cách đầy đủ Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những cam đoan trên đây

Hà Nội, ngày tháng năm 2015 Học viên

Hồ Yến Dương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài: 6

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 9

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 14

3.1 Đối tượng nghiện cứu: 14

3.2 Khách thể nghiên cứu: 15

4 Ý nghĩa của nghiên cứu: 15

4.1 Ý nghĩa khoa học: 15

4.2 Ý nghĩa thực tiễn: 15

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 16

5.1 Mục đích nghiên cứu: 16

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 16

6 Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết nghiên cứu: 16

6.1 Câu hỏi nghiên cứu: 16

6.2 Giả thuyết nghiên cứu: 16

7 Phương pháp nghiên cứu: 17

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu: 17

7.2 Phương pháp quan sát: 18

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: 18

Trang 5

8 Phạm vi nghiên cứu: 20

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY: 21

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu: 21

1.1.1 Lý thuyết “Hệ thống”: 21

1.1.2 Lý thuyết Gắn bó Bowlby: 23

1.1.3 Lý thuyết Nhu cầu: 25

1.2 Các khái niệm công cụ: 27

1.2.1 Nhận thức: 28

1.2.2 Nhu cầu: 29

1.2.3 Ma tuý: 30

1.2.4 Người nghiện ma tuý: 32

1.2.5 Cai nghiện ma tuý: 34

1.2.6 Công tác xã hội: 36

1.2.7 Mô hình CTXH: 38

1.2.8 Mô hình CTXH đối với gia đình có người cai nghiện ma túy: 39

1.2.9 Gia đình: 40

1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu: 41

1.3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu: 42

1.3.2 Tình hình thực hiện chương trình phòng, chống ma túy tại địa phương trong đó có sự tham gia của các gia đình có người nghiện ma túy: 42

1.4 Vai trò, trách nhiệm của gia đình với người cai nghiện ma túy: 43

Trang 6

1.5 Vai trò và nhiệm vụ của CTXH đối với gia đình có người đang cai nghiện ma túy:

46

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, HƯỚNG CAN THIỆP VÀ NHU CẦU CỦA CÁC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI THÂN ĐANG CAI NGHIỆN MA TUÝ 48

2.1 Thực trạng nhận thức về cai nghiện ma túy của các gia đình có con đang tham gia cai nghiện ma túy tại địa bàn thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ: 48

2.1.1 Thực trạng nhận thức của các gia đình về cai nghiện ma túy: 48

2.1.2 Nhận thức về vai trò của các gia đình trong cai nghiện ma túy: 55

2.2 Hướng can thiệp của các gia đình đối với việc nghiện ma túy của người thân: 62

2.2.1 Hướng can thiệp của gia đình khi biết đối tượng bị nghiện ma túy: 62

2.2.2 Hướng can thiệp của gia đình trong quá trình đối tượng tham gia cai nghiện ma túy: 68

2.2.2.1 Giai đoạn đối tượng bắt đầu cai nghiện tại trung tâm: 68

2.2.2.2 Giai đoạn sau cai nghiện tại trung tầm lần đầu: 71

2.3 Nhu cầu của các gia đình đối với việc cai nghiện ma tuý của người thân: 79

2.3.1.Giai đoạn trước khi cai nghiện ma tuý: 79

2.3.2.Giai đoạn trong khi cai nghiện ma tuý: 81

2.3.3.Giai đoạn sau khi cai nghiện ma tuý: 82

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CAN THIỆP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TUÝ: 86

3.1 Đề xuất mô hình CTXH với gia đình có người cai nghiện: 86

3.1.1 Mô hình Nâng cao nhận thức: 86

3.1.2 Mô hình trị liệu nhận thức: 92

Trang 7

3.2 Lựa chọn mô hình phù hợp nhất với gia đình có người CNMT: 96

3.2.1 Đối với gia đình có người CNMT: 97

3.2.2 Đối với cộng đồng nơi gia đình sinh sống (thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ): 98

3.3 Vai trò của nhân viên CTXH trong mô hình CTXH với gia đình có người cai nghiện ma túy : 99

3.3.1.Vai trò kết nối nguồn lực: 99

3.3.2.Vai trò Điều phối: 103

3.3.3.Vai trò là người giáo dục, nâng cao nhận thức: 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 112

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

LĐ-TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội

NCADD Hội đồng liên hợp Quốc gia về nghiện rượu và nghiện ma túy NVCTXH Nhân viên Công tác xã hội

PSD Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ tâm lý cho người nghiện ma túy

WHO Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Ma túy – không chỉ hủy hoại con người mà cả gia đình, xã hội, cộng đồng, làm băng hoại giá trị đạo đức và ngọn nguồn của những vấn đề xã hội khác Nghiêm trọng hơn nữa, ma túy chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới căn bệnh HIV/AIDS Hiện nay, số người nghiện ma túy đang gia tăng theo chiều hướng tiêu cực: Theo số liệu báo cáo của các địa phương trên cả nước, tính tới cuối tháng 6 năm 2011 cả nước

có 149.900 người nghiện ma túy So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm Người nghiện

ma túy đã có ở 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước (1) Theo báo cáo của ngành Công an (Hội nghị tổng kết của Ủy ban Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội ma tuy và mại dâm, tổ chức tại Hải Phòng, tháng 3/2012), cả nước có 140.000 người sử dụng ma túy đang được quản lý Mỗi năm tăng thêm khoảng 7.000 - 8.000 người sử dụng ma túy Với mức tăng như vậy, đến năm 2015 cả nước có khoảng 160.000 người sử dụng

ma túy.Với phương thức ước tính trung bình , hiện tại cả nước có

khoảng 210.000 người sử dụng ma túy, và 240.000 người vào năm 2015 Theo số liệu

thống kê của các địa phương, tới cuối tháng 6 năm 2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma túy So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần

so với mắc tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm Loại hình ma túy được sử dụng cũng đa dạng, phong phú Chính điều này là cản trở không hề nhỏ đối với chính quyền

và cộng đồng trong việc ngăn chặn ma túy phát triển Để có thể cai nghiện thành công không chỉ phụ thuộc vào phương pháp cai nghiện, trung tâm cai nghiện, bản thân người

bị nghiện mà nó còn được đánh giá và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác – trong

đó không thể không nhắc đến gia đình người cai nghiện Gia đình là tế bào của xã hội,

(1)

Theo số liệu báo cáo số 69/BC – LĐTBXH ngày 08/09/2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về Công

Trang 10

nó cũng là một xã hội – văn hóa thu nhỏ Gia đình cũng là nơi chứng kiến từng bước trưởng thành của mỗi con người Không thể phủ nhận tầm quan trọng của gia đình đối với mỗi một cá nhân Tuy nhiên, với những gia đình có vấn đề xã hội lại khác Đại đa

số những gia đình khi có con dính vào những tệ nạn xã hội đều là do thiếu sự quan tâm

từ phía cha mẹ; cha mẹ chưa được trang bị những kỹ năng, kiến thức cần thiết để truyền tải cho các con Đây cũng là một lỗ hổng lớn đối với xã hội Bên cạnh đó, với những người nghiện ma túy, khi vào trung tâm cai nghiện, phải thực hiện nghiêm ngặt nội quy, quy chế trung tâm, trở về cộng đồng lại đón nhận sự kỳ thị của xã hội xung quanh; nếu không có gia đình ở bên và hỗ trợ, họ sẽ dễ tái nghiện trở lại khi bị cám dỗ

Theo khảo sát được công bố gần đây của là PSD thì hơn 90% người nghiện khi được

trở về với cộng đồng đều tái nghiện Điều này cho thấy một thực trạng rằng: đối với những người nghiện, việc được điều trị bằng thuốc cũng như chương trình khác là chưa

đủ, mà nó cần có sự phối hợp từ nhiều hoạt động khác nhau như: công tác xã hội nhóm,

tư vấn cá nhân – gia đình – nhóm, trị liệu tâm lý cho cá nhân người nghiện, trị liệu tâm

lý cho gia đình người nghiện…Tuy nhiên, các trung tâm cai nghiện hiện nay mới chỉ tập trung vào đối tượng cai nghiện, sự liên hệ giữa các trung tâm và gia đình chỉ dừng lại ở mức thông báo tình hình, diễn biến của người cai nghiện Bắt đầu từ năm 2012,

mô hình cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng cũng đang được triển khai thí điểm trên một số tỉnh thành trong nước, tuy nhiên kết quả nhận được không hề khả quan Bởi lẽ, hiện nay chúng ta chỉ tập trung vào đối tượng cai nghiện Đưa họ trở về cộng đồng nhưng lại không có sự chuẩn bị dành cho gia đình, cộng đồng những kỹ năng, kiến thức cần thiết về cai nghiện ma túy cũng như có sự hỗ trợ về tâm lý để họ đối phó với đối tượng khi lên cơn nghiện Đây chính là một trong những thiếu sót lớn khiến mô hình cai nghiện không đạt hiệu quả như mong muốn

