1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội

128 460 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỨNG DỤNG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM SỐNG ĐỘC LẬP VÀO TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG.VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI MÔ HÌNH TRUNG TÂM SỐNG ĐỘC LẬP .... DANH MỤC CÁC TỪ VIẾ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM KẾT

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 16

1.1 Các khái niệm công cụ 16

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 20

1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái 20

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu 22

1.2.3 Lý thuyết trao quyền 25

1.2.4 Lý thuyết trị liệu nhận thức - thay đổi hành vi 25

1.3 Đặc điểm của người khuyết tật vận động 26

1.4 Đặc điểm của Trung tâm Sống độc lập 28

1.4.1 Nguyên tắc hoạt động của một Trung tâm Sống độc lập 28

1.4.2 Mục đích và mục tiêu của Trung tâm Sống độc lập 29

1.4.3 Đối tượng phục vụ của Trung tâm Sống độc lập 29

1.4.4 Tổ chức nhân sự và ngân sách hoạt động 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM SỐNG ĐỘC LẬP 34

2.1 Nhu cầu của người khuyết tật vận động 34

2.2 Tham vấn đồng cảnh 37

2.2.1 Tìm hiểu chung về tham vấn đồng cảnh 37

2.2.2 Kết quả 42

2.2.3 Khó khăn 50

Trang 4

2.2.4 Vận dụng tham vấn đồng cảnh trong việc trợ giúp tâm lý cho người

khuyết tật vận động 51

2.3 Chương trình Sống độc lập 52

2.3.1 Tìm hiểu chung về Chương trình Sống độc lập( viết tắt là ILP) 52

2.3.2 Kết quả 54

2.3.3 Vận dụng chương trình Sống độc lập trong việc nâng cao nhận thức của người khuyết tật vận động 55

2.4 Người hỗ trợ cá nhân 58

2.4.1 Quy định về Người hỗ trợ cá nhân của Trung tâm Sống độc lập 63

2.4.2 Quy định về người khuyết tật và gia đình khi sử dụng dịch vụ người hỗ trợ cá nhân 65

2.4.3 Kết quả của các khóa tập huấn hoạt động trợ giúp cá nhân 66

2.4.4 Cách nhìn nhận của xã hội đối với người hỗ trợ cá nhân ( PA) 68

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM SỐNG ĐỘC LẬP VÀO TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG.VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI MÔ HÌNH TRUNG TÂM SỐNG ĐỘC LẬP 75

3.1 Trường hợp - Hồ sơ thân chủ 75

3.2 Ứng dụng hoạt động trợ giúp của Trung tâm Sống đôc lập vào trợ giúp chị Nguyễn Thị H ( tiến trình 4 giai đoạn) 76

3.2.1 Giai đoạn 1: Hoạt động người trợ giúp cá nhân trong việc tiếp cận thân chủ và phát hiện vấn đề 76

3.2.2.Giai đoạn 2: Hoạt động mgười hỗ trợ cá nhân trong việc đánh giá và lập kế hoạch giúp đỡ: 79

3.2.3.Giai đoạn 3: Hoạt động tham vấn đồng cảnh và chương trình ILP trong trợ giúp chị H 86

3.2.4 Giai đoạn 4: Lượng giá và kết thúc 111

Trang 5

3.3 Vai trò của công tác xã hội với mô hình Trung tâm Sống độc lập 112

3.3.1 Vai trò điều phối 112

3.3.2 Vai trò kết nối các nguồn lực 114

3.3.3 Vai trò hỗ trợ người khuyết tật vận động hòa nhập cộng đồng 115

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC 111

ĐỀ CƯƠNG PHỎNG VẤN SÂU

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thầy cô giáo Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm, cũng như lòng yêu mến, tâm huyết với nghề nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Hữu Nghị người đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhờ có sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp CH - CTXH2 - K2012 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các hội viên, các

PA, gia đình, bạn bè, người thân của các hội viên trong Trung tâm Sống độc lập đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu

Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được các đánh giá, góp ý của các thầy cô giáo để luận văn của tôi được hoàn chỉnh và có chất lượng hơn

Hà Nội, ngày tháng năm

Học viên thực hiện luận văn

Phạm Thị Hương

Trang 7

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu, trích dẫn, kết quả nêu trong đề tài khóa luận tốt nghiệp đều có nguồn gốc rõ ràng và trung thực, chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam kết này

Hà Nội, ngày tháng năm

Học viên thực hiện luận văn

Phạm Thị Hương

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CTXH : Công tác xã hội

ILP : Chương trình Sống độc lập NKT : Người khuyết tật

NKTVĐ : Người khuyết tật vận động NVCTXH : Nhân viên công tác xã hội

PA : Người hỗ trợ cá nhân TTSĐL : Trung tâm Sống độc lập TVĐC : Tham vấn đồng cảnh TVV : Tham vấn viên

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Sống độc lập 32

Bảng 1: Mức độ về sự hài lòng của các thành viên khi tham gia tham vấn đồng cảnh 46

Bảng 2: Đánh giá về những kinh nghiệm mà các thành viên có được 48

khi tham gia chương trình tham vấn đồng cảnh 48

Bảng 3: So sánh dịch vụ hỗ trợ cá nhân với dịch chăm sóc thông thường 61

Bảng 4: So sánh người hỗ trợ cá nhân với tình nguyện viên 62

Bảng 5: Mức độ về sự hài lòng của người khuyết tật và gia đình người khuyết tật với dịch vụ người hỗ trợ cá nhân 69

Bảng 6: Trình độ học vấn của PA trong Trung tâm Sống độc lập 70

Bảng 7: Lí do các PA tham gia vào công việc hỗ trợ người khuyết tật 70

Bảng 8: Lượng giá về tiến trình trợ giúp thân chủ 111

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những vấn đề xã hội được nhiều người quan tâm nhất, đó là vấn đề người khuyết tật (NKT) Ở bất kỳ quốc gia nào dù phát triển, đang phát triển, kém phát triển đều cùng có chung về vấn đề NKT Điều này chứng

tỏ số lượng người khuyết tật chiếm một phần không nhỏ trong xã hội và chúng ta không thể phủ nhận được vai trò của NKT trong cộng đồng Người khuyết tật tồn tại như một yếu tố khách quan và trên thực tế họ cũng có những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của toàn xã hội

Hiện nay ở Việt Nam, theo Báo cáo của Ban Điều phối các hoạt động trợ giúp người khuyết tật và kết quả điều tra mức sống hộ gia đình (2006) và tổng điều tra dân số và nhà ở (2009), hiện có khoảng 6,3% dân số Việt Nam là người khuyết tật Trong tổng số người khuyết tật đó thì theo kết quả điều tra thực trạng tình hình thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở nước ta năm

2008 do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội tiến hành thì tỷ lệ phần trăm dạng tật khuyết tật vận động là 29,41% Khác với các dạng khuyết tật khác thì người khuyết tật vận động không bị hạn chế về vấn đề nhận thức mà vấn

đề của họ là khó khăn trong việc di chuyển Vấn đề được đặt ra ở đây là xã hội đã có những hoạt động trợ giúp nào để hỗ trợ người khuyết tật và giúp họ hòa nhập cuộc sống?

Đáp ứng mong muốn của người khuyết tật Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sách để hỗ trợ người khuyết tật trong cuộc sống Bên cạnh sự tham gia của Nhà nước trong vấn đề người khuyết tật thì có một số hoạt động của các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ người khuyết tật Trung tâm Sống độc lập là một trong những mô hình trợ giúp người khuyết tật có hiệu quả Tại đây người khuyết tật có được nhận thức đúng hơn về khả năng của mình Khuyết tật không có nghĩa là mất đi tất cả điều quan trọng là chúng ta có nhìn và nhận

ra được điểm mạnh của mình và vận dụng điểm mạnh đó như thế nào? Các

Trang 11

tấm gương người khuyết tật vượt lên trong cơn bão của cuộc đời, tự khẳng định như bao người bình thường khác Điều gì khiến họ thành công như vậy?

