Lasswell Bảng 1.2: Các phần tử của mô hình truyền thông xúc tiến hỗn hợp Hảng 2.1: Hình ảnh thể hiện công tác tuyên truyền trong công tác dồn điền đổi thửa Hình 2.2: Sự tham gia của ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ VĂN ĐÁNG
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Công tác xã hội
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ VĂN ĐÁNG
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN BA VÌ,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc Gia Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Mai Hồng đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy cô trong khoa Xã hội học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành tốt khóa học
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Chính quyền các cấp của huyện
Ba Vì, các xã Châu Sơn, Tản Hồng, Đồng Thái và Phú Phương đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập thông tin nghiên cứu tại địa phương
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng cả sự nhiệt tình, tâm huyết và năng lực của của bản thân, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, tháng 3 năm 2015
Học viên
Lê Văn Đáng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiên dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Nguyễn Thị Mai Hồng Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Lê Văn Đáng
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 6
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 7
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG CHÍNH 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Các khái niệm công cụ 11
1.1.1.1 Vai trò 11
1.1.1.2 Công tác xã hội và vai trò của công tác xã hội 14
1.1.1.3 Công tác dồn điền đổi thửa 21
1.1.1.4 Truyền thông và kỹ năng của truyền thông 23
1.1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 26
1.1.2.1 Lý thuyết vai trò xã hội 26
1.1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi 28
1.1.2.3 Thuyết nhu cầu của Maslow 30
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 33
1.2.2 Khái quát chung về huyện Ba Vì 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
Trang 62.1 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì 40
2.1.1 Phương án dồn điền đổi thửa 40
2.1.1.1 Thành lập tiểu ban dồn điền đổi thửa 40
2.1.1.2 Nội dung phương án dồn điền đổi thửa 41
2.1.1.3 Phương pháp dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì 41
2.1.2 Kết quả công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì 44
2.1.3 Những tồn tại trong công tác dồn điền đổi thửa 52
2.1.4 Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì 54
2.2 Thực trạng vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 55
2.2.1 Vai trò vận động, kết nối nguồn lực 55
2.2.2 Vai trò tư vấn, tham vấn 57
2.2.3 Vai trò trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng 60
2.2.4 Vai trò tuyên truyền, vận động chính sách 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 65
3.1 Những giải pháp chung 65
3.2 Vận dụng kỹ năng truyền thông nhằm nâng cao vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 67
3.2.1 Kỹ năng truyền thông trong công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Ba Vì 67 3.2.2 Xây dựng mô hình truyền thông nhằm nâng cao vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH Công tác xã hội CTV Cộng tác viên DĐĐT Dồn điền đổi thửa GD- ĐT Giáo dục, đào tạo NTM Nông thôn mới
LĐ-TB&XH Lao động thương binh và xã hội
MTTQ Mặt trận tổ quốc UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
Bảng 1.1: Mô hình truyền thông của H Lasswell
Bảng 1.2: Các phần tử của mô hình truyền thông xúc tiến hỗn hợp
Hảng 2.1: Hình ảnh thể hiện công tác tuyên truyền trong công tác dồn điền đổi thửa
Hình 2.2: Sự tham gia của người dân trong công tác dồn điền đổi thửa
Hình 2.3: Nhân dân bức xúc do thiếu, thừa diện tích trong quá trình dồn điền, đổi thửa
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và thực hiện nhiều chương trình, chính sách quốc gia với mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay một trong các chương trình cấp bách đã và đang được thực hiện đó chính là công tác dồn điền đổi thửa Thành phố Hà Nội cũng đang đẩy mạnh mẽ công tác này Nếu tiến hành thành công DĐĐT sẽ có tác động tích cực tới hầu hết 19 tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới Chính vì vậy , để triển khai thắng lợi Chương trình 02-CTr/TU, Ban chỉ đa ̣o Thành Phố Hà Nội
đã xác định một trong những khâu đột phá là tập trung chỉ đạo thực hiện công tác DĐĐT diện tích đất nông nghiệp không nằm trong quy hoạch công nghiệp
và quy hoạch đô thị
Ngay sau khi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 09/5/2012 và Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn có Hướng dẫn số 29/HD-SNN về "Quy trình thực hiện công tác DĐĐT đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”, các huyện, thị xã đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch và ban hành nghị quyết về công tác DĐĐT , đồng thời giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể để các xã căn cứ phấn đấu thực hiện Các xã
đã bám sát hướng dẫn của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tiến hành xây dựng phương án DĐĐT trình duyệt, đồng thời rà soát nhân khẩu, hộ
Trang 10khẩu, diện tích đất nông nghiệp giao theo Nghị định số 64/CP, một số xã đã
và đang tiến hành đo đạc, quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng
Trong xây dựng nông thôn mới, khó khăn nhất là việc dồn điền đổi thửa, bởi liên quan đến đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân Cũng vì thế, dồn điền đổi thửa là tiền đề mang tính quyết định nhất đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới Hà Nội có một vùng nông thôn rộng lớn và là một trong những địa phương làm tốt việc xây dựng
và phát triển nông thôn mới, trong đó có việc dồn điền đổi thửa Cho đến nay, toàn thành phố đã hoàn thành phần lớn các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới;
có những huyện có hàng chục xã hoàn thành về cơ bản các chỉ tiêu, huyện nào cũng có những xã "về đích" sớm so với kế hoạch xây dựng nông thôn mới Tất cả các huyện và xã hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu đều đã làm tốt và rút ra được nhiều bài học quý về dồn điền đổi thửa Sau khi triển khai xong việc dồn điền đổi thửa, không chỉ mở ra nhiều triển vọng làm ăn lớn mà tình xóm làng, nghĩa tương thân tương ái trong nông dân cũng tăng lên, niềm tin vào tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở cũng tăng theo
Tuy nhiên, như đã nói, dồn điền đổi thửa là vấn đề khó và hơn thế còn rất nhạy cảm Trong quá trình dồn điền đổi thửa ở các địa phương đã xuất hiện rất nhiều vấn đề vướng mắc liên quan đến quyền lợi của người nông dân như hoán đổi ruộng xấu, ruộng tốt; ruộng xa ruộng gần; ruộng gần nguồn nước thuận tiện canh tác và ruộng nhiều mồ mả, không vuông vắn, khó canh tác; ruộng trong và ngoài quy hoạch; ruộng thiếu hoặc thừa diện tích… Chính vì những điều đó mà
Hà Nội vẫn còn trên diện tích rất lớn chưa dồn điền đổi thửa xong Nhiều xã chưa hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới chỉ vì những vướng mắc trong khâu này Nhiều nơi đã xuất hiện khiếu kiện, tranh chấp, mâu thuẫn nội bộ, bỏ ruộng không canh tác hoặc bỏ hoang hóa dù đã chậm thời vụ
Thực trạng trên rõ ràng đã gây bức xúc trong dư luận, làm chậm tiến độ một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông
Trang 11thôn Để khắc phục những bất cập này, quá trình triển khai dồn điền đổi thửa ở các địa phương cần chống bệnh hình thức, bệnh thành tích; bảo đảm công khai minh bạch, hợp với nguyện vọng chính đáng của người dân Đặc biệt, quá trình thực hiện cũng chính là "liều thuốc thử" đối với tính tiền phong gương mẫu, chí công vô tư, hy sinh quyền lợi bản thân vì lợi ích chung của cán bộ, đảng viên Chỉ có như vậy mới tạo nên sự đồng thuận của nhân dân, bởi: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" Sự đồng thuận của nhân dân chính là yếu tố làm nên thành công của công tác dồn điền đổi thửa nói riêng và công cuộc xây dựng nông thôn mới nói chung