Ngành Công tác xã hội đã bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người Ngành Công tác xã hội trên thế giới đã được biết đến từ đầu thế kỷ XX để giải quyết những vấn đề của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa của các nước phương Tây

Trang 11

Đến giai đoạn cách mạng công nghiệp, hoạt động Công tác xã hội trở nên rất cần thiết

và đã có tổ chức khá chặt chẽ Gần đây, các hoạt động Công tác xã hội đã có sự tham gia chặt chẽ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ ILO đã đưa Công tác xã hội vào nội dung của bảo đảm xã hội Sau khoảng 100 năm phát triển, ngành Công tác

xã hội hiện tại đóng vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội của các nước phát triển Vị thế của Nghề Công tác xã hội, cũng như của các cán bộ xã hội trong các xã hội phát triển là hết sức quan trọng đối với xã hội, gia đình và từng cá nhân Cán bộ xã hội có mặt ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống của người dân từ giáo dục, y tế đến tư pháp, hành pháp nhằm đảm bảo quyền lợi cho các công dân Sau một quá trình xuất hiện, hình thành và phát triển, đến năm 2010, Thủ tướng chính phủ

đã phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 (đề án 32) Nghề Công tác xã hội cũng đã có mã ngạch, chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch viên chức Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho việc phát triển nghề công tác xã hội thành một nghề chuyên nghiệp tại Việt Nam Lĩnh vực hoạt động của công tác xã hội cũng được mở rộng theo nhu cầu của xã hội, các đối tượng vì thế cũng đa dạng, phong phú hơn rất nhiều Một trong những lĩnh vực mà công tác xã hội có thể can thiệp là hỗ trợ trong các mô hình cai nghiện ma túy hiện nay Bên cạnh việc tiến hành cai nghiện

ma túy bằng thuốc, các trung tâm đang kết hợp với nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất, trong đó có phương pháp trị liệu tham vấn Ngoài ra, công tác

xã hội với người nghiện ma túy không chỉ dừng lại ở chính những đối tượng đang tham gia cai nghiện ma túy mà nhân viên công tác xã hội còn làm viêc với cộng đồng, gia đình người nghiện nhằm hỗ trợ về mặt tâm lý và những kỹ năng ứng phó đối với vấn

đề nghiện ma túy

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài “Mô hình Công tác

xã hội với gia đình có người cai nghiện ma túy tại địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

Trang 12

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

“How Social worker helps families of addicts” (Cách thức nhân viên công tác

xã hội trợ giúp gia đình người nghiện ma túy): Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân viên

công tác xã hội có thể tiến hành tham vấn đối với người nghiện Khi một người nghiện tìm đến nhân viên công tác xã hội nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ, đây chính là bước tiến tích cực trong tiến trình phục hồi của chính họ Nhân viên xã hội sử dụng những câu hỏi nhằm tìm hiểu sâu hơn về người nghiện, từ đó sử dụng hình thức công tác xã hội cá nhân hoặc nhóm, đồng thời cung cấp những giáo dục về căn bệnh cũng như những tác hại đối với thân chủ nếu tiếp tục sử dụng những chất gây nghiện (rượu, ma túy…) Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tham vấn gia đình là một phần quan trọng của bất cứ chương trình điều trị về lạm dụng chất gây nghiện Nó cung cấp sự giáo dục và hỗ trợ

để các thành viên trong gia đình hiểu được chu kỳ nghiện và phòng tránh bị nghiện/lệ thuộc vào nó Nhân viên xã hội đề nghị những người thân trong gia đình cần phải tách cảm xúc yêu thương bởi vì người nghiện cần phải chịu trách nhiệm với các vấn đề cũng như việc phục hồi của họ Chương trình 12 bước hỗ trợ cho gia đình, Al-Anon, cung cấp trợ giúp cho những ai có quan hệ tình cảm hoặc đang sống với một người bị nghiện

Theo kết quả nghiên cứu của Dishion, Reid và Patterson (1988) đã chỉ ra rằng

sự can thiệp tích cực của gia đình nên hướng tới mục tiêu theo dõi cha mẹ, mối quan hệ bạn bè, việc sử dụng ma túy của bố mẹ, những kỹ năng xã hội và hành vi chống đối xã hội Cha mẹ và những can thiệp đồng đẳng là phương pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa

sử dụng ma túy quá sớm ở trẻ vị thành niên

Từ những nghiên cứu của tổ chức NCCADD đã chỉ ra mối liên hệ giữa gia đình với đối tượng sử dụng ma tuý như sau: các bậc phụ huynh (đơn thân hoặc có đầy đủ, đồng tính hoặc giới tính bình thường, giàu hoặc nghèo ) thì việc con mình sử dụng chất gây nghiện cũng phá hoại mối quan hệ trong chính gia đình đó Để trợ giúp và phục hồi, không chỉ cá nhân mà cả gia đình cũng cần cố gắng nhằm hỗ trợ lẫn nhau

Trang 13

Những việc mà gia đình có thể làm để giúp đỡ cho đối tượng sử dụng chất gây nghiện bao gồm:

- Tìm hiểu về rượu, ma tuý, chất kích thích và những chất gây nghiện: Khả năng của chúng ta khi đối mặt với khó khăn là một chức năng phụ thuộc vào những kiến thức mà chúng ta hiểu biết về vấn đề này để chống lại chúng Mặc dù bạn đang phải sống cùng với tệ nạn ma túy và chất kích thích trong một thời gian dài, nhưng việc tìm hiểu kiến thức về rượu và ma túy là bước đầu tiên trong tiến trình trị liệu Bạn không thể chỉ dựa vào những cảm xúc bình thường hoặc những phản ứng phổ biến (phàn nàn, hành động như những người bị mất kiểm soát, xa lánh đối tượng) Tìm hiểu những điều liên quan đến rượu, ma túy và chất kích thích ảnh hưởng đến cá nhân và gia đình như thế nào là một việc làm vô cùng cần thiết

- Tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ cho chính gia đình: nghiện ma túy và sử dụng chất kích thích là căn bệnh của gia đình và nó ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong hệ thống gia đình Không chỉ những người sử dụng chất kích thích cần hỗ trợ mà thậm chí những thành viên trong gia đình cũng cần được hỗ trợ, điều mà thậm chí chính gia đình không hề nhận thức được khi phát hiện hành vi sử dụng ma túy của đối tượng Các thành viên trong gia đình cần được hỗ trợ nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng để tìm ra cách thức hiệu quả và đảm bảo sức khỏe khi tiếp xúc với đối tượng nghiện ma túy để tạo ra sự miễn nhiễm đối với ma túy và chất kích thích

- Tìm hiểu về những điều họ có thể làm để giúp đỡ người nghiện ma tuý: bao gồm chương trình trị liệu, tham vấn, nhóm hỗ trợ để tìm kiếm sự giúp đỡ Không chỉ những người sử dụng chất ma tuý và chất gây nghiện mới cần sự giúp đỡ này mà chính gia đình có thể tạo điều kiện để đưa ra những quyết định có tính tích cực hơn Tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ cũng đồng nghĩa với việc khuyến khích đối tượng trong việc trị liệu cũng như trong việc tự lập

- Nếu cần thiết, có sự can thiệp đối với các thành viên trong gia đình: Nếu một vài thành viên trong gia đình không quan tâm đến vấn đề cai nghiện ma túy hoặc không

Trang 14

sẵn sàng hợp tác giúp đỡ đối tượng, có thể xem như đây là kế hoạch trợ giúp, tiến trình can thiệp có định hướng một cách chuyên nghiệp Can thiệp trong gia đình, với sự hỗ trợ từ những chuyên gia, nhân viên được đào tạo là một công cụ hiệu quả cho gia đình trong việc nhận sự giáo dục, hướng dẫn và hỗ trợ với những đối tượng không hợp tác trong tiến trình điều trị cai nghiện ma túy

- Thật kiên nhẫn với tiến trình phục hồi: Cũng như những căn bệnh khác, mọi người cần có thời gian để phục hồi và ổn định sức khoẻ Cá nhân lẫn những người thân trong gia đình đều cần được trị liệu

- Có niềm tin vào sự phục hồi lâu dài: Trong khi những người sử dụng chất kích thích và nghiện ma túy không có những hiểu biết về phương thức điều trị, việc sử dụng chất kích thích có thể dừng lại ngay khi một cá nhân tự kiềm chế rượu và các chất gây nghiện khác.[34]