Để có được những thành công đó đòi hỏi rất nhiều yếu tố nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất đó chính là sức mạnh và niềm tin từ chính bản thân người khuyết tật Người khuyết tật tham gia vàoTrung tâm Sống độc lập có cơ hội giao lưu với những người có cùng cảnh ngộ với nhau Từ đó họ học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong công việc và cuộc sống, họ không còn cảm thấy

bị cô đơn, tách biệt, lạc lõng Như được tiếp thêm một nguồn sức sống mới người khuyết tật không còn ở trong một khoảng không gian hẹp mà trước đây

họ từng ở Giờ đây, cùng với sự trợ giúp của những bạn PA (người trợ giúp cá nhân) người khuyết tật vận động có thể độc lập hơn trong công việc và sinh hoạt PA không chỉ là người trợ giúp cá nhân cho người khuyết tật mà còn là người bạn để người khuyết tật có thể trút bầu tâm sự Các đề tài thảo luận trong các buổi tham vấn đồng cảnh giúp người khuyết tật có thể mạnh dạn đưa ra các ý kiến, thoải mái tranh luận, sự e dè, ngại ngần trong việc chia sẻ dần dần giảm đi thay vào đó là sự tự tin, tự lập trong cuộc sống Người khuyết tật tìm lại được chính mình, họ tham gia tích cực hơn vào tất cả mọi lĩnh vực Như vậy, mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại Trung tâm Sống độc lập được đánh giá cao trong việc trợ giúp người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng

Những điều trình bày trên đây chính là lí do để tôi lựa chọn: “Mô hình

trợ giúp người khuyết tật vận động tại Trung tâm Sống độc lập - 42 Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ ngành Công tác xã hội

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1.Trên thế giới

Mô hình Trung tâm Sống độc lập được hình thành sớm trên thế giới, có nhiều học giả nước ngoài đã nghiên cứu về hoạt động của các Trung tâm Sống độc lập ở khắp các nước trên thế giới như: Mỹ, Ấn Độ, Thụy Điển…

Trang 12

Trong tác phẩm Mô hình dịch vụ Sống độc lập nguồn gốc lịch sử, các yếu tố cơ bản, và thực hành hiện tại của tác giả Mary Ann Lachat đã chỉ ra rằng các phong trào Sống độc lập đã trở thành một nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự thay đổi của người khuyết tật Giá trị cốt lõi và các nguyên tắc triết học của người khuyết tật như: quyền, tự chủ, và tiếp cận bình đẳng đã được thực hiện thông qua các chương trình Sống độc lập Các mô hình dịch vụ này phát triển và được thực hiện tại các Trung tâm Sống độc lập dựa vào cộng đồng

Từ khi thành lập, các Trung tâm Sống độc lập đã hình thành cơ cấu tổ chức và hoạt động dựa trên nguyên tắc hỗ trợ người khuyết tật để họ có thể có một cuộc sống độc lập Tác phẩm trình bày về các nội dung như: nguồn gốc lịch

sử của Sống độc lập, cách thiết kế một chương trình Sống độc lập, cách tổ chức và cung cấp dịch vụ Sống độc lập tới người khuyết tật, sự phát triển và các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình Trung tâm Sống độc lập

Ở tác phẩm “ Nhân quyền, quyền xã hội công dân, và phương pháp cá nhân cùng tham gia trong công tác xã hội với người khuyết tật” của GS Synnove Karvinen - Niinikoski, công tác xã hội, khoa nghiên cứu Xã hội, đại học Helsinki, Phần Lan Trong đó tác giả đã viết các thách thức của công tác

xã hội đối với người khuyết tật có trong các tuyên bố nhân quyền hoặc được

đưa vào các chương trình chính sách khuyết tật của Phần Lan: Tất cả mọi

người đều bình đẳng Tất cả mọi người phải có cơ hội bình đẳng để sống và hành động trong xã hội Cấm được phân biệt đối xử Lạm dụng và đối xử bạo lực là những hành vi bị trừng phạt Tuy nhiên, trên thực tế người khuyết tật không thể thực hiện các quyền và tự do của họ hoặc thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình Mô hình xã hội của người khuyết tật [31] thách thức công

tác xã hội không chỉ trong việc bảo vệ quyền con người mà còn xét trên cấp

độ chính sách và trong cuộc sống hàng ngày của các cá nhân và gia đình Hỗ trợ cá nhân có thể thực hiện trong cả hai khía cạnh trên Hỗ trợ cá nhân giúp

Trang 13

cường quyền tự quyết của họ [32] Thực hành công tác xã hội về người khuyết tật liên quan đến cả thiết kế, thực hành và thực hiện chính sách Sư kết hợp này dẫn đến lập trường quan trọng và mang tính biến đổi với tư cách nghề công tác xã hội Nhân viên công tác xã hội ở tuyến đầu và nhân viên chăm sóc xã hội hoặc các nhà hoạt động phi chính phủ tiếp cận và gần gũi với người khuyết tật, gia đình trong cuộc sống hàng ngày của họ Vì vậy họ có thể tích lũy được các kiến thức và thông tin phản hồi từ lĩnh vực công tác xã hội với người khuyết tật Tuy nhiên, các chuyên gia cũng là những con người

họ trở thành chuyên gia thông qua quá trình làm việc và những trải nghiệm thực tế của bản thân, người khuyết tật chính là những chuyên gia Đây không chỉ là vấn đề mang lại tiếng nói cho con người mà nó còn là vấn đề tôn trọng người khuyết tật như là những chủ thể độc lập trong cuộc sống của chính họ, những người có thể cần trợ giúp trong việc đạt được và thực hiện quyền công dân xã hội của họ, họ có quyền tham gia như bất cứ ai trong xã hội Nói như vậy cũng có nghĩa là đời sống, nhà ở, giáo dục, y tế và phục hồi chức năng, cơ hội để tham gia vào làm việc và đời sống xã hội của người khuyết tật cần có

sự hỗ trợ cá nhân và viện trợ cần phải được cung cấp Đây chính là kết quả của các phong trào người khuyết tật và pháp luật người khuyết tật hiện đại ở Phần Lan Pháp luật người khuyết tật ở Phần Lan rất hiện đại và đáp ứng tốt các quy tắc quy chuẩn của Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu Một trong những thành tựu gần đây nhất là quyền chủ quan của người khuyết tật để hỗ trợ cá nhân theo nhu cầu và ở đó quyền tự chủ cá nhân và độc lập của người khuyết tật được ưu tiên hàng đầu: người khuyết tật sẽ được người hỗ trợ cá nhân trợ giúp trong cuộc sống thường nhật Sự hỗ trợ đó cũng góp phần nâng cao vị thế của người khuyết tật để họ đạt được các mục tiêu cuộc sống mà họ

đề ra, tăng cường quyền tự quyết của người khuyết tật bằng cách xây dựng năng lực và quyền ra quyết định thông qua gây dựng sự tự tin, lòng tự trọng, tính chủ động và kiểm soát cuộc sống Xét về góc độ nhóm tác giả nêu lên tự

Trang 14

quyết chính là kết quả của việc tham gia vào các hoạt động chính trị, hoạt động nhóm trong đó đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của mọi người để đảm bảo phân phối lại các nguồn lực đồng đều cho các thành viên trong nhóm Tác giả có chia sẻ chương trình chính sách của chính phủ Phần Lan về

dự án thay đổi cơ cấu để cho phép những người có khó khăn về trí tuệ/ học tập - ngay cả những người khuyết tật nặng nhất - sống cuộc sống của họ như ở nhà như thế nào Trước đây, những người này là những bệnh nhân trong các

tổ chức Nhưng giờ đây, theo chương trình chính sách năm 2020 sẽ không có

ai sống trong những cơ sở y tế phân cấp như vậy Người khuyết tật được quyền hỗ trợ cá nhân để đối phó và sống cùng với gia đình Ở đây, các giá trị trung tâm nhân quyền cho người khuyết tật được nhấn mạnh và đề cao Sự thay đổi từ mô hình y tế chuyển sang mô hình xã hội đòi hỏi cần có sự kết hợp của người khuyết tật và gia đình, nhân viên chăm sóc, nhân viên công tác

xã hội, nhân viên hành chính Cuối cùng tác giả nhấn mạnh điều thực sự quan trọng và cần phải học ở đây là sự tôn trọng và mối quan hệ tôn trọng, niềm tin chân thành: Tôn trọng, dẫn đến thay đổi tích cực, là nền tảng dẫn đến sự thành công của hỗ trợ các nhân[29]