Đây là một công việc gắn liền với lợi ích trực tiếp của người nông dân Vì vậy để công việc này vừa hợp lòng dân lại đúng với kế hoạch được
đề ra thực sự là một bài toán khó Trong thời gian qua huyện Ba Vì của thành phố Hà Nội đã đẩy mạnh thực hiện công tác này
Năm 2013, huyện Ba Vì đã có nhiều khởi sắc trong phát triển kinh tế -xã hội, trong đó điểm nhấn trong phát triển nông nghiệp bền vững là vận động nhân dân dồn điền đổi thửa Để đạt được thành công trong công tác này trước hết phải kể đến sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc huyện Ba Vì; đặc biệt là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ lãnh đạo đến các cán bộ thôn, xóm, hợp tác xã trên địa bàn huyện Huyện Ba Vì đã có những xã hoàn thành tốt kế hoạch đề ra
Tuy nhiên có rất nhiều xã đã gặp phải nhiều khó khăn khi thực hiện công tác DĐĐT Hiện nay, trên địa bàn huyện đã có những cán bộ kiêm nhiệm công tác xã hội tham gia công tác này Vậy kết quả thực sự như thế nào và vai trò của công tác xã hội đã được thể hiện như thế nào trong công tác dồn điền đổi thửa tại đây Để làm rõ hơn được vai trò công tác xã hội tôi đã quyết định lựa
chọn và thực hiện đề tài: “Vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền
đổi thửa tại huyện Ba Vì- thành phố Hà Nội”
Trang 122 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hiện nay công tác dồn điền đổi thửa đã và đang diễn ra ở nhiều nơi Phần lớn đều áp dụng chuyển đổi từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn để tích tụ ruộng đất, hình thành các trang trại chăn nuôi, trồng trọt theo mô quy mô lớn với hiệu quả cao hơn
Dồn điền đổi thử a tuy không phải là một tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới nhưng có tác động tích cực, quyết định sự thành công của quá trình này Theo lời của ông Lê Thiết Cương, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển Nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đưa ra tại buổi giao ban báo chí Thành ủy Hà Nội chiều ngày 1 tháng 4 năm 2014: “Chương trình 02-CTr/TU về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011-2015 do Thành ủy Hà Nội ban hành (tháng 8-2011), chỉ trong một thời gian ngắn gần 2 năm (từ tháng 5-2012 đến tháng 2-2014) toàn thành phố đã DĐĐT được một khối lượng diện tích đất nông nghiệp lớn là 73.237,03ha/ 76.365,07ha (bằng 95,9% kế hoạch) Tuy nhiên, đến nay Hà Nội vẫn còn 4,1% (3.128,04ha theo kế hoạch và 572,01ha đăng ký tăng thêm) chưa thực hiện DĐĐT xong, nằm rải rác trên địa bàn 48 xã thuộc 12 huyện” Nguyên nhân một số địa phương do nhiều lý do đã để nhân dân phản ứng tụ tập khiếu kiện đông người gây mất trật tự an ninh, thậm chí thành điểm nóng ảnh hưởng đến phong trào chung của toàn thành phố trong việc xây dựng nông thôn mới; một số địa phương vẫn để đất ruộng hoang Những tồn tại trên là do sự vào cuộc của một số chính quyền địa phương chưa tập trung, quyết liệt, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân vẫn còn hạn chế, chưa tích cực để người dân thấy được lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của công tác DĐĐT Công tác DĐĐT là một việc làm khó, đòi hỏi cán bộ trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện phải có tâm huyết, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ Tuy nhiên, trên thực tế, cán bộ làm công tác DĐĐT đều là cán bộ kiêm nhiệm, năng lực chuyên môn chưa phù hợp với công việc được giao, khối
Trang 13lượng công việc lớn… nên cán bộ ở một số địa phương ngại, không muốn làm, đã đăng ký rồi nhưng xin để lại với nhiều lý do
Những khó khăn này không chỉ xảy ra ở Hà Nội mà còn diễn ra trên nhiều tỉnh thành trên cả nước Từ thực tế đó đã có một số những đề tài có liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa sau:
Huỳnh Văn Chương, Nguyễn Thị Đoan khoa tài nguyên đất và môi
trường nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Huế với đề tài: “Thực tiễn công tác
dồn điền đổi thửa và tác động đến nông nghiệp và nông thôn tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách tiếp
cận và nghiên cứu thực địa Nghiên cứu đã chỉ ra những thuận lợi sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa và những khó khăn bất cập sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa Nghiên cứu chủ yếu đưa ra những nội dung liên quan đên quá trình sử dụng đất
Vũ Hào Quang (2013), “Biến đổi xã hội nông thôn trong quá trình
dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và đô thị hóa” Việc nghiên cứu này
được thực hiện tại tỉnh Hải Dương với tư cách là một cuộc nghiên cứu trường hợp Trong cuốn sách này, tác giả đã miêu tả sơ lược về sựu biến đổi các cơ cấu xã hội trong bối cảnh tỉnh Hải Dương là một trong những tỉnh có quá trình đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ, trong khi đó, quá trình tích tụ ruộng đất lại diễn ra khá chậm chạp và khó khăn Từ đó tìm ra nguyên nhân chủ quan và khách quan của các quá trình này Tuy nhiên cuốn sách này chủ yếu tập trung nghiên cứu và phân tích những nguyên nhân chủ quan, đó là khả năng thích ứng của người nông dân dưới tác động của những nhân tố đô thị hóa, tích tụ ruộng đất và dồn điền đổi thửa với tư cách là những nhân tố khách quan Những biến đổi về hệ thống giá trị với tư cách là nhân tố điều chỉnh hành vi của các chủ thể hành động sẽ cho chúng ta thấy khả năng thích ứng của những người dân đang sống ở nông thôn hiện nay trước sự biến đổi chức năng của xã hội nông thôn từ
Trang 14một xã hội tự cung tự cấp bị điều tiết của kinh tế thị trường Công trình này nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Hải Dương là một mô hình điển hình về biến đổi xã hội dưới tác động của đô thị hóa, tích tụ ruộng đất và dồn điền đổi thửa ở Việt Nam hiện nay
Đào Thế Anh (2014), Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu thực tiễn dồn
điền đổi thửa ở một số tỉnh và đề xuất chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở đồng bằng sông Hồng” Báo cáo này
thể hiện thực tiễn dồn điền đổi thửa tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng Những hiệu quả từ công tác dồn điền đổi thửa cũng như những điểm còn tồn tại, từ đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa
Như vậy, hiện nay có rất ít đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực dồn điền đổi thửa ở nước ta Nếu có thì chủ yếu tập trung vào quá trình cấp và sử dụng đất cho người dân mà chưa chú ý tới tâm tư, nguyện vọng, công tác tư tưởng, truyền thông với người dân Tuy nhiên theo những gì mà cá nhân tôi tìm hiểu thì chưa có đề tài nào nghiên cứu về vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
Trang 15công tác xã hội được thực hiện và mang lại hiệu quả thì có thể nhân rộng ra các địa phương khác tại thành phố Hà Nội và trên cả nước Đề tài sẽ đóng góp những kinh nghiệm thực tế cho quá trình xây dựng và thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên cả nước
4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa
4.2 Khách thể nghiên cứu
Luận văn tiến hành phỏng vấn sâu trên số khách thể là 20 người dân trên địa bàn điển cứu là 4 xã Châu Sơn, Tản Hồng và Phú Phương và Đồng Thái
Cơ quan chính quyền các cấp tại huyện Ba Vì là 4 người
Những người làm công tác giảm nghèo, công tác an sinh xã hội, công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Ba Vì là 4 người
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Công tác dồn điền đổi thửa từ năm 2011 đến nay Địa bàn nghiên cứu: Đề tài chọn 4 xã là Châu Sơn, Tản Hồng, Phú Phương và Đồng Thái làm địa bàn nghiên cứu cho đề tài Ngoài ra luận văn đề cập tới vai trò của công tác xã hội trong đó nhấn mạnh tới vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa như vai trò vận động và kết nối nguồn lực, vai trò tư vấn, tham vấn, vai trò trợ giúp xây dựng kế hoạch cộng đồng Đặc biệt luận văn chú trọng tới vai trò tuyên truyền, vận động chính sách trong quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 16Nâng cao vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì
Những chương trình chính sách liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa Vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện
Ba Vì
Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì được tổ chức thực hiện và có kết quả như thế nào?