Nghiên cứu của tổ chức NCADD về ảnh hưởng của ma túy đến gia đình cũng nhấn mạnh: một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phục hồi ở gia đình chính

là niềm tin vào việc mọi thứ sẽ trở về bình thường và ổn định Nếu như họ có thể thay đổi tình thương của họ đối với người bị nghiện (sử dụng chất kích thích), mọi chuyện

sẽ trở nên bình thường

Việc hỗ trợ nâng cao hiểu biết của các gia đình chỉ thực sự hiệu quả khi chính đối tượng cũng phải có trách nhiệm với tiến trình phục hồi của mình Toàn bộ gia đình cũng cần phải tham gia, bao gồm cả trẻ em Khi trong gia đình có người sử dụng chất kích thích và bị nghiện, các mối quan hệ trong gia đình khi đó trở nên căng thẳng và mọi người luôn trong trạng thái lo lắng, mất niềm tin, mệt mỏi và mất hết hy vọng Bởi

vì hành vi sử dụng ma túy của một thành viên trong gia đình làm ảnh hưởng đến toàn

bộ gia đình đó, vì vậy, cần có một giải pháp hiệu quả được đưa ra nhằm phục hồi lại toàn bộ gia đình.[33]

Theo báo cáo nghiên cứu của Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa (TP Hồ Chí Minh) thì việc tìm kiếm mô hình điều trị cho người nghiện ma

Trang 15

túy là rất khó khăn vì không có mô hình cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện Mô hình điều trị tốt cho người này cũng chưa chắc đã phù hợp với người kia Trừ một số ít trường hợp nghiện nhẹ, điều trị nghiện ma túy phải sử dụng một biện pháp tổng hợp, linh hoạt và kịp thời Việc điều trị cai nghiện cần phải sử dụng những liệu pháp sau: Tư vấn – Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp xã hội – Sinh hoạt cá nhân, nhóm, gia đình

Cũng tại trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa, đề tài nghiên cứu về “Các yếu

tố tác động và ảnh hưởng đến việc sử dụng ma túy” đã chỉ ra rằng: Gia đình đóng vai

trò quan trọng trong sự quyết định hay đề phòng việc sử dụng ma túy Việc sử dụng ma túy của thanh – thiếu niên cũng có thể là do thái độ phản ứng cách nhìn nhận – đối xử của cha mẹ mà đối tượng không đồng ý Có những loại hình gia đình ảnh hưởng đến hành vi nghiện ma túy của trẻ là: gia đình có người sử dụng ma túy và gia đình có cha

mẹ sử dụng ma túy…Ngoài ra cũng có rất nhiêu yếu tố thuộc về gia đình dẫn đến hành

vi nghiện ma túy của trẻ như: gia đình kinh tế khó khăn, gia đình không hòa thuận, gia đình có bố mẹ ly hôn, gia đình có hành hạ về thân thể và tình dục.[22]

Nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương về vấn đề “Quan hệ bạn bè của thanh

niên nghiện ma túy” (Tạp chí Tâm lý học số 3/2006) được tiến hành với 162 thanh

niên đang trong quá trình cai nghiện tại các trung tâm cai nghiện của thành phố Hà Nội nhằm tìm hiểu khía cạnh tâm lý trong mối quan hệ của nhóm thanh niên này với bạn

bè Họ thường cảm thấy gần gũi, tin tưởng với bạn bè nhiều hơn gia đình Đối với họ, bạn bè chính là niềm tin và chỗ dựa thực sự của họ Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở đây

là bạn bè của những thanh niên nghiện ma túy lại thường là những người cũng bị nghiện hoặc dính dáng đến các vấn đề xã hội Do đó, tỷ lệ các đối tượng cai nghiện khi trở về cộng đồng bị tái nghiện cũng tăng cao một phần là bởi nguyên nhân này.[7]

Nghiên cứu của Thượng tá Nguyễn Minh Đức về “Phòng, tránh vi phạm pháp

luật và tệ nạn ma túy trong lứa tuổi thanh, thiếu niên” đã chỉ ra: Các kết quả điều tra

xã hội học tại một số nước cho thấy nguyên nhân khiến thanh, thiếu niên dễ bị lôi kéo

Trang 16

bởi các chất gây nghiện là do môi trường sống, sự tò mò, khao khát thể hiện và khuynh hướng nổi loạn ở tuổi trẻ Ở các nước đang phát triển thì hành động trên được xem như một phản ứng đối với sự bất toàn của cơ chế xã hội Còn ở Việt Nam, khi nghiên cứu

về thân nhân của một số đối tượng lạm dụng chất gây nghiện dưới những hình thức khác nhau cho thấy, nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm dụng chất gây nghiện nói trên

là do sự buồn chán, áp lực học hành và tò mò Nguyên nhân chính dẫn đến sự buồn chán được đánh giá là do thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình.[4]

Nghiên cứu về “Công tác xã hội với phòng, chống ma túy ở Việt Nam” của

Nguyễn Thanh Bình (đăng trên báo Dân số và Phát triển số 5- 13 năm 2012) cho rằng gia đình là một trong 3 nguyên nhân chính dẫn đến việc nghiện ma túy của người nghiện Chính bởi sự thay đổi trong cấu trúc gia đình cũng như sự tan rã trong các gia đình cao; sự giáo dục buông lỏng do cha mẹ bị cuốn hút vào các hoạt động kinh tế…đã dẫn đến tâm lý chán nản trong cuộc sống dẫn đến con đường nghiện ma túy của một số đối tượng Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào công tác xã hội cá nhân đối với chính đối tượng cai nghiện ma túy theo 3 bước chính: tiếp cận đối tượng; lập kế hoạch trợ giúp đối tượng; giúp đối tượng cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng.[1]

“Tư vấn trong thực hành điều trị lạm dụng ma túy” (2008) - Ngô Thanh Hồi (Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương) - Tài liệu được sử dụng trong

tập huấn điều trị duy trì Methadone trong tư vấn điều trị lạm dụng ma túy tại Hà Nội Trong tài liệu, tác giả có đưa ra những định hướng tư vấn một số tình huống chính cũng như đối tượng cần tư vấn:

- Những định hướng tư vấn bao gồm tư vấn về chuẩn đoán Trong đó có các tư vấn

về biểu hiện lâm sàng của lạm dụng ma túy; Tư vấn về việc sử dụng các xét nghiệm;

Tư vấn chọn phương pháp điều trị; Tư vấn trong quá trình theo dõi điều trị lâu dài; Tư vấn các rối loạn về tâm lý xã hội – tư vấn phòng, chống

Trang 17

- Đối tượng của tư vấn trong lĩnh vực này là người nghiện ma túy và thân nhân của người nghiện, có khi là những người có trách nhiệm trong cộng đồng Có thể nói số người cần được tư vấn về phòng chữa lạm dụng mà túy là không hề nhỏ

Hình thức tư vấn trong điều trị được cho là vô cùng quan trọng, tuy nhiên đội ngũ về tư vấn được đào tạo chuyên nghiệp và bài bản hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế

về cả số lượng lẫn kỹ năng làm việc [18]

 Có thể nhận thấy, những tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài đã có sự tìm hiểu và nhấn mạnh vào vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ đối tượng cai nghiện ma túy thành công Vai trò của gia đình được nhấn mạnh ngang bằng với vai trò của chính đối tượng Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu chỉ ra vẫn còn sơ sài, chưa thực sự đề cập đến khía cạnh gia đình trong việc cai nghiện ma tuý thành công tại gia đình, cộng đồng cũng như phối hợp với trung tâm cai nghiện ma tuý

Mặc dù đã có những nhận định, kết quả báo cáo nhấn mạnh đến ảnh hưởng của gia đình đến nguyên nhân gây nghiện ma túy cũng như có những mô hình cai nghiện

ma túy có nhắc đến việc kết hợp với gia đình nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế Chưa có cách tiếp cận đối với gia đình có người cai nghiện theo hướng công tác xã hội hoàn toàn Đã có một vài công trình có nhắc đến gia đình của người nghiện nhưng chỉ khai thác về khía cạnh hỗ trợ tâm lý cho gia đình khi phát hiện con/người thân bị nghiện ma túy CTXH là một ngành tương đối mới mẻ tại Việt Nam Những nghiên cứu được thực hiện chuyên ngành về CTXH vẫn còn nặng về lý thuyết, thiên về mảng

xã hội học nhiều hơn Các phương pháp CTXH được sử dụng trong nghiên cứu cũng còn nhiều hạn chế

Vì vậy, việc thực hiện một nghiên cứu về các gia đình có con đang tham gia cai nghiện và đề xuất mô hình can thiệp đến các gia đình nhằm hỗ trợ việc cai nghiện thành công dựa trên gia đình là một điều thực sự cần thiết và mới mẻ

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiện cứu:

Trang 18

Mô hình công tác xã hội gia đình đối với gia đình có người cai nghiện (tập

trung vào nhóm đối tượng là cha mẹ người cai nghiện)

đó thấy được tính ứng dụng cao của những lý thuyết đó

- Gợi ra cách tiếp cận mới đối với công tác xã hội với người nghiện ma túy, từ

đó đề ra mô hình can thiệp với gia đình người nghiện nhằm hạn chế tỷ lệ người nghiện tái nghiện cũng như tỷ lệ bị nghiện có nguyên nhân từ phía gia đình