2.2 Ở Việt Nam

Vấn đề về người khuyết tật đã được Đảng và Nhà nước ta chú trọng và quan tâm Đã có nhiều chính sách và các chương trình dự án đề tài dành cho người khuyết tật Ví dụ:

Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cam kết hỗ trợ người khuyết tật Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2001 đảm bảo tất cả các quyền công dân, trong đó bao gồm sự hỗ trợ của Nhà nước cho người khuyết tật Chính phủ cũng đã thông qua nhiều chính sách và các văn bản pháp luật khác liên quan đến quyền và việc bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật:

Pháp lệnh về người khuyết tật (1998) là văn bản pháp lý đầu tiên mang tính toàn diện dành cho người khuyết tật Với pháp lệnh này người khuyết tật

Trang 15

đã được quan tâm và chú ý đến hơn trong các lĩnh vực như: trợ cấp, y tế, giáo dục, tham gia hòa nhập cộng đồng

Kế hoạch hành động Quốc gia đầu tiên nhằm hỗ trợ người khuyết tật trong giai đoạn 2006-2010 (thông qua năm 2006)

Chương trình Hành động Thiên niên kỷ Biwako (UNESCAP, 2002) và thành lập Ban Điều phối Quốc gia về Vấn đề Người khuyết tật (BĐPQG)

Năm 2007, Việt Nam đã ký Công ước Liên hợp quốc (UN) về Quyền của Người khuyết tật (CRPD) - một trong những công ước quan trọng nhất liên quan đến người khuyết tật được rất nhiều quốc gia trên thế giới nhanh chóng công nhận và hưởng ứng (LHQ, 2006)

Luật Người khuyết tật vào ngày 17 tháng 6 năm 2010 (CPVN, 2010), luật này đã bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2011

ICF hay phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe trong các cuộc điều tra quốc gia ĐTMSDC 2006 và TĐTDS 2009 chú trọng sử dụng số liệu thống kê y tế và khuyết tật và tham gia cộng đồng quốc tế trong

và lợi ích của họ có được đảm bảo theo đúng tinh thần của Bộ luật lao động hay không thì còn là một vấn đề bỏ ngỏ Vì vậy, với đề tài đánh giá việc thực hiện Bộ luật lao động đối với lao động là người tàn tật và pháp lệnh người tàn tật tác giả Nguyễn Diệu Hồng đã chỉ ra cho chúng ta thấy người

Trang 16

khuyết tật được đảm bảo về mặt quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm như thế nào khi là người lao động

Trong đề tài, Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Báo - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc Gia đã đưa ra thực trạng công tác thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật, góp phần bảo đảm việc thực hiện các quyền của người khuyết tật, tạo cơ hội cho người khuyết tật bình đẳng và hoà nhập cộng đồng xã hội

Vào năm 2003, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc tiến hành đã thực hiện một cuộc khảo sát chọn mẫu trên tại Việt Nam về tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam Cuộc nghiên cứu khảo sát đã cung cấp số liệu về trẻ em khuyết tật, các dạng tật phổ biến ở trẻ em khuyết tật, nguyên nhân dẫn đến khuyết tật trẻ em, tỷ lệ phổ biến của trẻ em khuyết tật tại các vùng miền, đời sống, việc làm của các trẻ

em khuyết tật… Với những thông tin thu thập được cuộc khảo sát đã có cái nhìn khá cụ thể và đầy đủ về tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam

Trong đề tài “kinh nghiệm dạy học sinh khuyết tật vận động hòa nhập ở

tiểu học” của tác giả Đặng Thị Nhờ đề cập đến quá trình hỗ trợ học sinh khuyết

tật vận động hòa nhập cùng các bạn học sinh bình thường khác trong lớp, trong

đó tác giả nhấn mạnh đến những ưu điểm của từng học sinh khuyết tật vận động, kết hợp với các nguồn lực như bạn học, gia đình, nhà trường … để có thể trợ giúp học sinh khuyết tật vận động có được kết quả học tập cao nhất

Hay đề tài “Việc làm của người khuyết tật trên địa bàn tỉnh An Giang”

do Thạc sĩ Trần Thị Thu Nguyệt làm chủ nhiệm đề tài Chủ nhiệm đề tài đã báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện của đề tài thông qua cuộc điều tra bằng bảng hỏi 204 người khuyết tật vận động và nhìn, kết quả phỏng vấn sâu 30 cá nhân ở thành phố Long Xuyên, huyện Phú Tân và huyện Chợ Mới Kết quả

Trang 17

nghiên cứu cho thấy việc làm của người khuyết tật chủ yếu là buôn bán tự do (56,86%), dịch vụ (15, 68%), làm tại các cơ sở, xí nghiệp (8,82%) và làm ở các cơ quan nhà nước (4,9%) Thu nhập từ việc làm của người khuyết tật thấp, thường không ổn định (31,4% dưới 1 triệu đồng/tháng, 27,5% từ 1 đến 2 triệu đồng, 25,5% từ 2,1 đến 3 triệu đồng, 12,7% từ 3,1 đến 4 triệu đồng và 2,9% từ 4 triệu trở lên) Nghiên cứu đã tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, những yếu tố ảnh hưởng đến tìm việc làm của người khuyết tật và đề xuất một

số giải pháp để hỗ trợ người khuyết tật tìm việc, có thu nhập ổn định và hòa nhập với cộng đồng

Vào năm 2009, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có báo cáo tổng kết về 10 năm thực hiện Pháp lệnh người khuyết tật [3] Trong báo cáo

đã chỉ rõ về thực trạng người khuyết tật Theo ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu người khuyết tật nặng, chiếm khoảng 21,5% tổng số người khuyết tật Tỷ lệ khuyết tật theo giới tính khác nhau: Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân do hậu quả của chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn thương tích Nguyên nhân gây khuyết tật có 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26%

do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Có tới 80% người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện hộ nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ

lệ hộ nghèo chung tại thời điểm), 24% ở nhà tạm Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng [3] Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ các kết quả thực hiện công tác chăm sóc người khuyết tật trên các lĩnh vực như trợ cấp hàng tháng đối với người khuyết tật, hộ gia đình nuôi dưỡng người khuyết tật, số người

Trang 18

khuyết tật có việc làm, số người khuyết tật được tiếp cận với các công trình giao thông công cộng Từ đó đề ra những giải pháp để giúp công tác thực hiện pháp lệnh người khuyết tật được tốt hơn

Tham gia thực hiện triển khai chủ trương đường lối chính sách của Đảng trong vấn đề về người khuyết tật còn có sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ Một trong những mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động hiệu quả tại Việt Nam đó là mô hình Sống độc lập của Trung tâm Sống độc lập Sống độc lập là một khái niệm còn mới mẻ ở Việt Nam Trên cơ sở tiếp cận dưới góc độ quyền của người khuyết tật họ cho rằng người khuyết tật được quyền đưa ra các quyết định mà không bị lệ thuộc vào áp lực nào từ phía gia đình hoặc xã hội Để thực hiện mô hình này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của đất nước cũng như tập quán của người dân, tuy nhiên cần thiết phải nhận thức rằng thành viên trong xã hội người khuyết tật có đầy đủ quyền và xã hội

có trách nhiệm tạo cho họ những điều kiện cần thiết phù hợp với nhận thức của xã hội nhằm bảo đảm họ có thể sống tự lập Mô hình này đang được xây dựng thí điểm và nhân rộng ở nước ta dưới sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ

Điều kiện bảo đảm tiếp cận với các hoạt động xã hội của người khuyết tật là không tách rời với môi trường hoà nhập Hoạt động học văn hoá, học nghề, vui chơi giải trí không thể tạo môi trường tách biệt cộng đồng xã hội Nguồn tài liệu về Trung tâm Sống độc lập chủ yếu là những bài báo được đăng tải trên các trang mạng, trang web của trung tâm và các bản tin của trung tâm từ trước tới nay Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu về mô hình Trung tâm Sống độc lập Vì vậy thông qua đề tài nghiên cứu của mình tác giả muốn giới thiệu đến độc giả một mô hình mới hoạt động có hiệu quả trong việc trợ giúp người khuyết tật