Huyện Ba Vì đã triển khai những chính sách gì nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác dồn điền đổi thửa?
Vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa được thể hiện trong thời gian qua như thế nào ở huyện Ba Vì?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì đã được thực hiện trong
thời gian qua và mang lại những hiệu quả thiết thực, tuy nhiên công tác này
đã gặp phải không ít khó khăn
Huyện Ba vì đã triển khai nhiều chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác dồn điền đổi thửa
Công tác xã hội bước đầu đã thể hiện được vai trò quan trọng khi đã góp phần mang lại hiệu quả trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì thông qua lồng ghép vai trò vào một số hoạt động xã hội
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài nghiên cứu những kế hoạch, chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới của chính phủ Đề tài nghiên cứu kế hoạch của thành Ủy Hà
Trang 17Nội về công tác dồn điền đổi thửa Đề tài nghiên cứu những tài liệu có sẵn, nguồn tài liệu là những tài liệu chính thức, công khai: báo chí, các giáo trình, các báo cáo, các giấy tờ chính thức của các nhà quản lý, các cơ quan tổ chức liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa
Đặc điểm quan trọng của phân tích hình thức hóa các nhà nghiên cứu phải xác định được các chỉ báo trên cơ sở mục tiêu của đề tài, phù hợp với những khía cạnh nhất định của nội dung đề tài, tiến hành thống kê và đo lường chúng
Đề phục vụ đề tài nghiên cứu, tác giả đã nghiên cứu các báo cáo về công tác giảm nghèo của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, các tờ trình đề án
về chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Ba Vì, của thành phố Hà Nội và của chính phủ đã được đưa ra Từ đó nắm được tình hình công tác giảm nghèo và quá trình thực công tác dồn điền đổi thửa trong thời gian qua
và phương hướng trong thời gian tới tại huyện Ba Vì
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp 20 người dân trên địa bàn 4 xã Tản Hồng, Châu Sơn, Phú Phương và Đồng Thái Tác giả cũng phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ lãnh đạo tại các xã và những người trong ban công tác dồn điền đổi thửa là 8 người Trong đó bao gồm cả những người
đã thực hiện dồn điền đổi thửa xong và những người chưa thực hiện công tác dồn điền đổi thửa Với việc phỏng vấn sâu nhiều người dân khác nhau, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những người trong ban công tác dồn điền đổi thửa sẽ cho chúng ta cách nhìn cụ thể về công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì Nội dung của các cuộc phỏng vấn sâu chính là những quan điểm, chính sách, tâm tư, nguyện vọng và nhu cầu của người dân lien quan đến công tác dồn điền đổi thửa Từ đó chỉ ra những lợi ích, hiệu quả cũng như những bất cập, tồn tại trong công tác dồn điền đổi thửa để có thể đề ra những giải pháp hiệu quả hơn trong thời gian tới
Trang 188.3 Phương pháp quan sát
Tác giả đã quan sát người dân trên địa bàn huyện bằng cách tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất để tìm hiểu về công tác dồn điền đổi tại địa phương Tác giả quan sát về thái độ của người dân trong công tác dồn điền đổi thửa Từ đó có được nhưng thông tin xác thực nhất để có thể phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận văn
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa và vai trò của công tác
xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Trang 19NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trong các khoa học xã hội nói chung và xã hội học nói riêng, có bốn hướng tiếp cận lí thuyết về vai trò
Theo hướng tiếp cận tâm lí học xã hội của MAISONNEUVE Jean (1973), khi bàn đến vai trò thì cần bàn đến ba khía cạnh hay ba cấp độ: (1) cấp độ thiết chế; (2) cấp độ cá nhân và (3) cấp độ tương tác giữa thiết chế và cá nhân
Ở cấp độ thiết chế, “vai trò là toàn thể các hành vi mang tính chuẩn mực
của một tác nhân khi tác nhân ấy có một địa vị xã hội Những chuẩn mực hành vi ấy phù hợp với các biến số tuổi, giới tính, nghề nghiệp, vị thế gia đình
và vị thế chính trị” Dựa vào định nghĩa vai trò ở cấp độ thiết chế như vậy, tác
giả này phân biệt vai trò mang tính thiết chế và vai trò mang tính chức năng
Ở nghĩa vai trò mang tính thiết chế, tác giả nhấn mạnh yếu tố chuẩn mực hành
vi trong thiết chế của các chủ thể, trong khi đó, ở nghĩa vai trò mang tính chức năng, tác giả nhấn mạnh đến hoạt động của các tác nhân ở trong các nhóm xã hội thuộc thiết chế Trên cơ sở này, Bales đã mô tả mô hình hành vi của các tác nhân trong các nhóm nhỏ là thường định hướng hoạt động của mình theo nhiệm vụ chung của nhóm Trong trường hợp ấy, vai trò mang tính chức năng thường được phân tích ở cấp độ liên cá nhân, ở cấp độ xúc cảm tích cực hay tiêu cực Bên cạnh đó, một vài tác giả khác như BENNET và SHEATS tập trung phân tích định hướng hành vi của các tác nhân đến nhiệm vụ của nhóm
Trang 20mà họ là thành viên để duy trì sự cố kết nhóm và mức độ đáp ứng nhu cầu cho các thành viên nhóm
Ở cấp độ cá nhân, nhờ có vai trò mà cá nhân có thể diễn đạt được nhân cách và bản sắc của bản thân
Ở cấp độ tương tác giữa cấu trúc xã hội và cá nhân, MAISONNEUVE nêu lên khái niệm vai trò kì vọng và sự tiến triển bên trong của vai trò Trên
cơ sở ấy, “vai trò kì vọng là quá trình mường tượng trước các mô hình hành vi của tác nhân khác theo các vị thế xã hội và tình huống xã hội Căn cứ theo quá trình phát triển các tương tác giữa cá nhân và cấu trúc xã hội, có thể có sự biến đổi mô hình hành vi hướng đến người khác”
Theo hướng tiếp cận chức năng trong xã hội học của FILLOUX, vai
trò được hiểu theo cách của MERTON như sau: “Cấu trúc xã hội là sự sắp
xếp các vai trò và vị thế, tức là tổng thể vai trò và vị thế gắn kết với nhau và những chuỗi hành vi được sinh ra từ sự gắn kết ấy” Cũng trên tinh thần ấy,
khi bàn đến nền tảng văn hóa của con người, LINTON đã đưa ra quan niệm
như sau về vai trò: “Vai trò là khái niệm để chỉ thái độ, giá trị và hành vi mà
xã hội gán cho một người có một địa vị” Cũng cần phải lưu ý rằng, ở một địa
vị xã hội tương đương với không chỉ một vai trò, mà là nhiều chuỗi vai trò phối hợp Như vậy, vai trò thể hiện tính chức năng và luôn luôn động
Theo tiếp cận tích hợp tâm lí học xã hội và xã hội học của CHAPUIS
và THOMAS (1995), những tác giả rất bị ảnh hưởng của JAMES, BALDWIN, LINTON, MEAD, MORENO, GOFFMAN, vai trò gắn với ba
nhóm chỉ báo gồm nhân cách, chuẩn mực và giá trị “Vai trò là tổng thể các
mô hình hành vi văn hóa tích hợp ở một địa vị xã hội Đây là quá trình nhập tâm hay nội hóa các giá trị chung của xã hội và của các nhóm thuộc tính cho phép cá nhân phối hợp các hoạt động khác nhau” Các tác giả này phân biệt
ba cấp độ vai trò:
Trang 21Vai trò được quy định hoặc vai trò gán cho tương ứng với vai trò kì vọng;
Vai trò chủ quan hay quan niệm của chủ thể về vai trò và đánh giá của chủ thể về hoạt động thực hiện vai trò của mình theo kì vọng;