- Đối với ngành Công tác xã hội, nghiên cứu còn là dịp nhằm kết hợp giữa các

kỹ thuật công tác xã hội và các kỹ năng công tác xã hội trong thực hành Từ đó, chứng

tỏ sự mật thiết giữa lý thuyết thu nhận được và áp dụng thực tiễn

4.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Từ những đề xuất can thiệp đối với gia đình có người cai nghiện theo định hướng Công tác xã hội, các ban ngành – đoàn thể, trung tâm liên quan có thể sử dụng kết quả nghiên cứu nhằm ứng dụng mô hình can thiệp trị liệu nhằm đạt được hiệu quả

cai nghiện cũng như hạn chế tỷ lệ tái nghiện khi hòa nhập cộng đồng

- Đối với gia đình có người cai nghiện: nghiên cứu giúp họ thay đổi nhận thức,

có sự phối hợp chặt chẽ với các trung tâm cai nghiện, chính quyền nhằm hỗ trợ người thân trong gia đình tái hòa nhập cộng đồng Ngoài ra, cũng cung cấp cho họ những kỹ năng cần thiết khi làm việc với đói tượng CNMT tại gia đình và cộng đồng

- Đối với bản thân học viên: kết quả của nghiên cứu là minh chứng cho quá trình học tập, lĩnh hội kiến thức xuyên suốt từ đại học đến bậc sau đại học Nó còn là

Trang 19

dịp để học viên ứng dụng những điều mình được học vào thực tế, được làm những việc giúp ích cho xã hội

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất mô hình can thiệp CTXH phù hợp nhất đối với gia đình có đối tượng cai nghiện ma túy tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ dựa trên đặc điểm nhận thức, hướng can thiệp cũng như những nhu cầu về trợ giúp của chính các gia đình đối với con em đang cai nghiện ma túy theo hính thức cai nghiện tại trung tâm và cai nghiện ma túy sử dụng thuốc thay thể Methadone

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Thu thập thông tin, phân tích, tìm hiểu về tình trạng, hoàn cảnh của các gia đình có người cai nghiện ma tuý

- Đánh giá sự ảnh hưởng của mối quan hệ các thành viên trong gia đình, định hướng gia đình đến hành vi – nhận thức của người cai nghiện khi rời trung tâm

- Đánh giá mức độ nhận thức, nhu cầu của các gia đình với vấn đề cai nghiện

ma túy cho đối tượng

- Xây dựng mô hình CTXH gia đình đối với gia đình có người cai nghiện

6 Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết nghiên cứu:

6.1 Câu hỏi nghiên cứu:

- Nhận thức và can thiệp của gia đình đối với những người đang cai nghiện tại trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ hiện nay như thế nào?

- Nhu cầu của các gia đình đối với việc can thiệp, trợ giúp con em họ trong quá trình cai nghiện ma túy như thế nào?

- Mô hình CTXH nào phù hợp với họ?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu:

- Nhận thức của các gia đình về cai nghiện ma tuý hiện nay vẫn bị ảnh hưởng bởi yếu tố cộng đồng Họ có hiểu biết sơ sài và không hình thành nhu cầu tìm hiểu các

Trang 20

thông tin về cai nghiện ma tuý Hướng can thiệp khi biết con mình bị nghiện ma tuý của các gia đình chỉ dừng lại ở việc đưa con vào trung tâm cai nghiện, sau đó giao phó trách nhiệm cho các cán bộ trung tâm quản lý và giám sát việc cai nghiện ma tuý của đối tượng

- Nhu cầu của gia đình chỉ hình thành khi việc cai nghiện ma tuý cho đối tượng tại trung tâm cai nghiện không thành công nhiều lần Nhu cầu chính của họ chỉ tập trung vào việc được cung cấp những kiến thức về cai nghiện ma tuý cũng như kỹ năng khi làm việc với đối tượng tại gia đình

- Do các gia đình còn thiếu hiểu biết về cai nghiện ma tuý nên mô hình nâng cao nhận thức cho các gia đình sẽ mang tính hiệu quả cao khi đưa vào thực tế

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu:

Nghiên cứu này sử dụng các nguồn tài liệu khác nhau, các sách về nghiện ma túy, gia đình, cai nghiện ma túy…Các bài viết đăng trên tạp chí xã hội, Internet đề cập đến vai trò của gia đình với đối tượng bị nghiện ma túy cũng như phương pháp hỗ trợ gia đình Các tài liệu về Công tác xã hội, Trị liệu gia đình, bao gồm những tài liệu tiếng

Việt và tài liệu nước ngoài như “The essentials of Family therapy” – Michael P.Nichol

nhằm nghiên cứu về trị liệu gia đình, từ đó đưa ra mô hình CTXH hỗ trợ gia đình cụ thể

Mặt khác, đề tài cũng sử dụng những thành quả nghiên cứu của các đề tài đi trước về vấn đề ma túy Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng những tài liệu đề cập đến gia đình người nghiện ma túy hiện nay không nhiều, vẫn còn rất hạn chế Từ trước đến nay, mọi nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào người nghiện cũng như cách thức hỗ trợ

họ trong việc cai nghiện ma tuý mà không tìm hiểu khía cạnh gia đình cũng như đánh giá nhu cầu của gia đình để có sự hỗ trợ đối với họ

Bên cạnh đó, tiến hành nghiên cứu những thông tin về hồ sơ đối tượng, từ lý lịch gia đình đến quá trình đi cai nghiện Ngoài ra, thu thập từ nguồn thông tin xung

Trang 21

quanh gia đình để tìm hiểu lịch sử gia đình, những vấn đề liên quan đến việc nghiện ma tuý và quá trình cai nghiện ma tuý của đối tượng cũng như gia đình

7.2 Phương pháp quan sát:

- Mục đích quan sát:

Phương pháp quan sát sử dụng trong luận văn nhằm thu thập những thông tin có liên quan đến thái độ, hành vi, nhận thức của đại diện các hộ gia đình đến vấn đề cai nghiện ma túy của con cái

- Thời gian:

Việc quan sát được tiến hành thông qua những buổi phỏng vấn sâu diễn ra với đại diện gia đình người dân Cụ thể như sau:

- Các gia đình tại phường Phong Châu;

- Các gia đình tại phường Hùng Vương;

- Các gia đình tại phường Âu Cơ;

- Các gia đình ở phường Thanh Vinh;

- Các gia đình ở phường Trường Thịnh

- Nội dung quan sát:

+ Thái độ của đại diện hộ gia đình: nét mặt, cử chỉ, lời nói, cách thức khi trả lời phỏng vấn

+ Hoàn cảnh gia đình, môi trường sống xung quanh khi tiến hành phỏng vấn sâu đại diện hộ gia đình tại nơi sinh sống

Trong quá trình quan sát, các sự kiện, hiện tượng quan sát được đều được ghi chép lại Khi tiến hành phỏng vấn sâu, những hành vi của người được phỏng vấn cũng được ghi chép lại cẩn thận nhằm đánh gia các thông tin thu được, bổ trợ cho những thông tin thu được từ phương pháp khác

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Trang 22

Đây là phương pháp đặc thù để thu thập thông tin trong nghiên cứu Xã hội học Thông qua việc tác động tâm lý – xã hội trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Phỏng vấn sâu các đối tượng cụ thể như sau:

- Đại diện hộ gia đình có con đang tham gia cai nghiện ma túy: 1 người ở phường Phong Châu, 2 người ở phường Hùng Vương, 1 người ở phường Âu Cơ, 2 người ở phường Trường Thịnh

- Cán bộ quản lý tại trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ: 1 người

- Cán bộ công an quản lý địa bàn: 1 người

- Cán bộ lãnh đạo phòng LĐ – TB&XH thị xã Phú Thọ: 1 người

- Đối tượng CNMT: 2 đối tượng

Phỏng vấn sâu nhằm thu thập những thông tin cụ thể sau:

- Đối với đại diện hộ gia đình: những thông tin cơ bản về gia đình, thái độ của gia đình đối với đối tượng, hướng giải quyết của gia đình khi biết đối tượng bị nghiện ma túy, sự tương tác giữa gia đình với đối tượng, những hiểu biết của gia đình

về các chương trình cai nghiện ma túy hiện nay

- Đối với cán bộ quản lý tại trung tâm cai nghiện tỉnh: đánh giá mức độ tương tác giữa gia đình với đối tượng đang tham gia cai nghiện ma túy, vai trò của gia đình với đối tượng

- Đối với cán bộ công an quản lý địa bàn: tình hình các đối tượng cũng như gia đình có đối tượng bị nghiện ma túy trên địa bàn, việc tiến hành đưa đối tượng tham gia cai nghiện hiện nay, sự tương tác của gia đình với cơ quan chính quyền về vấn đề nghiện ma túy