Trang 19

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ ràng và cụ thể hơn những lý luận của CTXH khi ứng dụng vào một trường hợp cụ thể: Trong nghiên cứu tác giả

đã vận dụng những kiến thức của CTXH và hệ thống lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình trợ giúp NKTVĐ Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò nhân viên CTXH trong mô hình trợ giúp này

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu chỉ ra thực trạng, đề ra giải pháp để mô hình hoạt động của Trung tâm Sống độc lập ngày càng có hiệu quả hơn Cung cấp một mô hình hoạt động có hiệu quả trong việc trợ giúp người khuyết tật vận động từ đó làm

đa dạng hơn các hình thức trợ giúp người khuyết tật vận động

Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung các mô hình góp phần hoàn thiện hơn hệ thống chính sách dành cho NKT Kết quả nghiên cứu của luận văn là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các sinh viên khi đến và nghiên cứu về Trung tâm Sống độc lập Nó là tài liệu góp phần giúp mọi người biết và hiểu rõ hơn về Trung tâm Sống độc lập

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại Trung tâm Sống độc lập, những kết quả đã đạt được trong quá trình triển khai các chương trình hoạt động, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân của tình trạng này và đề xuất các giải pháp can thiệp

Vận dụng công tác xã hội trong mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại Trung tâm Sống độc lập

Trang 20

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong hoạt động trợ giúp người khuyết tật (cách tiếp cận, khái niệm các công cụ, đặc điểm địa bàn nghiên cứu)

Nghiên cứu việc triển khai các hoạt động trợ giúp người khuyết tật vận động ( có phân tích trường hợp) và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại

Trung tâm Sống độc lập

Khách thể nghiên cứu: Người khuyết tật vận động

Người trợ giúp cá nhân

Gia đình người khuyết tật

Các cán bộ trong trung tâm

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại Trung tâm Sống độc lập - 42 Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội

Thời gian nghiên cứu: từ 2009 đến nay

Không gian: Trung tâm Sống độc lập, 42 Kim Mã Thượng

Gia đình người khuyết tật vận động

7 Câu hỏi nghiên cứu

Người khuyết tật vận động được hỗ trợ như thế nào khi là thành viên của Trung tâm Sống độc lập?

Những hoạt động nào đã và đang được triển khai tại Trung tâm Sống độc lập? Những kết quả, những hạn chế và nguyên nhân?

Hoạt động công tác xã hội được thể hiện như thế nào trong mô hình của Trung tâm Sống độc lập?

Có những biện pháp nào để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả trợ giúp trong mô hình của Trung tâm Sống độc lập?

Trang 21

8 Giả thuyết nghiên cứu

Với những đặc thù về dạng khuyết tật, người khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, không thể tự chủ được trong sinh hoạt mặc dù bản thân họ ý thức được rất rõ về điều này Vì vậy có một mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động để khắc phục những mặt hạn chế, phát huy được những điểm mạnh của họ là rất có ý nghĩa và thiết thực với xã hội Nhưng trên thực tế, các mô hình để trợ giúp người khuyết tật vận động hòa nhập cuộc sống vẫn chưa có nhiều

Từ khi thành lập cho đến nay, những hoạt động mà Trung tâm Sống độc lập thực hiện đã đem lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ người khuyết tật vận động “sống độc lập” Các kết quả mà trung tâm đã có là một minh chứng chứng tỏ rằng người khuyết tật vận động có thể sống độc lập nếu như có sự trợ giúp của mô hình Trung tâm Sống độc lập Tuy nhiên, mô hình này lại chưa được nhiều người biết đến, chưa được nhân rộng

Trong quá trình hoạt động, với bất kỳ một cơ quan, tổ chức cũng không thể tránh khỏi những khó khăn phát sinh Và khó khăn mà ban lãnh đạo Trung tâm gặp phải đó là việc điều phối người trợ giúp cá nhân để hỗ trợ người khuyết tật vận động Hiện nay khi dự án không còn được hỗ trợ 100% kinh phí thì vấn đề về tài chính để tiếp tục các hoạt động của mô hình này cũng là một bài toán khó tìm phương án giải quyết Nhân viên công tác xã hội chưa phát huy hết được vai trò của mình trong vấn đề trợ giúp

9 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này rất quan trọng trong nghiên cứu CTXH nhằm phân tích những thông tin thu thập được từ các đối tượng người khuyết tật vận động, gia đình người khuyết tật vận động, số liệu từ các báo cáo của Trung tâm, các giáo trình, tạp chí liên quan đến người khuyết tật…Để làm nền tảng

cho đề tài nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy và chính xác

Trang 22

Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu công tác xã hội thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn,… để thu nhận các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục đích của quan sát là nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin

cơ bản về hoàn cảnh gia đình, thái độ hành vi của người khuyết tật vận động, mối quan hệ của người khuyết tật vận động với người thân trong gia đình và mọi người xung quanh

Không chỉ quan sát những gì người khuyết tật vận động nói mà NVXH còn phải quan sát các yếu tố xung quanh như gia đình, bạn bè, cộng đồng bởi vì những yếu tố này có tác động rất lớn đến sự thay đổi của người khuyết tật vận động Từ đó NVXH nắm bắt được hoàn cảnh sống của người khuyết tật vận động và có những kế hoạch trợ giúp nhất định

Đối tượng quan sát Nội dung quan sát

Người khuyết tật

vận động

Người khuyết tật vận động tham gia vào các hoạt động của Trung tâm Sống độc lập: thái độ, quan điểm, cách nhìn nhận của họ với hoạt động tham vấn đồng cảnh, tập huấn Sống độc lập, người trợ giúp cá nhân Người khuyết tật vận động trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày với người trợ giúp cá nhân

Người khuyết tật vận động hòa nhập với cộng đồng: khi người khuyết tật vận động tham gia các chương trình giao lưu: tham gia hội chợ việc làm dành cho người khuyết tật, ngày người khuyết tật, các buổi hội thảo bàn về vấn đề người khuyết tật, cuộc thi vẻ đẹp vầng trăng khuyết, các hoạt động xã hội

Gia đình và

những người thân,

Thái độ, cách nhìn nhận, quan điểm của họ khi sống cùng người khuyết tật vận động

Trang 23

Phương pháp này được sử dụng phỏng vấn trực tiếp các đối tượng người khuyết tật vận động, gia đình người khuyết tật vận động, cán bộ Trung tâm Sống độc lập cụ thể là phỏng vấn 10 người (Cán bộ Trung tâm, gia đình NKTVĐ, NKTVĐ) Để nhằm tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của NKTVĐ, tìm hiểu các hoạt động trợ giúp của TT, nguồn lực để giúp cho NKTVĐ có cuộc sống tốt hơn

Mục đích của phỏng vấn là thu thập những thông tin về thực trạng, kết quả hoạt động, khó khăn của TT trong việc trợ giúp người khuyết tật vận động tham gia hòa nhập cuộc sống …để làm căn cứ đánh giá, bổ sung cho kết quả từ nghiên cứu định lượng và làm cho thông tin một cách chính xác, đánh giá sâu sắc các vấn đề

Phỏng vấn sâu trong nghiên cứu nhập nhằm mục đích thu thập những vấn đề có liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của NKTVĐ như: Về điều kiện, hoàn cảnh sống, nhu cầu, về các hoạt động trợ giúp mà NKTVĐ đã được thụ hưởng vv

Phiếu trưng cầu ý kiến

Đối tượng sử dụng là phiếu trưng cầu ý kiến

Trang 24

Sử dụng phương pháp chọn mẫu theo danh sách người khuyết tật vận động và danh sách các bạn làm công việc người hỗ trợ cá nhân mà người nghiên cứu có được Vì thực tế, trước đây người nghiên cứu đã từng tham gia

làm điều tra viên cho Trung tâm Sống độc lập trong dự án “tiếp cận quyền

bầu cử dành cho người khuyết tật”

Cơ cấu mẫu giới tính của các thành viên tham gia trả lời trong đó có người khuyết tật vận động, người hỗ trợ cá nhân, gia đình, người thân bạn bè cùng chung sống với người khuyết tật vận động

Bảng 1: Cơ cấu giới tính các thành viên tham gia trả lời phiếu

(Người)

Tỉ lệ (%)

(Nguồn: Kết quả khảo sát phiếu trưng cầu ý kiến)

Tập hợp, xử lý thông tin từ các phiếu trưng cầu để có những đánh giá khách quan về hiệu quả hoạt động của Trung tâm Sống độc lập Những ý kiến đó cũng chính là những nhận định để khẳng định Trung tâm Sống độc lập thực sự

đã đem lại những thay đổi lớn trong cuộc đời của mỗi NKTVĐ

Trang 25

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm công cụ

Khái niệm khuyết tật

Định nghĩa về khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần Từ “tật” có nghĩa là có

“điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” [18] Định nghĩa này chỉ ra rằng khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết về chức năng của một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống Hiện nay, trong các văn bản pháp quy cụm từ “khuyết tật” dần được sử dụng thay cho cụm từ “tàn tật” bởi sử dụng hai từ “khuyết tật” nghe nhẹ nhàng hơn, mang ý nghĩa nhân văn hơn hai từ “tàn tật” Từ “khuyết” mang ý nghĩa chỉ suy giảm một chức năng nào đó, còn các chức năng khác vẫn hoạt động bình thường

Khái niệm người khuyết tật

Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 thì “Người khuyết tật (people with disabilities) bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của

họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”[4]

Theo khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật số 51/2010/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày

17/06/2010 có ghi: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc

nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

Trang 26

Theo Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật (DPI, 1982) định nghĩa: Người khuyết tật trở thành tàn tật do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội

và có một cuộc sống như thành viên khác Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống [4]

Khuyết tật vận động

Theo Điều 2 chương I của nghị định 28/2012/NĐ-CP quy đinh chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật có ghi khuyết tật

vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay,

thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển [6]

Độc lập: là việc tự làm chủ cuộc sống của bản thân thông qua việc tự

đưa ra lựa chọn cho mọi vấn đề của cuộc sống Sống độc lập là cho dù bản thân có khuyết tật nặng đến đâu thì những lựa chọn trong cuộc sống của mình cũng phải được tôn trọng tối đa

Sống độc lập: Theo Công ước về quyền của người khuyết tật, điều 19

có quy định về sống độc lập như sau:Các quốc gia thành viên Công ước này

công nhận người khuyết tật có quyền được sống bình đẳng trong cộng đồng,

có những sự lựa chọn bình đẳng với những người khác và sẽ tiến hành những biện pháp hữu hiệu và thích hợp để tạo điều kiện cho người khuyết tật được hưởng thụ đầy đủ quyền này và bảo đảm sự hoà nhập và tham gia đầy đủ của

họ vào cộng đồng, bao gồm bảo đảm rằng:

Người khuyết tật có cơ hội lựa chọn nơi sinh sống và họ sống ở đâu và với ai, trên cơ sở bình đẳng với những người khác và không bị bắt buộc phải sống ở nơi nuôi dưỡng cụ thể nào;

Người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tại nhà, tại khu vực sinh sống và trong cộng đồng, bao gồm sự hỗ trợ cá nhân cần thiết nhằm trợ giúp cho việc sống và hoà nhập cộng đồng, đồng thời ngăn chặn việc cô lập hay tách họ ra khỏi cộng đồng;

Trang 27

Phải có các dịch vụ và hạ tầng cơ sở công cộng để người khuyết tật sử dụng trên cơ sở bình đẳng với những người khác và phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật [3]

Tham khảo “ Chương trình sống độc lập”, tạp chí Phục hồi chức năng,

số XXII, 1979, trang 9: “ Sống độc lập là việc tự do lựa chọn việc sống ở đâu, sống như thế nào, làm gì để sống Đó là việc sống trong cộng đồng, với những hàng xóm mà mình lựa chọn, tự mình quyết định sống cùng bạn hay sống một mình, là việc mình tự tiến hành mọi việc như sinh hoạt hàng ngày, ăn uống, giải trí, sở thích, việc xấu, việc tốt, bạn bè… bằng ý chí và trách nhiệm của mình Đó còn là sự tự do vượt qua rủi ro, tự do sai lầm, tự do học cách sống độc lập qua những trải nghiệm của bản thân”[17]

Như vậy, Sống độc lập là việc người khuyết tật được tự chủ quyết định những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của chính bản thân.Trên thực tế, sống độc lập có nghĩa là người khuyết tật có thể:

Thứ nhất, người khuyết tật tự quyết định và hướng dẫn toàn bộ sự hỗ trợ của người khác đối với mình, trong đó có việc sử dụng các thiết bị trợ giúp cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của bản thân

Thứ hai, tiếp cận một cách bình đẳng với người không khuyết tật với các cơ hội về nhà ở, giao thông vận tải, y tế, giáo dục - đào tạo, việc làm và các phúc lợi, dịch vụ xã hội khác

Thứ ba, được sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng, đặc biệt là dịch vụ người hỗ trợ các nhân, để tiếp cận các cơ hội một cách bình đẳng

Nói một cách khác, để người khuyết tật có thể sống độc lập thì nỗ lực phải đến từ hai phía:

Từ phía bản thân mình, người khuyết tật phải có đủ kỹ năng sống để tự lựa chọn, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan

Trang 28

tới cuộc sống của chính mình, đồng thời thể hiện khả năng của mình để phục

vụ cuộc sống của chính mình và phục vụ cộng đồng như các công dân khác trong xã hội.mai

Từ phía Nhà nước và cộng đồng, sự hỗ trợ chính là việc tạo ra một môi trường không rào cản trong mọi lĩnh vực và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cá nhân để người khuyết tật có thể bình đẳng trong mọi cơ hội và mọi mặt của cuộc sống

Phong trào sống độc lập: là việc tạo ra ý thức xã hội và những chế độ

cần thiết cho cuộc sống tại cộng đồng của những người khuyết tật thông qua sáng kiến của người khuyết tật Việc đổi mới này bao gồm đưa dịch vụ người

hỗ trợ cá nhân thành dịch vụ công, cải tạo đường phố và các công trình xây dựng theo hướng tiếp cận, xóa bỏ kỳ thị và định kiến của xã hội đối với người khuyết tật Ngoài ra, đó còn là quá trình người khuyết tật lấy lại những kinh nghiệm đã bị mất do khuyết tật, nhận ra sức mạnh vốn có của mình Phong trào sống độc lập bắt đầu vào năm 1960 tại Mỹ khi những người khuyết tật cất lên tiếng nói với mong muốn “người khuyết tật cũng phải có quyền lợi giống như mọi người”

Trung tâm Sống độc lập

Trung tâm sống độc lập là nơi hỗ trợ người khuyết tật tự quyết định và lựa chọn cuộc sống của bản thân, tự có trách nhiệm trong cuộc sống của bản thân.Các trung tâm sống độc lập vừa là nơi cung cấp dịch vụ cần thiết để những người khuyết tật sống được trong cộng đồng, vừa là người tổ chức các phong trào Một xã hội mà những người khuyết tật sống thoải mái là một xã hội tất cả mọi người đều có thể sống thoải mái Đó là một hoạt động quan trọng, tác động một cách tích cực đến xã hội, nhằm hướng tới xây dựng một

xã hội tươi đẹp

Trang 29

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Mục đích: Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến việc cá nhân trong mối quan hệ với các chủ thể khác nhau trong xã hội Trong đó đặc biệt

mô tả đến mối liên hệ có sự tác động đến thân chủ Đại diện cho những người theo thuyết hệ thống là Hasson, Macoslee, Siporin,…

Lý thuyết hệ thống- sinh thái trong công tác xã hội [15] cho rằng các hệ thống với tư cách là tập hợp các bộ phận tương tác với nhau và hành xử như một toàn thể thống nhất Với cách tiếp cận đó, khi nghiên cứu các đối tượng

ta quan tâm chủ yếu đến các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố hay thành phần của đối tượng để phát hiện và tìm hiểu những thuộc tính mới có tính toàn thể, mà từng thành phần không thể có được, thường được gọi là tính trội của hệ thống Cùng với tính trội, lý thuyết hệ thống cũng nghiên cứu những thuộc tính quan trọng khác như tính mở, tính có mục tiêu, tính đa chiều, tính

tự tổ chức… của các hệ thống, đặc biệt là của những hệ thống phức tạp Môi trường sinh thái là một phần của ngoại cảnh, nó bao gồm tất cả các yếu tố xung quanh cá thể Môi trường có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển và những hoạt động của cá thể Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên ( ao, hồ, sông, suối….) và môi trường xã hội (gia đình, trường học, cơ quan,…) Tập hợp khái niệm hệ thống sinh thái trong công tác xã hội được hiểu là sự tương tác qua lại cá nhân và môi trường xung quanh Khi tiến hành nghiên cứu đặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường của họ và xem xét sự chi phối của môi trường với đối tượng Môi trường xung quanh đối tượng được chia thành nhiều tầng khác nhau: vi mô-trung mô- vĩ mô

Trang 30

Thuyết hệ thống được ứng dụng trong công tác xã hội nhằm giúp nhân viên công tác xã hội hiểu được các mối quan hệ của thân chủ mà mình trợ giúp Thông qua các hệ thống đó để tìm ra nguồn lực, sự kết nối để giúp thân chủ một cách hiệu quả nhất Những hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là những hệ thống đa dạng: hệ thống gia đình, cộng đồng, hệ thống

xã hội… Hay còn được phân thành các loại hệ thống như sau:

Hệ thống tự nhiên: gia đình, bạn bè, người đưa thư…

Trang 31

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu

Abraham Maslow (1908 - 1970), nhà tâm lý học người Mỹ Ông được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn bởi hệ thống lý thuyết về bậc thang nhu cầu của con người Từ khi ra đời cho tới ngay nay lý thuyết có tầm ảnh hưởng rộng rãi và được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khoa học

Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo, vì vậy lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh, đánh giá cao khả năng của con người và bản thân họ tự quyết định lấy cuộc sống của mình [13] Ông cho rằng con người cần đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển đó

là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Những nhu cầu này được sắp xếp theo thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và có ý nghĩa quan trọng nhất tới nhu cầu cao hơn và ở vị trí thứ bậc thang cao hơn Theo Maslow viên mãn ( đạo đức, sáng tạo chấp nhận thực tế, hoàn toàn tự chủ không bị ràng buộc bởi những khuôn sáo) là tầng cao nhất trong 5 tầng nhu cầu của con người [5]

Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A.Maslow như sau:

Nhu cầu tình cảm:

Tình yêu thương

Nhu cầu an toàn:

Được gắn bó, được bảo vệ, …

Nhu cầu sinh lý:Nhu cầu được sống, được ăn, được uống, …

Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu được hoàn thiện

Trang 32

+ Nhu cầu thể chất/sinh lý:

Đó là những nhu cầu cơ bản nhất trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người nói chung và NKTVĐ nói riêng: như ăn, ở, mặc, đi lại, sức khỏe Nhưng NKTVĐ phụ thuộc nhiều hơn vào ăn, ở, mặc, đi lại, sức khỏe, bởi vì NKTVĐ không có khả năng hoặc rất hạn chế về khả năng tự phục vụ Những khó khăn đó khiến cho họ luôn cảm thấy mình bị phụ thuộc vào người khác dẫn đến tâm lý tự ti, ngại giao tiếp Họ mang trên người những khuyết tật mà những người bình thường không có và phần lớn họ thuộc đối tượng nghèo đói của xã hội Do điều kiện kinh tế và điều kiện sinh hoạt khó khăn nên tình trạng sức khỏe của họ cũng không được tốt lắm Và cũng như những người khác trong xã hội, người khuyết tật vận động cần có nhu cầu sinh lý để đảm bảo điều kiện sống tối thiểu Chính vì vậy, nhu cầu thể chất/sinh lý là nhu cầu quan trọng thứ nhất đối với người khuyết tật vận động

+ Nhu cầu an toàn:

NKTVĐ thường chỉ ở trong một phạm vi nhất định họ không thể chống đối hay có khả năng đề phòng những trường hợp như bạo lực trong gia đình, quấy rối tình dục … cộng đồng nhìn nhận họ với sự ái ngại, thương hại, luôn kỳ thị và nhất là mặc dù sức khỏe không được tốt nhưng việc chăm sóc

về sức khỏe y tế không được chú trọng Vì vậy nhu cầu được an toàn đối với NKTVĐ là quan trọng Vì nếu như điều kiện sống và sinh hoạt an toàn sẽ giúp tâm lý của NKTVĐ cảm thấy thoải mái hơn

+ Nhu cầu tình cảm xã hội hay nhu cầu được yêu thương:

Đó như là nhu cầu cần thiết của xã hội loài người nói chung và của NKTVĐ nói riêng Có một nhà thơ đã từng viết: “ còn gì đẹp trên đời hơn thế người với người sống để yêu nhau” Đúng vậy tình yêu thương giúp cuộc sống của con người trở nên thi vị và có ý nghĩa hơn Sống trên đời ai cũng mong muốn mình được mọi người quan tâm yêu thương Đây còn là một

Trang 33

trong những động lực thôi thúc ý chí và nghị lực của con người Và dù có khuyết tật hay không khuyết tật thì nhu cầu yêu thương luôn luôn được đề cao Với NKTVĐ thì nhu cầu yêu thương càng cần phải có để giúp NKTVĐ hòa nhập cộng đồng Vì nếu không có sự yêu thương, giúp đỡ của mọi người thì cuộc sống của NKTVĐ vô cùng khó khăn, họ cần có sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và của cả cộng đồng Cũng như những thành viên khác trong xã hội, NKTVĐ luôn cần được yêu thương, được quan tâm, chăm sóc của các thành viên trong nhóm xã hội Tình yêu thương, đùm bọc của người thân, bạn bè, cộng đồng sẽ tạo cho họ cảm giác an toàn, được che chở

và được bảo vệ

+ Nhu cầu được tôn trọng:

Đây là nhu cầu quan trọng đối với NKTVĐ Bởi vì họ luôn cần được bình đẳng, được lắng nghe, không bị coi thường, coi trọng, được ghi nhận về

sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân, mong muốn được cộng đồng, gia đình, bạn bè tôn trọng coi họ như là cũng như bình đẳng về tất cả các quyền lợi giống như những người bình thường khác

+ Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển:

Khi được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, NKTVĐ luôn mong muốn được cộng đồng tạo điều kiện để họ có thể được tham gia học tập, làm việc, được cống hiến, được phát huy những khả năng của mình và có thể tự nuôi sống bản thân

Như vậy, để tồn tại và phát triển con người cần phải đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống như: ăn, ở, mặc, chăm sóc y tế, nhu cầu được an toàn, học hành, yêu thương, được tôn trọng và khẳng định mình Xét cho cùng, sự vận động và phát triển của xã hội loài người là nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người Việc đáp ứng các nhu cầu của con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội [15]

Trang 34

1.2.3 Lý thuyết trao quyền

Theo Bradford W Sheafor/Charles R Horejsi: Thuật ngữ trao quyền có nghĩa là uỷ quyền ai đó sức mạnh hay uỷ quyền cho ai đó nắm lấy sức mạnh Ứng dụng trong công tác xã hội, thuật ngữ trao quyền chỉ dẫn cách thức làm việc với thân chủ như sự giúp đỡ họ đạt được sức mạnh của cá nhân, giữa cá nhân với nhau và sức mạnh chính trị [23]

Mục đích: Sử dụng lý thuyết trao quyền nhằm định hướng cho NKTVĐ đạt được quyền ra quyết định và hành động thông qua cuộc sống của họ, qua việc gia tăng khả năng và sự tự tin nhằm sử dụng quyền lực từ môi trường vào thân chủ để cho thân chủ nhìn nhận được; chính bản thân của họ, cũng như tìm kiếm các giải pháp đối với vấn đề của họ

Ứng dụng: Sự kết hợp các quyết định của bản thân cùng với sự tham vấn của nhân viên công tác xã hội giúp NKTVĐ có được tri thức và kỹ năng

để giải quyết vấn đề

Sử dụng lý thuyết trao quyền giúp thân chủ vượt qua những phản hồi xuất hiện từ những đánh giá không tích cực, khi đó họ có thể tự nhìn nhận bản thân để tự có những điều chỉnh phù hợp tác động tới vấn đề của họ

Qua đây cũng giúp phát hiện những hạn chế từ phía người khuyết tật vận động và có sự hỗ trợ kịp thời để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất

1.2.4 Lý thuyết trị liệu nhận thức - thay đổi hành vi

Lý thuyết trị liệu hành vi là một trong những lý thuyết cơ bản của công tác xã hội Những người theo trường phái này được xem như vừa là nhà lý luận vừa là nhà kỹ thuật Giả thuyết cơ bản của trường phái này cho rằng những hành vi tập nhiễm có được qua quá trình học tập và nó có thể thay đổi, điều chỉnh qua học tập có điều kiện Trị liệu hành vi tập trung chú ý tới việc thay đổi hành vi hiện tại và tạo lập chương trình hành động [34]

Trang 35

Mục đích: Tăng cường chức năng xã hội bằng việc hỗ trợ thân chủ học những cách thức xác thực và rõ ràng về việc lĩnh hội, tư duy và giải thích những trải nghiệm cuộc sống của chính mình

Ứng dụng: Cách tiếp cận này yêu cầu thân chủ phải có khả năng nhận thức cần thiết và sẵn sàng đầu tư thời gian cần thiết để giám sát và phân tích các cách thức mà mình tư duy đồng thời thực hành các kỹ thuật được thiết lập

để thay đổi những thói quen cố hữu trong suy nghĩ của mình

Áp dụng lý thuyết trong việc trợ giúp thân chủ giải quyết vấn đề của mình, từ bỏ những thói quen xấu ảnh hưởng tới bản thân người khuyết tật vận động, học hỏi những thói quen tốt để nâng cao năng lực bản thân mình hơn nữa

1.3 Đặc điểm của người khuyết tật vận động

Khó khăn trong việc di chuyển, có một số người đôi tay vẫn hoạt động bình thường, khả năng nhận thức tốt Tuy chậm hơn so với người bình thường nhưng bù lại họ có sự chăm chỉ, và rất tập trung trong công việc, ít bị phân tán bởi các hoạt động bên ngoài như đi chơi, du lịch, mua sắm… Bản thân người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng rất giàu ý chí và nghị lực mà điều này không phải người bình thường nào cũng làm được Phải chứng kiến cảnh những người khuyết tật vận động rất khó khăn trong việc đi

vệ sinh hàng ngày, những vết bầm tím, xây sát trên cơ thể mà không có một chút cảm giác đau mới thấy được sức chịu đựng của họ lớn đến nhường nào?

Do đặc thù về dạng khuyết tật nên thu nhập của người khuyết tật vận động trong các công việc được trả lương rất thấp mặc dù hiệu quả công việc của họ mang lại không thấp Nhưng các doanh nghiệp, chủ lao động thường lấy lí do khác nhau để chèn ép người lao động là người khuyết tật Thêm vào

đó yếu tố sức khỏe, vệ sinh cá nhân của NKTVĐ cũng là một trở ngại rất lớn khi họ đi xin việc Với những công việc đòi hỏi về sức khỏe thì NKTVĐ khó

có thể đáp ứng vì tình trạng sức khỏe của họ không đáp ứng được NKTVĐ

Trang 36

thích hợp hơn với những công việc là lao động trí óc Tuy nhiên, số lượng NKTVĐ tự tìm kiếm việc làm và có một thu nhập ổn định từ công việc của mình là rất ít Do đó sự hỗ trợ của gia đình và xã hội là hết sức cần thiết

Về sức khỏe, sức đề kháng trong cơ thể yếu nên những khi trái nắng dở trời người khuyết tật vận động hay bị đau nhức, mất ngủ, ăn uống giảm… dễ

bị xúc động và nóng giận Tình trạng này kéo dài NKTVĐ thường có cảm giác bi quan, trầm cảm… một số còn có hành vi tự hủy hoại bản thân Không

tự chủ được trong vấn đề vệ sinh cá nhân khiến họ hay ngại ngùng khi đi tham gia các hoạt động xã hội Chính vì vậy sự cảm thông, quan tâm chăm sóc, trợ giúp của gia đình, bạn bè, các tổ chức xã hội là một yếu tố vô cùng quan trọng để người khuyết tật có thể hòa nhập với cuộc sống, với cộng đồng

Về giới tính: số hội viên ở Trung tâm nữ nhiều hơn nam, phần lớn các hội viên trong trung tâm đang sống độc thân, có một số ít hội viên có cơ hội kết hôn và lập gia đình Hầu hết các hội viên đều đang sống và làm việc trên địa bàn Hà Nội Mỗi người có một hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau Bên cạnh những hội viên sống chung cùng gia đình như: bố, mẹ, anh chị…thì cũng có một số hội viên đến từ những tỉnh lẻ thuê phòng trọ ở cùng bạn bè Các hội viên này gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống vì bản thân họ cũng phải bươn chải để có thể ở lại thủ đô

Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật vận động của các hội viên cũng khác nhau Theo kết quả điều tra trong phiếu hỏi thì có 40% số hội viên bị khuyết tật vận động là do bẩm sinh, 35% số hội viên bị khuyết tật là

do gặp tai nạn, 20% là do biến chứng của các bệnh như sởi, bại liệt, 5% là do không gặp may mắn trong các cuộc phẫu thuật chỉnh hình Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật khác nhau cũng là một trong những yếu tố chi phối tâm lý của người khuyết tật Ví dụ như những hội viên bị khuyết tật vận động bẩm sinh thì họ dễ dàng chấp nhận cách nhìn nhận của xã hội về bản thân họ

Trang 37

hơn là những hội viên bị khuyết tật do tai nạn hoặc do các nguyên nhân khác Đặc biệt là người bình thường trở thành người khuyết tật vận động sau tai nạn thì hầu hết bản thân họ đều bị “sốc tâm lý” một thời gian khá dài Những người này, họ thường né tránh thực tại, họ không thể chấp nhận khuyết tật ở

cơ thể mình, họ tự ti, chán nản và thu mình vào một khoảng không gian nhỏ hẹp, không muốn tiếp xúc, nói chuyện với ai Một thời gian sau đó nếu như có

sự động viên, trợ giúp từ phía những người sống bên cạnh họ, họ dần dần chấp nhận thực tế và có thái độ sống tích cực hơn

1.4 Đặc điểm của Trung tâm Sống độc lập

Trung tâm Sống độc lập của NKT Hà Nội được hình thành bắt nguồn

từ một dự án do nhóm "Vì tương lai tươi sáng" của NKT Hà Nội thực hiện với sự hỗ trợ của Hội Người khuyết tật thành phố Hà Nội, Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam và Tổ chức người khuyết tật quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương, do Quỹ Nippon Nhật Bản tài trợ Trung tâm Sống độc lập Hà Nội đã chính thức được khai trương ngày 16/2/2009 và trụ sở văn phòng đặt tại ngôi nhà số 42 phố Kim Mã Thượng,

Ba Đình, Hà Nội

1.4.1 Nguyên tắc hoạt động của một Trung tâm Sống độc lập

Lãnh đạo chủ chốt là người khuyết tật (Chủ tịch và thư ký của Trung tâm Sống độc lập là những người khuyết tật)

Hơn 51% các thành viên chủ chốt của Trung tâm Sống độc lập là người khuyết tật Các thành viên chủ chốt, cốt cán này sẽ đảm nhiệm những công việc ở từng lĩnh vực khác nhau ví dụ như truyền thông, viết bản tin, tham vấn viên, viết dự án, lên kế hoạch cho các chương trình hội thảo…

Cung cấp các dịch vụ tư vấn đồng đẳng, thiết kế chương trình đào tạo

kỹ năng sống độc lập, cung cấp người hỗ trợ cá nhân (người không khuyết tật

hỗ trợ người khuyết tật) và cung cấp thông tin về phúc lợi xã hội, cách sửa chữa nhà cửa theo hướng tiếp cận …)

Trang 38

Đối tượng phục vụ: là người khuyết tật thuộc tất cả các dạng Hiện tại đối tượng phục vụ của trung tâm là người khuyết tật vận động Tất cả các thành viên trong trung tâm đều thuộc dạng khuyết tật đặc biệt nặng và cần có

sự trợ giúp từ các nguồn lực khác nhau

1.4.2 Mục đích và mục tiêu của Trung tâm Sống độc lập

Mục đích của Trung tâm Sống độc lập

Hỗ trợ từng cá nhân khuyết tật để họ phát huy được tiềm năng của mình ở mức cao nhất ngay tại gia đình và cộng đồng

Trung tâm Sống độc lập là một bằng chứng chứng tỏ khả năng của người khuyết tật họ có thể sống độc lập nếu như có sự trợ giúp từ các tổ chức,

cá nhân, gia đình và cộng đồng Ngoài ra, trung tâm đứng ra tổ chức các cuộc vận động để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận nhà ở, việc làm, giao thông, giao tiếp, các phương tiện giải trí và các dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội một cách bình đằng như mọi người trong xã hội

Mục tiêu của Trung tâm Sống độc lập

Giúp người khuyết tật lấy lại sự tự tin trong cuộc sống Giúp người khuyết tật lấy lại những kinh nghiệm đã mất Giúp người khuyết tật xây dựng lại các mối quan hệ con người để họ có thể kết nối với các nguồn lực

ở bên ngoài

1.4.3 Đối tượng phục vụ của Trung tâm Sống độc lập

Trong ba năm đầu của dự án trung tâm sẽ cung cấp dịch vụ cho nhóm đối tượng đầu tiên là những người khuyết tật nặng dạng bại não, tổn thương cột sống và bại liệt cần sử dụng xe lăn và một trường hợp thí điểm là người khuyết tật mắc bệnh xương thủy tinh, những người khuyết tật này thuộc bảy quận nội thành trên địa bàn Hà Nội, trong những năm tiếp theo các dịch vụ của trung tâm sẽ hướng đến người khuyết tật thuộc tất cả các dạng tật không chỉ trong địa phận thành phố Hà Nội mà còn vươn tới các địa phương khác

Trang 39

trong cả nước Hiện nay các dạng khuyết tật được sự hỗ trợ của Trung tâm sống độc lập bao gồm:

Bại não: Khuyết tật chỉ gây ảnh hưởng đến khả năng nói và vận động

không ảnh hưởng đến khả năng tư duy Nguyên nhân dẫn đến dạng khuyết tật này là do bẩm sinh, biến chứng sau khi bị sốt Biểu hiện của dạng tật này là các cơ co cứng, hay giật mình kèm theo nói khó, khi người khuyết tật có tuổi thì những cơn co giật này thường tạo ra các tổn thương thứ cấp Có người muốn kéo mạnh để dãn các cơ ra

Người bị tổn thương cột sống: Nguyên nhân dẫn đến dạng tật này thường do bị tai nạn hoặc do bẩm sinh… biểu hiện nửa thân dưới không có cảm giác, đôi khi không có cảm giác từ ngực trở xuống Tổn thương có thể gây ảnh hưởng sức khỏe toàn thân

Bại liệt: Do bẩm sinh, sốt bại liệt, hoặc do di truyền Bại liệt hai chân,

yếu toàn thân, teo cơ bộ phận hoặc toàn thân, yếu cơ lưng, cơ hông, cơ cổ cơ thể to ta do ngồi nhiều Có thể bị ngã ra ngoài xe lăn hoặc gật cổ ra đằng sau nếu người đẩy xe không chú ý khi đi lên, xuống đường dốc, hay đi ngang qua đường rãnh, khi người khuyết tật vươn tay với vật ở trên cao hay dưới đất Đôi khi người khuyết tật cần cố định tư thế ngồi

Teo cơ: Nguyên nhân chưa rõ, có thể do di truyền Biểu hiện các cơ teo

dần, bị mất lực, khớp rất yếu, dễ bị trật khớp Chú ý giữ đầu khi di chuyển, nâng đỡ nhẹ nhàng, không buông tay đột ngột Thường bị khó thở, khi đó cần được hút đờm hoặc mở khí quản

Đây là nhóm đối tượng thuộc dạng khuyết tật nặng họ muốn di chuyển thì phải có xe lăn và người hỗ trợ, họ cần được sự cảm thông và giúp đỡ của toàn thể cộng đồng, họ có nhu cầu hòa nhập với cộng đồng, muốn tự quyết các vấn đề của mình, họ mong được học hỏi, được giao lưu, được làm việc và được cống hiến cho xã hội Họ mong muốn được bình đẳng với mọi người

Trang 40

trong việc tiếp cận các cơ hội về việc làm, nhà ở, giao thông, giáo dục và các dịch

vụ xã hội khác

1.4.4 Tổ chức nhân sự và ngân sách hoạt động

Tổ chức nhân sự: Trung tâm Sống độc lập gồm 5 người, trong đó bao

gồm cả giám đốc và cán bộ điều phối Trong đó mỗi người có một chức trách

và đảm nhận những công việc khác nhau Giám đốc dự án bà Nguyễn Hồng

Hà là người lãnh đạo các hoạt động như xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động và đôi khi thay đổi chúng để làm cho chúng phù hợp hơn với tình hình thực tế Bà cũng có một số cuộc thảo luận với giám đốc điều hành về việc thiết lập chiến lược và kế hoạch hoạt động Ngoài ra, giám đốc dự án có trách nhiệm phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cho các nhân viên của Trung tâm Sống độc lập

Giám đốc quản lý của Trung tâm Sống độc lập là bà Nguyễn Bích Thủy- một người khuyết tật chịu trách nhiệm thực hiện các kế hoạch và chiến lược được giao bởi giám đốc dự án

Trung tâm có hai điều phối viên trong đó anh Cương là người phụ trách

về mảng người hỗ trợ cá nhân là nam, chị Hạnh là người phụ trách điều phối người hỗ trợ cá nhân là nữ Hai người này có trách nhiệm phân công địa bàn làm việc, thời gian làm việc, tổng hợp kết quả thời gian làm việc của các bạn

là người hỗ trợ cá nhân ( personal assistant- viết tắt là PA) để tính lương cho

PA Tham gia hỗ trợ các chương trình hội thảo, tham quan, du lịch của các hội viên người khuyết tật trong trung tâm

Thư ký kiêm kế toán là chị Thu Cúc phụ trách về các vấn đề liên quan đến tài chính của trung tâm như cấp phát lương cho nhân viên, cho PA, thu hội phí, thanh toán phiếu tiền taxi…

Ngày đăng: 20/08/2015, 11:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 :  Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Sống độc lập - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Sống độc lập (Trang 41)
Bảng 2: Đánh giá về những kinh nghiệm mà các thành viên có được - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
Bảng 2 Đánh giá về những kinh nghiệm mà các thành viên có được (Trang 57)
Bảng 4: So sánh người hỗ trợ cá nhân với tình nguyện viên - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
Bảng 4 So sánh người hỗ trợ cá nhân với tình nguyện viên (Trang 71)
Bảng 5: Mức độ về sự hài lòng của người khuyết tật và gia đình người - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
Bảng 5 Mức độ về sự hài lòng của người khuyết tật và gia đình người (Trang 78)
3.2.1.4. Sơ đồ sinh thái của thân chủ - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
3.2.1.4. Sơ đồ sinh thái của thân chủ (Trang 88)
BẢNG KẾ HOẠCH TRỢ GIệP THÂN CHỦ - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
BẢNG KẾ HOẠCH TRỢ GIệP THÂN CHỦ (Trang 89)
Bảng 8: Lượng giá về tiến trình trợ giúp thân chủ - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
Bảng 8 Lượng giá về tiến trình trợ giúp thân chủ (Trang 102)
2. BẢNG HỎI DÀNH CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG - Mô hình trợ giúp người khuyết tật vận động tại trung tâm sống độc lập 42 kim mã thượng, ba đình, hà nội
2. BẢNG HỎI DÀNH CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w