Vai trò thực tiễn hay vai trò khách quan
Do cá nhân có nhiều vai trò nên khả năng xuất hiện xung đột các vai trò
là rất cao bởi vì vào cùng một thời gian và không gian, cá nhân khó có thể hài hòa được mọi vai trò của mình Hơn nữa, đặt trong chiều cạnh động học, vai trò luôn luôn tiến triển nên nó bị ảnh hưởng bởi các tâm tính văn hóa khác CHAPUIS và THOMAS đã dẫn lại định nghĩa vai trò của ROCHEBLAVE-
SPENLÉ như sau: “Vai trò là một mô hình hành vi có tổ chức tương ứng với
vị thế của cá nhân trong một tập hợp tương tác” Như vậy, định nghĩa này
biểu hiện một sự thỏa hiệp giữa một bên là vai trò “gán cho”, vai trò quy định đối với một địa vị xã hội và bên kia là cá nhân tìm cách hành động phù hợp với mô hình hành vi chuẩn mực ấy ROCHBLAVE-SPENTÉ không chỉ nhấn mạnh đến sự tiến triển của các vai trò do có những biến đổi kinh tế - xã hội,
mà tác giả này còn phân tích những biến đổi chuẩn mực và giá trị xã hội do có những thay đổi vai trò
Ở một khía cạnh khác, khi đề cập đến mối quan hệ giữa địa vị và vai trò, CHAPUIS và THOMAS cho rằng, địa vị là yếu tố cốt lõi của quá trình tổ chức các quan hệ xã hội và vai trò là yếu tố cốt lõi của quá trình tiến triển tâm tính và giá trị văn hóa Thực vậy, các vai trò bị ảnh hưởng bởi hệ quả của khủng hoảng các nền văn minh
Hướng tiếp cận lí thuyết thứ tư mang tính chất tương tác theo quan
niệm của MONTMOLLIN Vai trò có ba ngữ nghĩa rất rõ: (1) “Vai trò là
tổng thể những đòi hỏi và quy định (chuẩn mực, kì vọng, trách nhiệm, sự gán cho…) xuất phát từ cấu trúc xã hội và được tích hợp ở một vị thế nào đó trong cấu trúc xã hội”; (2) “Vai trò là toàn thể hành vi mà cá nhân thực hiện
Trang 22với tư cách là cá nhân ấy có một vị thế trong một cấu trúc xã hội”; (3) “Vai trò là định hướng và quan niệm về hành động mà một cá nhân có được khi cá nhân ấy là thành viên của một tổ chức, tức là hệ thống thái độ và giá trị của
cá nhân ấy” Theo GOFFMAN, vai trò tương ứng với một mô hình hành
động được quy định trước: “Vai trò là quá trình cập nhật quyền và nghĩa vụ
gắn với một địa vị xã hội”
Từ các hướng tiếp cận ấy sẽ là thông tin quan trọng để tôi lựa chọn những vai trò quan trọng và phù hợp của công tác xã hội liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa
1.1.1.2 Công tác xã hội và vai trò của công tác xã hội
Công tác xã hội: Trên thế giới, Công tác xã hội đã được khẳng định là
một ngành khoa học độc lập có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận, phương pháp nghiên cứu riêng Tuy nhiên bấy lâu nay ở nước ta Công tác xã hội bị đánh đồng với hoạt động từ thiện Và khi nghiên cứu về CTXH
đã có rất nhiều những quan niệm khác về CTXH
Năm 1970, hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội – NASW( Hoa Kỳ) định nghĩa : Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp
đỡ những cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy [13, tr.43]
Năm 2000, tại Đại hội Montreal, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc
tế (IFSW) đã phát triển CTXH theo hướng tiếp cận mới: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn
đề trong mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý luận hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề CTXH [13, tr.44]
Trang 23Năm 2004, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp ở Canada đã thảo luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội ( vấn đề nảy sinh trong quan hệ xã hội ) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tố đẹp hơn cho mọi người dân [13, tr.45]
Như vậy, qua lịch sử hình thành và rất nhiều quan niệm khác nhau thì
có thể đưa ra một định nghĩa khái quát chung về CTXH như sau: CTXH là
một hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội ( Cá nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập cuộc sống theo hướng tích cực bền vững [13, tr.46]
Những năm gần đây, CTXH đã được tái khôi phục, phát triển ở Việt Nam Hội nghị “Định hướng phát triển công tác xã hội ở Việt Nam” do bộ LĐ-TB&XH chủ trì với sự hỗ trợ của UNICEF ngày 29/8/2005 là cái mốc lịch sử quan trọng cho ngành này tại Việt Nam Hội nghị đã quy tụ lãnh đạo cao cấp của các ban ngành như Bộ LĐ-TB&XH, Bộ GD- ĐT, Ban Khoa giáo Trung Ương, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Ủy ban Dân số-Gia đình &Trẻ em, Viện Chiến lược và chính sách y tế (Bộ Y tế), Cục Văn hóa thông tin cơ sở… và đại diện một số trường đại học có khoa CTXH Hội nghị đã có những bước chuẩn bị cho một chiến lược quốc gia cho sự phát triển ngành CTXH một cách đồng bộ, bền vững cho tương lai lâu dài, và đây cũng chính là những thách thức lớn đối với những nhân viên công tác xã hội tiên phong
Trong Công tác xã hội gồm có ba phương pháp chủ yếu: Công tác xã hội với cá nhân, Công tác xã hội nhóm và Công tác xã hội trong phát triển cộng đồng
Công tác xã hội với cá nhân là một trong những phương pháp chủ yếu
Trang 24và cơ bản Công tác xã hội Công tác xã hội với cá nhân xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển Công tác xã hội cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tế Việc hoàn thiện, phát triển lý luận và thực tiễn của Công tác xã hội với cá nhân đã trải qua một quá trình lâu dài từ nửa sau thế kỷ XIX Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa, nhiều quan điểm khác nhau về Công tác xã hội với cá nhân Sau đây là một định nghĩa khác nhau về Công tác xã hội với cá nhân:
Theo Grace Mathew, “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một-một Nó được nhân viên xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội” [ 1, tr.11]
Theo Helen Harris Perlman “Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo về an sinh con người sử dụng để giúp các cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc chức năng xã hội của họ” [ 1, tr.11]
Trên cơ sở kế thừa và phát triển, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa
về Công tác xã hội cá nhân như sau:
Công tác xã hội với cá nhân là một quá trình là một phương pháp tác động đến cá nhân có vấn đề xã hội (bị mất hoặc yếu về chức năng xã hội), giúp cá nhân tự nhận ra vấn đề của bản thân, củng cố, khôi phục và phát huy năng lực của bản thân để có thể tự giải quyết được vấn đề của mình trong tình huống, nghĩa là giải quyết vấn đề cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội của cá nhân đó [13, tr.138]
Trong Công tác xã hội cá nhân gồm các thành phần:
Con người (person) : Gồm thân chủ và nhân viên xã hội
Vấn đề của thân chủ ( problem);
Cơ quan giải quyết vấn đề ( place);
Công cụ: Tiến trình giải quyết vấn đề ( problem- solving process) Tiến trình giải quyết vấn đề của thân chủ gồm:
Tiếp cận thân chủ
Trang 25Nhận diện vấn đề
Thu thập thông tin
Đánh giá chẩn đoán
Vạch kế hoạch giải quyết vấn đề
Lượng giá- tiếp tục giúp đỡ hoặc chấm dứt sự giúp đỡ
Công tác xã hội nhóm là phương pháp Công tác xã hội nhằm tăng
cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm
và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:
Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm
Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề
Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch
hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin, nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu
Tiến trình Công tác xã hội nhóm gồm có:
Giai đoạn thứ nhất: Chuẩn bị và thành lập nhóm
Giai đoạn thứ hai: Khởi động và tiến hành hoạt động – giai đoạn đầu Giai đoạn tập trung hoạt động – giai đoạn trọng tâm
Giai đoạn lượng giá và kết thúc hoạt động- giai đoạn cuối
Phát triển cộng đồng: Theo định nghĩa chính thức của Liên hợp quốc
từ năm 1956 thì phát triển cộng đồng là: “ Những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kế hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh
tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng và giúp đỡ các cộng đồng này hội nhập
và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” [13, tr.210]
Trong “ Tổ chức cộng đồng – lý thuyết và thực tiễn” các tác giả Murray
Trang 26và Ross định nghĩa: “ Tổ chức cộng đồng là một diễn tiến qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu hay mục tiêu của mình Sắp xếp các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm đến tài nguyên (bên trong hay bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy Thông qua
đó sẽ phát huy những thái độ kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng” [13, tr.210]
Ở Việt Nam, đã và đang có những cách tiếp cận và đưa ra những định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung thống nhất, coi phát triển cộng đồng là một phương thức phát triển, dựa trên giả thuyết rằng nhân viên (tổ chức hay người đại điện tổ chức) có thể hoạt động trong một địa phương hoặc một cộng đồng để giúp họ phát triển tiềm năng sẵn có của họ Trong qúa trình này, nhân viên đóng vai trò xúc tác để giúp cộng đồng nhận định mục tiêu, tiềm năng và các nguồn lực hỗ trợ để đạt được mục tiêu đặt ra
Mặc dù có những định nghĩa khác nhau về phát triển cộng đồng, mỗi định nghĩa đều có những đặc trưng riêng cho phát triển cộng đồng, nhưng tựu chung lại phát triển cộng đồng bao gồm những nội dung và hoạt động chủ yếu sau:
Xác định đối tượng cộng đồng của phát triển cộng đồng và những nhu cầu, mục tiêu xuất phát từ cộng đồng cần giải quyết
Xác định chọn lựa vấn đề ưu tiên của cộng đồng bằng các phân tích định lượng và định tính (nhu cầu và mục tiêu ưu tiên)
Xây dựng các chương trình hoạt động trên cơ sở phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài
Triển khai bao gồm cả điều chỉnh các chương trình hoạt động phát triển cộng đồng
Lượng giá các chương trình hoạt động tác động, hỗ trợ hay đổi trạng thái Phương phát phát triển cộng đồng gồm có ba phương pháp chủ yếu như sau:
Phương pháp RRA là phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
Trang 27Phương pháp PRA là phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
Phương pháp ABCD là phương pháp dựa trên những nguồn lực sẵn có
Vai trò của công tác xã hội
Trong các khoa học xã hội nói chung và xã hội học nói riêng, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau về lý thuyết vai trò Tùy từng lĩnh vực, vai trò sẽ được thể hiện khác nhau và trong công tác xã hội cũng vậy.Từ đối tượng của công tác xã hội và việc sử dụng các phương pháp của công tác xã hội Công tác xã hội đã và đang tích cực thực hiện các chức năng của mình nhằm mục đích hướng tới một nền an sinh xã hội với sự phát triển toàn diện của con người của con người trong sự phát triển ổn định, tiến bộ và công bằng xã hội Công tác xã hội ra đời do nhu cầu giải quyết vấn đề xã hội một cách hiệu quả,
bền vững Công tác xã hội có bốn chức năng đó là: Chức năng phòng ngừa
cung cấp các dịch vụ kịp thời cho những người/nhóm/cộng đồng yếu thế trong
xã hội, thúc đẩy các chức năng xã hội của họ trước khi các vấn đề phát sinh/phát triển (gồm các hoạt động và chương trình như kế hoạch hóa gia đình, tư vấn trước khi sinh con, giáo dục cách làm cha mẹ, tư vấn trước kết
hôn/trước khi nghỉ hưu, các chương trình gắn kết tình cảm gia đình ) Chức
năng hỗ trợ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho những đối tượng/thân
chủ để họ giảm bớt những khó khăn đang gặp phải (tiếp cận và sàng lọc, giới thiệu chuyển tuyến, cung cấp dịch vụ bảo vệ khẩn cấp/tạm lánh, tư vấn, hỗ trợ khám, chăm sóc y tế, cung cấp thức ăn/nước uống, giới thiệu thông tin đến các dịch vụ xã hội/pháp lý Sau giai đoạn này, các hoạt động hỗ trợ dài hạn
hơn được tiếp tục nhằm góp phần phục hồi chức năng xã hội của họ Chức
năng phục hồi cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho những đối tương/thân chủ
nhằm mục đích phục hồi chức năng xã hội của họ mà trước đây đã bị tổn thương/bị tác động vì những khó khăn về mặt thể chất, tinh thần gây nên ( ví
dụ như trị liệu tâm lý, phục hồi chức năng cho người khuyết tật ) Chức năng
Trang 28này giúp các nhóm đối tượng như trẻ tự kỷ, người bị liệt do ảnh hưởng của chấn thương cột sống, người tâm thần, người thiểu năng trí tuệ; những người thiếu khả năng học tốt và những người có các khuyết tật về thể chất và năng lực khác;
người nghiện ma túy/rượu Chức năng phát triển tiếp tục theo dõi, giúp đỡ đối
tượng/thân chủ sau khi họ đã phục hồi về cơ bản (giúp đỡ đối tượng chuẩn bị rời Trung tâm, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ phát triển cộng đồng )
Thông qua các hoạt động chuyên môn với hệ thống kĩ năng tác nghiệp chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng lý thuyết khoa học chuyên ngành Công tác
xã hội sẽ tác động, hỗ trợ giải quyết vấn đề xã hội, để nhận diện, chuẩn đoán, phòng ngừa làm thay đổi chúng theo hướng tích cực, giúp cho đối tượng gặp khó khăn vươn lên trong cuộc sống
Các vấn đề gặp phải của cá nhân, nhóm, cộng đồng luôn luôn tồn tại trong bất cứ thời đại hay quốc gia nào, các vấn đề xã hội gây trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người và toàn xã hội ở mức độ khác nhau
Ngay từ khi ra đời, với tư cách là một ngành khoa học, một nghề nghiệp chuyên môn, Công tác xã hội có vị trí vai trò cực kì quan trọng trong giải quyết hỗ trợ các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề về giảm nghèo Thực hiện công tác giảm nghèo cho người dân là một phần của Công tác xã hội trong công tác đảm bảo an sinh xã hội Với những hình thức trợ giúp khác nhau Công tác xã hội ngày càng thể hiện được tính hiệu quả của nó với sự phát triển của cộng đồng và toàn xã hội
Công tác xã hội có vai trò huy động kết nối nguồn lực, tăng năng lực của cộng đồng thông qua tăng nội lực và giúp cộng đồng tự giúp
Trước vấn đề xã hội gắn với đời sống người nông dân thì đã có nhiều giải pháp và chương trình được đưa ra Tuy nhiên sự hỗ trợ đó chỉ mang tính
bề nổi, cốt lõi cần xuất phát từ chính nhu cầu, mong muốn nguyện vọng của người dân, từ tiềm năng sẵn có của người dân để người dân tự lựa chọn mô hình phát triển kinh tế phù hợp
Trang 29Công tác xã hội không làm thay, làm hộ mà chỉ đơn thuần là người trợ giúp, người hướng dẫn Tác viên phát triển cộng đồng có vai trò xác định các nguồn lực sẵn có của cộng đồng
Ngoài ra tăng năng lực của cộng đồng thì việc mở các lớp tập huấn hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn, tập huấn kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cây trồng, vật nuôi, kĩ thuật bảo quản và tiêu thụ sản phẩm nhằm tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cũng như nâng cao kiến thức có ý nghĩa rất quan trọng, giúp nâng cao năng lực, kỹ năng của tác viên phát triển cộng đồng và tạo mối quan hệ gắn kết với người dân trong việc lập hoạch phát triển kinh tế xã hội
Công tác xã hội trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội, hỗ trợ giải quyết vấn đề gặp phải của cộng đồng bằng phương pháp tác nghiệp chuyên nghiệp Khác với các lĩnh vực chuyên môn khác CTXH tham gia vào quá trình trợ giúp cộng đồng với vai trò là tác viên phát triển cộng đồng Khi tác viên phát triển cộng đồng xuống địa bàn với nhiệm vụ khảo sát đánh giá thực tế về khó khăn gặp phải, vấn đề, xác định nhu cầu, đánh giá thuận lợi và khó khăn, tiềm năng sẵn có của cộng đồng từ đó lên kế hoạch trợ giúp cộng đồng
Như vậy Công tác xã hội đóng vai trò là người tổ chức, lập kế hoạch, người xúc tác cho quá trình hợp tác, người bồi dưỡng nâng cao quá trình nhận thức, kỹ năng của người dân về điều kiện sống và quyền an sinh phát triển đồng thời cũng là cầu nối giữa nhóm người nghèo, thiệt thòi với những nguồn lực sẵn có Đặc biệt vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa mà luận văn muốn nhấn mạnh tới chính là vai trò tuyền truyền, vận động chính sách, các thông tin liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa
1.1.1.3 Công tác dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, dồn điền đổi thửa giúp tăng diện tích trên một thửa ruộng, tạo thuận lợi cho hộ canh tác, thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; từng bước phân công
Trang 30lao động trong từng địa bàn, tạo việc làm, tăng giá trị thu nhập trên một đơn
vị diện tích sản xuất
Ruộng đất manh mún đã không còn phù hợp với tình hình sản xuất như hiện nay vì không thể đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi không đưa được cơ giới hóa vào gây lãng phí công lao động rất lớn Mặt khác ruộng đất manh mún, ô thửa nhỏ còn gây khó khăn cho việc lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý đất đai
Để triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới với mục tiêu đã được Thành ủy Hà Nội xác định Việc tiến hành dồn điền đổi thửa sẽ giải quyết được cơ bản tình trạng manh mún và phân tán ruộng đất cho người nông dân, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung; thuận lợi để áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào nông nghiệp, giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu suất lao động; chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp; nâng cao thu nhập cho người nông dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tạo quỹ đất để có mặt bằng xây dựng các công trình phúc lợi thực hiện nhóm tiêu chí xây dựng cơ sở vật chất trong NTM; tạo quỹ đất công cho cơ sở để thực hiện đấu giá huy động nguồn nội lực cho xây dựng NTM
Do có ô thửa lớn, giao thông, thủy lợi nội đồng đảm bảo sẽ giúp cho công tác cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, giải phóng sức lao động, từ đó hỗ trợ nâng cao thu nhập của người nông dân và góp phần hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp Việc đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng và hình thành tổ dịch vụ cơ giới phục vụ sản xuất trong hợp tác xã nông nghiệp, cùng với việc quy hoạch lại đồng ruộng sẽ giúp cho công tác tích tụ ruộng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông thôn diễn ra thuận lợi, hình thành các hợp tác xã Mặt khác, nếu trước đây, một doanh nghiệp muốn đầu tư vào một địa phương phải bàn bạc với nhiều hộ, thì nay chỉ cần thỏa thuận với một hoặc vài hộ là
Trang 31có diện tích đủ để thực hiện một dự án sản xuất Như vậy, DĐĐT còn tạo điều kiện để doanh nghiệp thuận lợi hơn trong đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Dồn điền đổi thửa không phải là một tiêu chí cụ thể trong chương trình xây dựng nông thôn mới, nhưng có tác động đến các tiêu chí như tiêu chí nâng cao thu nhập, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất bởi ý nghĩa của việc dồn điền đổi thửa không những giúp nông dân giảm chi phí sản xuất mà còn là điều kiện cần để chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tổ chức sản xuất hàng hóa, là cơ sở để phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong nông nghiệp, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới
Việc DĐĐT căn cứ vào quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết nông thôn mới, gắn với chỉnh trang đồng ruộng, tổ chức lại sản xuất, khuyến khích các
hộ tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hóa tập trung Phương án DĐĐT phải tuân thủ Luật Đất đai và các văn bản pháp luật hiện hành Trường hợp diện tích đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các
dự án hoặc đã chuyển quyền sử dụng đất thì phải đối trừ trong tổng diện tích đất nông nghiệp được giao Đối với quỹ đất công ích, sau DĐĐT nên tập trung vào các vị trí đã quy hoạch cho công trình công cộng hoặc liền các khu trung tâm, khu dân cư để tiện lợi cho sử dụng Khuyến khích các hộ góp một phần diện tích đất nông nghiệp ổn định đang sử dụng để làm đường nội đồng, thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch được duyệt Sau khi DĐĐT phải chỉnh lý biến động đất đai, hồ sơ địa chính, cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ
1.1.1.4 Truyền thông và kỹ năng của truyền thông
Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội loài người, tác động đến mọi cá thể xã hội Do đó, hiên tượng này có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tùy thuộc theo góc nhìn đối với truyền thông
Trang 32Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin
Từ các quan niệm khác nhau có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về
truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư
tưởng, tình cảm,…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội
Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian Để tổ chức hoạt động truyền thông có hiệu quả, cần phải hiểu sự truyền trông hoạt động như thế nào, nắm được những yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông và mối quan hệ công chúng của chúng Truyền thông có nhiều mô hình khác nhau Dưới đây là một số mô hình truyền thông
- Mô hình truyền thông của Lasswell gồm có các yếu tố sau:
Nguồn phát (ai ?): người gửi hay nguồn thông điệp
Thông điệp (nói gì ?): ý kiến, cảm xúc, suy nghĩ hay thái độ… được
truyền đi
Kênh ( bằng kênh nào?): phương tiện mà nhờ đó các thông điệp từ nguồn
đến người nhận
Tiếp nhận ( đến ai?): là một hay một nhóm người mà thông điệp hướng
tới Mô hình này được biểu diễn theo một trình tự sau:
Bảng 1.1: Mô hình truyền thông của H Lasswell
Nguồn phát Thông điệp Kênh Tiếp nhận
- Mô hình xúc tiến hỗn hợp với những yếu tố dưới đây
Trang 33Bảng 1.2: Các phần tử của mô hình truyền thông xúc tiến hỗn hợp
Mô hình truyền thông gồm 9 phần tử Hai phần tử thể hiện các yếu tố chủ yếu tham gia truyền thông là người gửi và người nhận Hai phần tử khác đại diện cho các công cụ truyền thống là thông điệp và truyền thông Bốn yếu
tố khác tiêu biểu cho chức năng truyền thông là mã hoá, giải mã, phản ứng đáp lại và phản hồi Phần tử cuối cùng là hệ thống nhiễu
Kỹ năng truyền thông
Kỹ năng là gì? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những
định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào
đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng Vậy, kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
Trang 34Các kỹ năng truyền thông đó là
Làm quen và giới thiệu
Kỹ năng tổ chức thảo luận nhóm
Kỹ năng viết bài cho bản tin, báo
Khi thực hiện tốt các kỹ năng trên sẽ mang lại quá trình truyền thông rất hiệu quả
1.1 2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.2.1 Lý thuyết vai trò xã hội
Thuyết vai trò được hình thành dựa trên sự đóng góp quan trọng của khoa học Xã hội học và Tâm lý học va có mối quan hệ chặt chẽ với Thuyết chức năng cấu trúc của các tác giả Auguste Comte, Herbert Spenser, Emile Durkheim, Vilfredo Pereto, Athur Radcliffe- Brown và Peter Blau Thuyết vai trò nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận câu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một chỉnh thể tương đối ổn định, bền vững [14, tr.97]
Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cận hiệu quả đối với việc hiểu biết về con người và xã hội, do đó có nhiều vấn đề liên quan đến vai trò và sự thể hiện vai trò được quan tâm đề cập, đặc biệt là sự mơ hồ trong vai trò, xung đột vai trò, sợ hãi vai trò
Mơ hồ vai trò là hoàn cảnh của một cá nhân gặp phải khó khăn trong
việc xác định, quyết định vai trò nào nên thực hiện
Trang 35Xung đột vai trò xảy ra khi một cá nhân đối phó với sự căng thẳng vì cá
nhân đó chưa đủ khả năng để thực hiện hoặc đáp ứng các đòi hỏi của vai trò
Sợ hãi vai trò nói đến những khó khăn có thể cảm nhận thấy trong việc
hoàn thành bổn phận vai trò Đối lập với xung đột vai trò, khi sự căng thẳng được cảm nhận giữa hai vai trò cạnh tranh nhau, sự căng thẳng trong sợ hãi và vai trò chỉ xuất hiện từ một vai trò
Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết, ví dụ trong những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường bất hoà nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai người trung gian hoà giải mà chính nó và cha mẹ không biết Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội
áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn [14, tr.98]
Thông thường, mỗi cá nhân có nhiều vị trí, vai trò trong xã hội Vai trò bao gồm một hệ thống các nhiệm vụ, chức năng, chuẩn mực, như một bản kế hoạch chi tiết hoặc đề án định hướng, chỉ đạo hành vi con người Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được mục tiêu va hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết đòi hỏi phải có trong bối cảnh hoặc tình huống có sẵn, tình huống bất ngờ Hầu hết các hành
vi xã hội hàng ngày của các cá nhân quan sát được thực ra là những việc mà con người thực hiện những vai trò của họ Do đó, khi đề cập đến vai trò cho một vị trí nào đó, người ta có thể đoán trước được một phần lớn các hành vi của người đó trong vị trí xã hội mà họ sẽ có Những mong muốn cho mỗi vai trò có thể khác nhau nhưng phù hợp vai trò mà cá nhân thực hiện hoặc thể hiện trong đời sống hàng ngày của họ Khi vai trò phù hợp với khả năng của
cá nhân thì cá nhân đó sẽ đảm trách tốt vai trò được kỳ vọng, được phân công Muốn thay đổi hành vi cá nhân, trước hết cần tạo cơ hội để cá nhân đó thay
Trang 36đổi vai trò Công tác xã hội vận dụng những luận điểm này cùng với các phương pháp tiếp cận để thực hiện các can thiệp cho đối tượng của mình
Vì chỉ là các vai trò, người ta có thể thay đổi không tiếp tục đóng một vai nào đó không lành mạnh, hoặc tập đóng một vai mới tốt đẹp hơn cho cuộc sống Thuyết vai trò được áp dụng vào Công tác xã hội để chỉ ra rằng trong mọi việc đều tồn tại những vị trí, các vai trò khác nhau và các vị trí, vai trò này được phân công, thể hiện bởi các thành viên Mỗi vị trí thể hiện chi tiết các vai trò bao gồm một chuỗi các chức năng cần thiết Vai trò của nhân viên CTXH ở đây là giúp khách hàng thấy được những vai trò khác nhau họ có thể đóng tùy theo hoàn cảnh cá nhân và tài nguyên có thể huy động được
Quá trình ứng dụng lý thuyết này trong công tác dồn điền đổi thửa sẽ thể hiện được vai trò của chính nhân viên công tác xã hội và vai trò của những người làm công tác dồn điền đổi thửa, đặc biệt là chính người dân, những người liên quan trực tiếp tới công tác này Trên thực tế vai trò của nhân viên công tác xã hội vẫn chưa được thể hiện rõ ở các địa phương mà chủ yếu ẩn dưới các tổ chức, các đoàn thể xã hội Với công tác dồn điền đổi thửa thì vai trò của CTXH chủ yếu là vai trò kết nối nguồn lực, vai trò hướng dẫn, giáo dục, vai trò tư vấn, tham vấn, vai trò vận động, hoạt động xã hội, vai trò xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng, vai trò tạo sự thay đổi Và với từng công đoạn thì từng vai trò sẽ được thể hiện khác nhau Với vai trò của nhân viên công tác xã hội cần xác định rõ đang ở vị trí nào Không làm hộ làm thay thân chủ Còn với người dân cần tăng vai trò của họ trong quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa bởi nó gắn liền với lợi ích và quyền lợi của họ
1.1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi
Con người thể hiện hành vi, suy nghĩ và cảm xúc của mình thong qua hành vi ứng xử Ứng xử của con người có thể được tạo ra hay thay đổi bằng cách học tập Con người học được cách ứng xử qua sự tương tác với môi trường xung quanh Tác động qua lại này dẫn đến thưởng hay phạt, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ và có thể thay đổi ứng xử của con người [15, tr.123]
Trang 37Nhận thức và hành vi là hai khái niệm về cơ bản là ngược nhau Lý thuyết hành vi đôi khi không chấp nhận một số mô hình nhận thức dẫn đến hành vi vì cho rằng những mô hình này không thể kiểm định được Một số chuyên gia về lý thuyết hành vi còn cho rằng đưa những khái niệm về nhận thức vào còn có thể phương hại cho tính khoa học của lý thuyết và thực hành
“hành vi” Song, lý thuyết nhận thức không hoàn toàn là những điều xảy ra bên trong không thể kiểm định được; nó là cảm nhận và giải thích có thể mô
tả và có thể trải nghiệm được
Tuy có một số người muốn tách lý thuyết và thực hành lý thuyết hành
vi và lý thuyết nhận thức, tôi lại đồng tình với những người kết hợp lý thuyết nhân thức với lý thuyết hành vi vì việc kết hợp này có thể kiểm định cả những
mô hình nhận thức với kết quả thực hành kỹ thuật hành vi Xuất phát từ ý tưởng này, người ta có thể chia trị liệu nhận thức hành vi ra thành các nhóm như sau:
Sao chép kỹ năng (copying skills): trị liệu này bao gồm hai quá trình là quá trình “tự phát biểu” (self verbalization) và hành vi mà quá trình tạo ra Quá trình tự phát biểu chính là quá trình người ta mô tả sự kiện mà người ta quan sát được với người ta để người ta đưa nhận thức về sự kiện này vào trí nhớ bên trong của con người ta
Giải quyết vấn đề (problem solving): trị liệu này khác với giải quyết vấn đề trong tâm lý động học Nếu tâm lý động học coi cuộc sống của con người là một quá trình giải quyết các vấn đề của cuộc sống thì nhận thức hành
vi coi là hoạt động dựa trên thực hiện nhiệm vụ bao gồm xác định vấn đề, đưa
ra các lời giải cho vấn đề, lựa chọn lời giải tốt nhất để lập kế hoạch thực hiện
Tái cấu trúc nhận thức (cognitive restructuring): Trị liệu này là trị liệu tương đối phổ biến liên quan đến nhận thức hành vi Trong trị liệu này, người
ta phải tìm hiểu xem người ta giải thích các sự kiện như thế nào, người ta nhận thức các sự kiện như thế nào để có hành vi sai lệch Từ đó, người ta nhận thức lại trên cơ sở giải thích lại sự kiện để thay đổi hành vi Làm việc
Trang 38chung quanh ý nghĩa của kinh nghiệm, cách nhìn và các thuộc tính của nó để thay đổi nhận thức
Trị liệu cấu trúc nhận thức (structural cognitive behavior): Trị liệu này gồm có 3 cấu trúc về lòng tin là “cấu trúc gốc” (core belief) ta giả định về bản thân ta, “cấu trúc trung gian” (intermediate belief) ta mô tả về chung quanh về thế giới và “cấu trúc ngoại biên” (peripheral belief) bao gồm chương trình hành động và chiến lược giải quyết vấn đề hàng ngày
Lý thuyết này được ứng dụng với mục đích làm thay đổi những nhận thức chưa đầy đủ, lệch lạc để có những nhận thức đúng đắn từ đó hướng tới thái độ và có những hành vi đúng đắn Khách thể trực tiếp ở đây chính là những người làm công tác dồn điền đổi thửa và người dân Quá trình ứng dụng lý thuyết này trong công tác dồn điền đổi thửa có thể theo một quá trình
từ việc nhận thấy vấn đề rồi thay đổi nhận thức, thay đổi thái độ rồi mới đến thay đổi hành vi
1.1.2.3 Thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908 - 1970), nhà tâm lý học người Mỹ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu con người vào những năm 50 thế kỷ XX Theo A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc từ “đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại
và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể
xã hội [15, tr.118]
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía dưới, trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở các bậc thang trên cao của kim tự tháp
Trong hệ thống bậc thang nhu cầu của Maslow ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó Nếu một nhu cầu
Trang 39không được đáp ứng (đầu tiên là nhu cầu tồn tại - nhu cầu thể chất ), cá nhân
sẽ gặp những cản trở trong việc theo đuổi những nhu cầu cao hơn (nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu hoàn thiện cá nhân)
Nhu cầu thể chất - nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của cá nhân
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn đầy đủ, không khí để thở, nước uồng, sưởi ấm, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi, các nhu cầu làm cho con người thoải mái về cơ thể Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người [15, tr.119]
Nhu cầu an toàn - an ninh (safety needs) Khi con người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc thì các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ được hoạt hóa An ninh tạo cho cá nhân một môi trường không nguy hiểm Cá nhân mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hierm Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được yên tâm về các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế
độ khi về hưu, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở… Tóm lại, cá nhân cần có cảm giác yên tâm khi được an toàn thân thể, được đảm bảo việc làm, được tận hưởng các dịch vụ y tết và xã hội và tài sản cá nhân được bảo vệ [15, tr.119]
Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging needs): Cá nhân không thể tồn tại khi thiếu các mối quan hệ từ gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp… Vì vậy cá nhân muốn thuộc về một nhóm cộng đồng nào
đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy Các cảm giác không được yêu thương và không được chấp nhận có thể là nguồn gốc của các hành
vi lệch lạc xã hội Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm… Maslow cho rằng nếu
Trang 40nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng nó có thể gây ra các bệnh trần trọng về tinh thần, thần kinh Nhiều nghiên cứu cho thấy, những người sống độc thân thường hay mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những người sống với gia đình [15, tr.119]
Nhu cầu được tôn trọng (esteerm needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện các mong muốn được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và sự cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự coi trọng khả năng của bản thân Khi chúng ta gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta cảm thấy mình thuộc về nơi đó, nên luôn muốn được mọi người trong nhóm nể trọng, quý mến Đồng thời, chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấy mình có “vị trí” trong nhóm đó Tuy nhiên sự tự đánh giá bản thân mỗi cá nhân phụ thuộc vào mức độ đánh gia của người khác Nếu cá nhân có
sự tự đánh giá tích cực về bản thân thì người đó đã được trang bị tốt để có thể đương đầu với những khó khăn của mình Sự đáp ưng và đạt được nhu cầu này cũng có thể khiến cho trẻ học tập tích cực hơn, người trưởng thành cảm thấy tự do hơn [15, tr.119]
Nhu cầu tự hoàn thiện - cơ hội thể hiện bản thân (self - actualization needs): Bậc cuối cùng và cao nhất trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow có tác động lớn nhất tới sự hoàn thiện nhân cách Maslow mô tả nhu cầu này là sự mong muốn được là chính mình, được làm cái mình „sinh ra để làm‟ - Sự hiện thực hóa cái mình (cái bản thân) Đó là nhu cầu được tự khẳng định mình, nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân, cơ hội của sự phát triển và học hỏi cá nhân để tự hoàn thiện mình Nhu cầu này thể hiện ở việc mong muốn được sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, được trình diễn mình và được công nhận thành đạt [15, tr.119]
Trong công tác dồn điền đổi thửa thì việc xác định được nhu cầu của người dân là cực kỳ quan trọng Như vậy với lý thuyết nhu cầu sẽ giúp nhân