- Đối với cán bộ phòng LĐ-TB&XH thị xã Phú Thọ: đánh giá việc lập hồ sơ đưa đối tượng đi cai nghiện hiện nay, sự hỗ trợ của gia đình trong việc đưa đối tượng đi cai nghiện ma túy, …

Trang 23

- Đối tượng CNMT: tìm hiểu quá trình đối tượng được đưa đi cai nghiện ma túy, vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ đối tượng, nhu cầu của chính đối tượng khi tham gia cai nghiện ma túy tại trung tâm và tại cộng đồng…

Bên cạnh đó, tiến hành tìm hiểu về đặc điểm, lịch sử gia đình, sự phát triển, nhu cầu của gia đình qua các giai đoạn khác nhau nhằm có những thông tin tổng quát nhất

8 Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian nghiên cứu: Các hộ gia đình có con đang tham gia cai nghiện ma túy trên địa bàn thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

- Thời gian nghiên cứu: 2014

- Vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thị xã Phú Thọ,

tỉnh Phú Thọ nên đề tài chỉ xem xét những gia đình có đối tượng cai nghiện ma túy theo cả hình thức cai nghiện tại trung tâm và theo phương pháp dùng thuốc thay thế Methadone tại địa phương

Trang 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI

VỚI GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY:

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu:

1.1.1 Lý thuyết “Hệ thống”:

Thuyết hệ thống ra đời từ năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig Von BertaLffy phát hiện Ông đưa ra quan điểm rằng tất cả cơ quan đều là các hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn, và là phần tử của những hệ thống lớn hơn [25] Từ một quan điểm trong ngành sinh học, ý tưởng về hệ thống đã có nhiều ảnh hưởng tới các ngành khoa học khác, không kể đến công tác xã hội Các quy tắc quan trọng được đưa ra trong thuyết hệ thống là:

(1) Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn và hệ thống lớn hơn

có ảnh hưởng đến những hệ thống nhỏ nằm trong nó

(2) Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống con Mọi hệ thống con đều có thể được chia thành những hệ thống khác nhỏ hơn Như vậy, mỗi hệ thống luôn bao gồm những hệ thống con, cho đến đơn vị nhỏ nhất là phần tử Mỗi

hệ thống con lại có những nguyên tắc riêng, cũng như biên giới và các đặc tính thống nhất Thành viên trong những hệ thống này có thể thay đổi theo thời gian

(3) Hệ thống có tính phụ thuộc Có 3 loại tính phụ thuộc được dùng để phân tích

hệ thống:

- Tính phụ thuộc trong hệ thống: Các phần tử trong cùng một hệ thống khôg bao giờ đứng riêng lẻ mà có quan hệ tương hỗ Một thay đổi của phần tử này sẽ ảnh hưởng tới các phần tử khác trong hệ thống

Trang 25

- Tính phụ thuộc giữa các hệ thống: Mọi hệ thống đều có sự tương tác giữa với những hệ thống khác Các hệ thống đều phải tìm kiếm sự cân bằng từ những hệ thống khác

- Tính phụ thuộc vào môi trường: Mọi hệ thống đều cần đầu vào (input) hay năng lượng từ môi trường bên ngoài để tồn tại

(4) Tổng thể có nhiều đặc tính hơn tổng cộng các đặc tính của tất cả các thành viên Sự tương tác giữa các phần tử trong hệ thống tạo ra những đặc tính mới cho tổng thể Những đặc tính mới này trước đó không thấy có ở bất cứ thành viên nào trong hệ thống

(5) Hệ thống có tính tương tác vòng Một thành viên tác động vào thành vên khác sẽ nhận được một sự phản hồi, sự phản hồi này lại tác động tới thanh viên ban đầu, và gây ra những phản ứng tiếp theo từ thành viên này Sự tác động ngược trở lại này được gọi là sự tương tác vòng trong hệ thống

Hệ thống đóng và hệ thống mở là một trong những khái niệm quan trọng trong ý tưởng về thuyết hệ thống Hệ thống đóng là hệ thống không có sự trao đổi với môi trường bên ngoài Ngược lại, hệ thống mở là hệ thống luôn luôn sẵn sàng lấy thông tin

từ bên ngoài vào trong hệ thống và đưa thông tin từ trong hệ thống ra ngoài môi trường Cả hệ thống đóng và hệ thống mở đều chịu tác động từ phía môi trường, tuy nhiên mức độ tác động phụ thuộc vào mức độ “mở” hay “đóng” của hệ thống

 Ứng dụng lý thuyết hệ thống sinh thái vào gia đình có người đang cai nghiện

ma túy:

- Lý thuyết hệ thống được nhân viên CTXH sử dụng như một công cụ trợ giúp nhân viên xã hội khi tiếp cận địa bàn phải có sự sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được, để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp

Trang 26

- Tránh thái độ lên án của gia đình đối với đối tượng bị nghiện ma túy Chính thái

độ lên án là một rào cản lớn với đối tượng trong quá trình cai nghiện ma túy Nó chỉ làm tăng mặc cảm tội lỗi về hành vi của chính mình

- Mỗi một gia đình có con là đối tượng nghiện ma túy thường tự khép mình thành

hệ thống đóng nhằm tránh sự phán xét của xã hội, cộng đồng Vì thế, cần có sự tác động vào các gia đình để họ thay đổi thái độ, nhận thức của mình về vấn đề nghiện – cai nghiện ma túy của đối tượng Đây là việc làm cần có sự thống nhất, kết hợp giữa các hệ thống trong cùng xã hội

- Mỗi một tiểu hệ thống nhỏ trong xã hội lại có những đặc trưng, điểm yếu và mạnh khác nhau Vì thế, nhân viên CTXH cần biết liên kết những tiểu hệ thống bao quanh gia đình người cai nghiện ma tuý nhằm tìm kiếm sự trợ giúp Đồng thời, tạo sự kết nối giữa những tiểu hệ thống để thành một khối thống nhất, cùng hướng đến mục đích chung là cai nghiện thành công cho đối tượng

- Nhân viên CTXH cần phải nghiên cứu địa bàn, những nguồn lực xung quanh gia đình có thể sử dụng, nguồn lực nào có thể tiếp cận, nguồn lực nào để hỗ trợ, điểm yếu, điểm mạnh của hệ thống để đưa ra phương án hành động phù hợp nhất

1.1.2 Lý thuyết Gắn bó Bowlby:

Học thuyết gắn bó xuất phát từ Bowlby(1982), ông là người quan tâm đến mặt tập tính học trên hành vi con người Bowlby cho rằng khi được đặt trong môi trường không có sự giúp đỡ, trẻ sơ sinh có khả năng đáp ứng cao để duy trì sự tiếp xúc gần gũi với người chăm sóc đầu đời, bằng cách gắn bó với người chăm sóc, trẻ nhỏ đảm bảo được an toàn, thức ăn và cuối cùng là sống còn Vì thế mục đích được xác định của gắn bó là để duy trì sự gần gũi với người chăm sóc Hành vi của trẻ được tổ chức xung quanh mục tiêu này và được thiết kế nhằm để làm gia tăng khả năng có thể xảy ra để mối quan hệ với người chăm sóc sẽ là một mối quan hệ khoẻ mạnh Hệ thống gắn bó được hoạt hoá bởi sự khó chịu dưới dạng các nhu cầu bên trong như là đói hay các yếu tố gây stress bên ngoài như sự nguy hiểm [29]

Trang 27

Thuyết gắn bó được phát triển từ những năm 1940 đến 1970 ở Anh để giải thích mối quan hệ giữa trẻ và người chăm sóc trẻ Lý thuyết này cho rằng, trẻ sẽ bị tổn thương về mặt tinh thần nếu trẻ không hình thành được những quan hệ gắn bó trong

môi trường gia đình hoặc những mối quan hệ gắn bó bị phá hủy [13, tr.122]

Các giai đoạn gắn bó:

Sự phát triển của gắn bó theo sau hàng loạt các giai đoạn có thể xác định được trong 3 năm đầu đời Trẻ sơ sinh định hướng được và đáp ứng với người khác Khoảng 2 tuần tuổi, trẻ ưa thích giọng nói của con người hơn những âm thanh khác, khoảng 4 tuần tuổi trẻ thích giọng nói của mẹ hơn giọng nói của người khác Vào tháng thứ 2, giao tiếp mắt được thiết lập và tiền tố của gắn bó được thấy khi trẻ hướng về phía người chăm sóc và báo hiệu các nhu cầu của trẻ Trong giai đoạn kế tiếp, từ 3-6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu biểu lộ và gợi lên sự vui thích trong tương tác con người thông qua nụ cười xã hội ( Social smile) Trong thực tế, người lớn thực hiện nhiều trò khôi hài để gợi lên nụ cười như thế, điều này cho thấy hành vi này có giá trị và đáp ứng như thế nào trong cuộc sống, nó đảm bảo không chỉ một sự gắn bó khoẻ mạnh hình thành

mà còn là sự tương tác qua lại Giữa 6-9 tháng, trẻ gia tăng khả năng phân biệt được người chăm sóc trẻ và những người lớn khác và dành phần thưởng cho người đặc biệt này bằng “nụ cười ưu ái” Cả hai vấn đề lo âu chia cách (Separation anxiety) và lo âu người lạ ( Stranger anxiety) là tín hiệu cho thấy rằng trẻ có ý thức rằng người chăm sóc trẻ có một chức năng và giá trị độc nhất Từ 12-24 tháng tuổi, bò và bước đi cho phép trẻ điều chỉnh được sự gần gũi hoặc khoảng cách xa đối với người chăm sóc Tìm kiếm gần gũi (Proximity-seeking), cũng được xem như là hành vi có nền tảng an toàn, lúc đó trẻ quay về phía người chăm sóc để được thoải mái, trợ giúp, và đơn giản là để “ nạp thêm năng lượng cảm xúc” Khoảng 3 tuổi, mục tiêu của gắn bó được mở rộng ra ngoài sự an toàn và dễ chịu của trẻ và trở nên có tính qua lại hơn Trong những năm tuổi mẫu giáo, gắn bó được hướng về phía thành lập một mối liên hệ đối tác có hướng

Trang 28

đến mục tiêu, trong sự cộng tác này nhu cầu và cảm xúc của cả hai bên tham gia vào mối liên hệ được xem xét đến

Lý thuyết Gắn bó được áp dụng để điều trị lâm sàng bằng cách liên kết biểu hiện triệu chứng sợ hãi và tức giận đến rối loạn trọng các mối quan hệ gắn bọ Cha mẹ có thể được hỗ trợ để hiểu một số hành vi phá phách của con mình như xuất phát từ sự lo lắng của trẻ nhỏ về sự đáp ứng cũng như tính sẵn có của cha mẹ Các cặp vợ chồng có thể được giúp đỡ để hiểu những nỗi sợ hãi gắn bó và những tổn thương đằng sau sự tức giận và phòng thủ của con mình (Gottman, 1994)

Học thuyết Gắn bó có thể hỗ trợ nhân viên CTXH có thể xác định mối tương tác tích cực giữa đối tượng cai nghiện ma tuý với thành viên trong gia đình Đó là tình cảm yêu thương, gắn bó và không muốn làm tổn thương nhau giữa đối tượng và một thành viên nào đó Mối tương tác này cũng ảnh hưởng nhất định đến hành vi lúc nhỏ cũng như sau khi sử dụng ma tuý của đối tượng Từ đó, có thể tìm ra phương thức hỗ trợ tâm

lý đến đối tượng trong suốt tiến trình cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng Có nhiều minh chứng trong các nghiên cứu cho thấy rằng một lịch sử duy trì việc chăm sóc liên tục có thể dẫn đến kết quả không hay trong tuổi trưởng thành (Collin, 2001) [31]

1.1.3 Lý thuyết Nhu cầu:

Abraham Maslow chia nhu cầu của con người ra thành năm thang bậc, từ thấp đến cao và được biểu diễn bằng hình kim tự tháp

Trang 29

Dựa trên các thang nhu cầu này, Weltner (1985,1986) đề ra bốn tầng nhu cầu của gia đình, tương tự như cấu trúc của một ngôi nhà, cùng các phương pháp tiếp cận tham vấn.[24, tr.148]

Tầng một (nền móng): gồm những nhu cầu vật chất căn bản cần thiết cho sự sống còn của gia đình như nhà ở, thực phẩm, an toàn, y tế, sự thương yêu chăm sóc đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình Hoạt động CTXH với những gia đình này là tìm kiếm, kết nối và khai thác những nguồn lực trong gia đình và đặc biệt

từ hệ thống dịch vụ xã hội bên ngoài nhằm đảm bảo ASXH tối thiểu cho gia đình

Tầng hai (khung và mái nhà): gia đình ở tầng này được thoả mãn thích đáng những nhu cầu cơ bản liên quan đến sinh tồn, tuy nhiên cấu trúc không vững chắc, thẩm quyền không được phân chia và quy định rõ rệt, cha mẹ bất hoà hoặc không biết phối hợp hành động để hỗ trợ lẫn nhau, thiếu khả năng dạy dỗ con cái Phương pháp hỗ trợ các gia đình tại tầng nhu cầu này là tập trung vào giúp đỡ gia đình củng cố và phát triển các mối liên hệ giữa những người có trách nhiệm trong gia đình và tái lập cấu trúc

Trang 30

gia đình (Weltner, 1996, Munichin, 1974, Hartman và Laird, 1983) Các tác giả này cũng cho rằng học tập xã hội và áp dụng các kỹ thuật ứng xử sẽ tạo ra quyền lực và lấy lại đúng vai trò và vị thế cho các thành viên trong gia đình Vì thế, có thể giúp gia đình trở lại đúng định dạng thông thường

Tầng ba (không gian và ranh giới): gia đình ở tầng này được thoả mãn những nhu cầu vật chất cơ bản liên quan đên sinh tồn, có tổ chức, kỷ luật trên dưới Với những gia đình này, việc can thiệp sẽ khó khăn hơn vì nhân viên xã hội phải đối phó với những cản trở từ gia đình muốn duy trì trạng thái giữ nguyên phong cách ứng xử hiện hành Bên cạnh đó, nhân viên xã hội có thể xem xét việc giao tiếp và cấu trúc quyền lực xung quanh vấn đề được thành viên gia đình quan tâm NVXH cần tạo ra sự khác biệt và cá tính hoá các thành viên gia đình với nhau, cũng như xác định hệ thống tình cảm, sự linh hoạt và ranh giới rõ ràng giữa các thế hệ là vấn đề cần thiết

Tầng bốn (nội thất và trang trí): gia đình ở tầng bốn có đầy đủ mọi thứ trừ hạnh phúc Con người sống trong đó vẫn thấy thiếu sót một cái gì đó: sự bình yên, cảm giác được yêu thương một cách nồng nàn, cảm giác muốn được thừa nhận, muốn được tôn trọng một cách thích đáng, muốn được vươn tới cái tôi cao nhất Khi làm việc với các gia đình này, NVXH cần phân tích mở rộng các thế hệ khác nhau trong gia đình nhằm tìm kiếm các khuôn mẫu ứng xử truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác của gia đình vào việc can thiệp giúp đỡ.[11, tr.313]

Mỗi một gia đình khác nhau lại có điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình khác nhau Việc này dẫn đến các nhu cầu của gia đình là không đồng đều Có thể có những gia đình kinh tế đầy đủ, nhưng nhu cầu về tầng hai (hạnh phúc) của họ còn hạn chế Hoặc cũng có những gia đình luôn luôn hạnh phúc nhưng họ lại gặp khó khăn trong kinh tế Bằng việc xác định nhu cầu gia đình có người cai nghiện ma tuý sẽ tạo dựng cơ

sở cho việc đề xuất mô hình cai nghiện ma tuý cho phù hợp với các gia đình cũng như đối với cộng đồng, mang tính hiệu quả cao

1.2 Các khái niệm công cụ:

Trang 31

1.2.1 Nhận thức:

Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nét cơ bản của

sự vật hiện tượng (Ví dụ con người gò đá thấy lửa)

Cứ như vậy, nhận thức của con người ngày càng được mở rộng

Theo Từ điển Tiếng việt, nhận thức là kết quả của quá trình phản ánh và tái hiện

hiện thực vào trong tư duy, kết quả là con người nhận biết, hiểu biết được thế giới khách quan.[23, tr.917]

Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy

của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan

Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận thức là toàn

bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng

Hiểu Nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá,…

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và

tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)

Các quan niệm khác về nhận thức:

“Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu biết các sự vật hiện tượng” Như vậy, Nhận thức và trí tuệ được đồng nhất như nhau Nhờ hoạt động trí tuệ này mà con người mới hiểu biết được sự vật hiện tượng

Trang 32

Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực

khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm; Nhận thức cảm tính

và Nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích

và tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội” Khái niệm của nhà Tâm lý học

người Đức đã phản ánh tương đối đầy đủ nội hàm của Nhận thức và chúng ta sử dụng khái niệm này.[36]

Để thay đổi hành vi ứng xử của đại đa số gia đình về vấn đề cai nghiện ma tuý thì trước hết cần tìm hiểu mức độ nhận thức của họ về vấn đề này ra sao Khi đã có đánh giá sơ bộ, nhân viên CTXH sẽ lên kế hoạch hỗ trợ nâng cao nhận thức, từ đó giúp thay đổi hành vi

1.2.2 Nhu cầu:

Theo định nghĩa của từ điển Oxford thì nhu cầu là việc yêu cầu một cái gì đó vì

nó là điều cần thiết hoặc rất quan trọng hơn chỉ là mong muốn.[14]

Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu mà con người cảm thấy cần được thoả mãn để tồn tại

Trang 33

+ Giàu có về vật chất

+ Quyền lực và danh vọng

+ Kiến thức và sáng tạo

+ Hoàn thiện tinh thần

Tuỳ vào xu hướng của mỗi cá nhân mà một trong bốn nhu cầu trên thể hiện mức

độ khác nhau Có người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời

Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, có thể phân chia thành 4 nhóm: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu lao động và nhu cầu giao tiếp

Nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn tại cơ thể, đây là những nhu cầu cơ sở và

sơ đẳng nhất của con người Ví dụ: ăn, uống, mặc, ở Chính nhu cầu này thúc đẩy hoạt động lao động và sáng tạo của con người, làm ra của cải vật chất

Nhu cầu vật chất là nhu cầu cơ bản nhất của con người, nếu nhu cầu này không được đáp ứng thì các nhu cầu khác khó có thể đạt được

Nhu cầu tinh thần bao gồm nhu cầu hiểu biết và nhu cầu thẩm mỹ Nhu cầu vật

chất thường được gắn liên với nhu cầu tinh thần, con người thường thích ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, ở tốt hơn đó là nhu cầu thẩm mỹ

Từ những khái niệm đã nêu trên, có thể nhận thấy, để xác định nhu cầu của gia đình có người cai nghiện ma túy phải dựa trên thực tế nhận thức của họ Bên cạnh đó cũng cần đánh giá việc các nhu cầu được đáp ứng đến đâu trong thực tế Đây cũng là nền tảng cho việc đề xuất, xây dựng mô hình hỗ trợ phù hợp với gia đình có người đang CNMT

1.2.3 Ma tuý:

Cho đến nay, trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về “ma túy” hay

“chất ma túy” Công ước thống nhất về các chất mà túy năm 1961 (gọi tắt là công ước 1961) không đưa ra khái niệm “chất ma túy” mà thay vào đó áp dụng phương pháp liệt

kê xác định trực tiếp danh mục các chất ma túy bị kiểm soát

Trang 34

Ma túy là tên gọi chung của các chất kích thích mà sử dụng nhiều lần có thể gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo Không có một định nghĩa chung thống nhất nào về khái niệm này Ở mỗi góc độ tiếp cận, ma túy lại được hiểu theo những cách khác nhau

- Dưới góc nhìn khoa học: Ma túy là các chất có khả năng tác động lên hệ thần kinh trung ương, có tác dụng giảm đau, gây cảm giác hưng phấn, dễ chịu; dùng nhiều lần sẽ đưa đến tình trạng lệ thuộc vào ma túy

- Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là “Các chất

có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”

- Tổ chức Y tế thế giới cũng đưa ra khái niệm như sau: “Ma túy là các chất độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng”

- Bộ luật Hình sự Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ 1/6/2000 quy định về ma tuý như sau: Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroine, cocaine, các chất ma tuý khác ở thể lỏng hay thể rắn

- Luật Phòng, Chống ma tuý của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000, có hiệu lực từ ngày 1/6/2000, tại điều 1 khoản 2 cũng góp phần làm rõ khái niệm ma túy thông qua định nghĩa về chất ma túy:

+ Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành

+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng

+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.[15]

Từ những định nghĩa được đưa ra trên đây, ta có thể hiểu một cách chung nhất rằng: Ma tuý là các chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi đưa vào

Trang 35

cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm - sinh lý của cơ thể Sử dụng ma túy nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội.[6]

1.2.4 Người nghiện ma tuý:

Theo định nghĩa được nêu trong Luật số 23/2000/QH10 của Quốc hội: Luật Phòng, Chống ma tuý thì người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.[35]

Về mặt tâm lý xã hội, người nghiện ma tuý thường có những đặc điểm như bức xúc về mặt tâm lý muốn sử dụng lại chất gây nghiện, khi lên cơn, người nghiện ma tuý khó có thể kiểm soát được hành vi và suy nghĩ của mình nên dễ dàng gây ra những tổn thương cho người khác hoặc gây ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến gia đình

và người xung quanh

Sổ tay chẩn đoán của hiệp hội Tâm thần mỹ (APA) định nghĩa người nghiện ma túy như sau: Các triệu chứng bao gồm hiện tượng dung nạp (Cần phải tăng liều lượng

sử dụng để đạt được khoái cảm), sử dụng ma tuý để giảm triệu chứng cai, không thể giảm liều sử dụng thuốc hay ngưng sử dụng và tiếp tục sử dụng dù biết nó có hại cho bản thân hay những người khác

Theo tổ chức y tế thê giới (WHO) thì nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để có được những hiệu ứng ma tuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật

vã do thiếu ma tuý Tình trạng lệ thuộc này có thể kèm theo hiện tượng quen ma tuý hoặc không, và một người có thể bị lệ thuộc vào nhiều lọai ma tuý

Tài liệu Đào tạo nhân viên tiếp cận cộng đồng của Dự án LIFE - GAP (do trung tâm Kiểm soát dịch bệnh của Hoa Kỳ - CCD cung cấp) đã đưa ra một số tiêu chí để xác định lệ thuộc ma tuý/ nghiện ma tuý là:

Trang 36

Dung nạp: Người sử dụng ma tuý ( SDMT ) ngày càng quen với tác dụng của

ma túy và cần phải tăng liều dùng để đạt được tác dụng như mong muốn Một người ở giai đoạn dung nạp ma tuý thể hiện ít có phản ứng về liều dùng hơn người chưa có ở giai đoạn này Mức độ dung nạp tối đa có thể được quan sát bằng sự lệ thuộc vào Heroin Ví dụ, khi một người đã quá lệ thuộc vào heroin, họ có thể dùng liều lượng vượt quá mức độ người chưa dung nạp loại ma tuý này

Đói thuốc:

- Hội chứng đói thuốc: Theo dõi hội chứng này bao gồm những biểu hiện thay đổi về thể chất và tâm lý của người SDMT Nó xảy ra khi người SDMT giảm nhanh liều lượng quen dùng (ví dụ người cắt cơn heroin có thể có những phản ứng của cơ thể như đau cơ khớp, rối loạn chức năng tim mạch và hệ thống tiêu hoá )

- Giải toả: Để tránh cảm giác khó chịu khi đói thuốc người đó phải dùng 01 liều Hiện tượng này liên quan chặt chẽ đến hội chứng đói thuốc

Bắt buộc sử dụng: Một người lệ thuộc vào ma tuý bắt buộc phải SDMT Hiện

tượng này có liên quan đến đói thuốc

Thu hẹp: Khi đã nghiện, người SDMT sẽ SDMT theo một cách nhất định

Sở thích tập trung: Hứng thú SDMT dần dần trở thành ưu tiên lớn nhất trong

cuộc sống của người SDMT Sở thích này ngày càng thu hẹp và xác định bằng việc tìm mọi cách để có ma tuý sử dụng (đồng thời tìm mọi cách để có tiền mua ma tuý )

Tái nghiện: Một người ngưng sử dụng ma tuý trong vài tuần hoặc vài tháng nếu

quay lại sử dụng sẽ có xu hướng tái sử dụng một cách nhanh chóng và hình thành lại sự

lệ thuộc vào ma tuý

Qua những định nghĩa trên có thể nhận thấy, người SDMT là người bị lệ thuộc vào các chất kích thích, gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh cũng như hành vi, ứng xử Nếu ngưng sử dụng thuốc tức thì sẽ gây những hậu quả đến con người và trí não Vì thế, để cai nghiện ma túy thành công, đòi hỏi cả một quá trình kiên trì và sử dụng những phương pháp khoa học để đạt hiệu qủa như mong muốn

Trang 37

1.2.5 Cai nghiện ma tuý:

Cai nghiện ma tuý là một biện pháp tổng hợp gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức, v.v nhằm điều trị, giúp người nghiện ma tuý cắt các hội chứng nghiện, phục hồi sức khoẻ và tái hoà nhập cộng đồng

Cai nghiện ma tuý là một quá trình gồm nhiều giai đoạn: giai đoạn cắt cơn nghiện; giai đoạn hồi phục sức khoẻ, tâm; sinh lý và giáo dục lối sống; giai đoạn dạy nghề và tạo việc làm; giai đoạn giám sát, tư vấn, quản lý tại cộng đồng Các giai đoạn này phải liên tục, kế tiếp nhau trong thời gian từ 2 - 3 năm Để cai nghiện được thành công hoàn toàn cần phải có sự kết hợp của ý chí người nghiện với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng xã hội Một người chỉ được coi là đã cai nghiện được hoàn toàn nếu sau 6 năm không dùng ma tuý trở lại Nhưng để thật sự đạt được kết quả như mong đợi thì không phải ai cũng làm được

Theo Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng chống

ma tuý năm 2008 quy định những biện pháp, hình thức cai nghiện như sau:

1 Các biện pháp cai nghiện ma tuý bao gồm:

a) Cai nghiện ma túy tự nguyện;

b) Cai nghiện ma túy bắt buộc

2 Các hình thức cai nghiện ma tuý bao gồm:

a) Cai nghiện ma túy tại gia đình;

b) Cai nghiện ma túy tại cộng đồng;

c) Cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện

Trong các hình thức cai nghiện nêu trên thì: Hình thức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng được áp dụng đối với người tự nguyện cai nghiện, trừ trường hợp người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện

Trường hợp người nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện thì áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

Trang 38

Trong những năm gần đây, nhà nước đang chủ trương hướng tới mô hình cai nghiện ma túy tại cộng đồng cho các đối tượng bằng hình thức sử dụng thuốc thay thế Methadone Điều trị bằng Methadone là phương pháp hiệu quả, chi phí rẻ, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS Nguyễn Hoàng Long cho biết, sử dụng phương pháp này ngoài việc giúp giảm chi phí đối với các gia đình có người nghiện ma túy, sau khi điều trị, người bệnh không phải chịu tác động và chẳng còn bị ám ảnh bởi việc tìm kiếm ma túy nên nếu trước điều trị chỉ có 64,4% bệnh nhana tìm được việc làm thì sau 24 tháng, con số này đã lên 75,9% và thu nhập cũng tăng dần Mặt khác, theo kết quả điều tra của 11 tỉnh, thành phố trên cả nước, trước đây trung bình một bệnh nhân tiêu tốn 230.000 đồng/ngày để mua heroin (khoảng 84 triệu đồng/năm), trong khi đó chi phí điều trị bằng Methadone chỉ khoảng 6-8 triệu đồng/người/năm Như vậy, với 17.521 người tham gia điều trị tại các tỉnh, thành phố, chương trình đã tiết kiệm được khoảng 1.470 tỷ đồng/năm

Hiện nay, thuốc Methadone sử dụng cho bện nhân đều được nhập khẩu thông qua Chương trình kế hoạch cứu trợ khẩn cấp của Hoa Kỳ về phòng chống HIV/AIDS (PEPFAR) tại Việt Nam và dự án Quỹ toàn cầu phòng chống HIV/AIDS tài trợ Tính đến tháng 4-2014, Việt Nam đã nhập khẩu 183.228 lít thuốc Methadone, trong đó sử dụng 123.475 lít; còn lại 59.727 lít đang được bảo quản tại Công ty dược phẩm trung ương I Từ những số liệu cụ thể cũng như kết quả đáng mừng thu nhận được khi áp dụng hình thức cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, có thể nhận thấy việc ứng dụng mô hình này vào cộng đồng là một việc làm vô cùng thiết thực và cần thiết

Cai nghiện ma túy là vấn đề được xã hội rất quan tâm và không ngừng tìm các giải pháp tối ưu để tăng mức tỷ lệ cai nghiện thành công, giúp người nghiện thật sự thoát ly khỏi ma tuý Tuy nhiên, hiện không ít gia đình và người nghiện thiếu kinh nghiệm và hiểu biết dẫn đến kết quả cai nghiện không thành công, thậm chí còn gây ra những hậu quả khó lường…Bằng những kiến thức về CNMT, bao gồm các biện pháp

Trang 39

và hình thức cai nghiện, nhân viên CTXH có thể sử dụng để hỗ trợ và tiếp cận các gia đình có người đang CNMT, nhằm đi đến mục đích cuối cùng là đề xuất mô hình phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của cá nhân

1.2.6 Công tác xã hội:

Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau Có quan niệm cho rằng CTXH là một dạng trợ giúp giống như việc ta đưa bàn tay giúp đỡ những gia đình nghèo khó, cá nhân, gia đình có khó khăn về kinh tế, tình cảm, về quan

hệ xã hội trong các cơ sở xã hội, y tế hay giáo dục, công tác xã hội giúp cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ để đảm bảo nhu cầu và đảm bảo an sinh xã hội (A.Skidmore, 1977)

Công tác xã hội cũng được xem như là một môn khoa học, một nghệ thuật can thiệp đối với những vấn đề xã hội nhằm tạo nên sự chuyển biển trong xã hội

Từ điển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995) có ghi “công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”

Tại Đại hội Liên đoàn Công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm

2004, công tác xã hội được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng, công tác xã hội giúp con người phát triển hài hoà và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân

Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996:5) CTXH tồn tại để cung cáp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999)

Trang 40

Có thể nhận thấy, qua những khái niệm trên, công tác xã hội có mục đích nhằm tạo nên sự thay đổi ở xã hội, đảm bảo nền an sinh xã hội cho mọi người dân Đây là một cách hiểu về công tác xã hội khá rộng và tổng quát Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, rất nhiều người vẫn nhầm tưởng CTXH với hoạt động từ thiện Đã có nhiều định nghĩa về CTXH tại Việt Nam được đưa ra với nhiều khía cạnh khác nhau

Theo Nguyễn Thị Oanh: công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề Công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội Theo quan điểm của bà, công tác xã hội là một hoạt động

thực tiễn bởi nhân viên CTXH luôn luôn làm việc trực tiếp với các thân chủ, nhóm người cụ thể trong xã hội Tuy nhiên, bà cũng cho rằng, CTXH không phải là hướng tới giải quyết mọi vấn đề xã hội mà nó hướng tới giải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Thực hành CTXH được diễn ra ở những lĩnh vực khác nhau như: tệ nạn xã hội, nghèo đói, bạo lực gia đình và những vấn đề liên quan đến gia đình, hỗ trợ con người giải quyết những vấn đề cụ thể của cá nhân trong cuộc sống

Tóm lại, khái niệm CTXH có thể được tổng kết lại như sau:

Công tác xã hội là một môn khoa học, nghề, hoạt đồng chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.[10, tr.19]

Theo như định nghĩa trên, CTXH được xem là một môn khoa học bởi nó được thực hành dựa trên những nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực khác nhau như: tâm lý học, xã hội học Ngoài ra, CTXH cũng được nhấn mạnh là một nghề, hoạt động chuyên nghiệp, bởi lẽ, để thực hiện được hoạt động CTXH, nhân viên CTXH phải là những người được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp với đầy đủ kiến thức, kỹ năng và đã

Ngày đăng: 20/08/2015, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2012), Công tác xã hội với phòng, chống ma tuý ở Việt Nam, Báo Dân số và Phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với phòng, chống ma tuý ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2012
2. Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên) (1999), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình Tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tham vấn tâm lý
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Nguyễn Minh Đức, Phòng, tránh vi phạm pháp luật và tệ nạn ma tuý trong lứa tuổi thanh, thiếu niên, Nxb Bộ Công an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, tránh vi phạm pháp luật và tệ nạn ma tuý trong lứa tuổi thanh, thiếu niên
Nhà XB: Nxb Bộ Công an
5. Nguyễn Thị Phương Hoa, Hoàn thiện khái niệm “Chất ma tuý” trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí KHPL số 3 (34)/ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện khái niệm “Chất ma tuý” trong pháp luật Việt Nam”
6. Phan Thị Mai Hương (2006), Quan hệ bạn bè của thanh niên nghiện ma tuý, Tạp chí Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ bạn bè của thanh niên nghiện ma tuý
Tác giả: Phan Thị Mai Hương
Năm: 2006
7. Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý (2009), Gia đình học, Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
8. Nguyễn Thị Thái Lan (chủ biên) (2011), Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình, Nxb Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2011
9. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2010
10. Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Công tác xã hội cá nhân và gia đình, Nxb Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân và gia đình
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
11. Michael P.Nicholas, The Essentials of Family Therapy, Examination copy Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Essentials of Family Therapy
Tác giả: Michael P. Nicholas
12. Nguyễn Thị Hồng Nga (2010), Giáo trình Hành vi con người và môi trường xã hội, Nxb Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hành vi con người và môi trường xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2010
13. Oxford Dictionaries, Definition of the need, pg. 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition of the need
16. Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu Xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Minh Tân – Thanh Nghi – Xuân Lãm (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh Hoá – Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Minh Tân – Thanh Nghi – Xuân Lãm
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá – Thanh Hoá
Năm: 1999
19. Mai Thị Kim Thanh, Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
21. Trung tâm điều dƣỡng và cai nghiện ma tuý Thanh Đa, Các yếu tố tác động và ảnh hưởng đến việc sử dụng ma tuý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động và ảnh hưởng đến việc sử dụng ma tuý
Tác giả: Trung tâm điều dƣỡng và cai nghiện ma tuý Thanh Đa
22. Trung tâm từ điển học (2009), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng việt
Tác giả: Trung tâm từ điển học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2009
23. Trần Đình Tuấn (2014), Tham vấn tâm lý cá nhân và gia đình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn tâm lý cá nhân và gia đình
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
24. Trần Đình Tuấn, Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.Các trang mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Các trang mạng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm