1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)

126 818 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài “Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội” bên cạnh sự nỗ lực, c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG THỊ HUYỀN OANH

NHU CẦU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC HÀNH THỰC TẬP NGHỀ

CÔNG TÁC XÃ HỘI (Qua nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG THỊ HUYỀN OANH

NHU CẦU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC HÀNH THỰC TẬP NGHỀ

CÔNG TÁC XÃ HỘI (Qua nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội)

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Bình

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội (Qua nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thanh Bình và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

Ngày tháng năm 2015

Học viên Đặng Thị Huyền Oanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã

hội với đề tài “Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác

xã hội” bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ

nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ thầy cô, gia đình, bạn bè

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: TS Nguyễn Thanh Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho tôi những kiến thức bổ ích và quý báu để tôi ứng dụng vào đề tài luận văn của mình

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, các bạn sinh viên của Khoa Công tác xã hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Luận văn này cũng như một món quà mà tôi muốn gửi tới gia đình và bạn

bè - những người đã luôn ở bên động viên khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2015

Học viên

Đặng Thị Huyền Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 11

3.1 Ý nghĩa khoa học 11

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4.1 Mục đích nghiên cứu 12

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đối tượng và khách thể và phạm vi nghiên cứu 13

5.1 Đối tượng nghiên cứu 13

5.2 Khách thể nghiên cứu 13

5.3.Phạm vi nghiên cứu 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 13

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu 13

8.2 Phương pháp thảo luận nhóm 14

8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 14

8.4 Phương pháp quan sát 15

8.5 Phương pháp trưng cầu ý kiến 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 16

1.1 Các khái niệm công cụ 16

1.1.1 Nhu cầu 16

1.1.2 Công tác xã hội 17

1.1.3 Mô hình thực hành thực tập công tác xã hội 18

1.1.4 Sinh viên ngành Công tác xã hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội 19

Trang 6

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 19

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 19

1.2.2 Lý thuyết hệ thống 21

1.2.3 Lý thuyết vai trò 23

1.3 Thực hành, thực tập trong đào tạo nghề CTXH hiện nay 24

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

1.5 Đặc điểm hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên khoa Công tác xã hội trường ĐHSP HN 28

CHƯƠNG 2 CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH, THỰC TẬP CÔNG TÁC XÃ HỘI 31

2.1 Cách thức tổ chức các hoạt động thực hành, thực tập cho sinh viên trường ĐHSP HN 31

2.1.1 Kế hoạch triển khai thực hành, thực tập tại trường ĐHSP HN 31

2.1.2 Kế hoạch triển khai các phương pháp thực hành, thực tập 33

2.2 Thực trạng các vấn đề khó khăn 41

2.2.1 Khó khăn trong thực hành, thực tập 43

2.2.2 Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 46

2.2.3 Khó khăn từ phía bản thân sinh viên 50

2.2.4 Cách ứng phó của bản thân sinh viên khi gặp khó khăn 53

2.3 Đánh giá các hoạt động thực hành, thực tập 55

2.3.1 Ưu điểm 55

2.3.2 Hạn chế 57

CHƯƠNG 3 SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH, THỰC TẬP CÔNG TÁC XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI HIỆN NAY 60

3.1 Nhu cầu về hoạt động thực hành, thực tập CTXH 60

3.3.1 Nhu cầu hoạt động thực hành phương pháp công tác xã hội cá nhân 61

Trang 7

3.3.2 Nhu cầu hoạt động thực hành phương pháp công tác xã hội nhóm 64

3.3.3 Nhu cầu của hoạt động thực hành phương pháp phát triển cộng đồng 66

3.2 Mô hình thử nghiệm thực hành thực tập đối với sinh viên CTXH ở trường ĐHSP HN 69

3.2.1 Mô hình thực hành,thực tập tập trung 70

3.2.2 Mô hình thực hành thực tập không tập trung 72

3.2.3 Mô hình thực hành theo dự án 73

3.3 Nhiệm vụ cụ thể của các nguồn lực trong các mô hình thực hành thực tập CTXH 76

3.3.1 Nhiệm vụ của nhà trường 76

3.3.2 Nhiệm vụ của cơ sở thực hành, thực tập CTXH 76

3.3.3 Nhiệm vụ của giáo viên thực hành 76

3.3.4 Nhiệm vụ của kiểm huấn viên - cán bộ hướng dẫn tại cơ sở thực tập 77

3.3.5 Nhiệm vụ của sinh viên 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC

Trang 8

MỤC CHỮ VIẾT TĂT

ĐHSP HN Đại học Sƣ phạm Hà Nội

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU DANH MỤC BẢNG:

Bảng 1.1: Bảng khung học phần thực hành, thực tập 29

Bảng 2.1: Nhóm khó khăn mà sinh viên thường gặp phải 42

Bảng 2.2: Nhóm khó khăn trong thực hành, thực tập 44

Bảng 2.3: Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 47

Bảng 2.4: Nhóm khó khăn từ phía bản thân sinh viên trong thực hành, thực tập CTXH 50

Bảng 2.5: Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của sinh viên 53

Bảng 2.6: Bảng so sánh cách giải quyết khi gặp khó khăn giữa các khóa sinh viên 54

Bảng 3.4: Mức độ mong muốn của sinh viên với các hình thức hoạt động của học phần CTXH với Tổ chức và Phát triển cộng đồng 67

Bảng 3.5: Mong đợi của sinh viên về mô hình thử nghiệm CTXH 69

DANH MỤC BIỂU ĐỒ: Biểu đồ 3.1: Mức độ mong muốn của sinh viên trong hoạt động thực hành CTXH cá nhân 61

Biểu đồ 3.2: Nhu cầu của sinh viên về hoạt động thực hành, thực tập không tập trung (linh hoạt) 63

Biểu đồ 3.3: Nhu cầu của sinh viên về hoạt động thực hành, thực tập tập trung 65

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hành, thực tập Công tác xã hội là một trong những hoạt động có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sinh viên theo học chuyên ngành Công tác xã hội Thông qua thực hành giúp sinh viên có cơ hội để tích hợp kiến thức, kĩ năng và các giá trị học được ở trên lớp vào các tình huống thực hành trên thực tế Trải qua các học phần thực hành, thực tập sinh viên thấy được những điểm mạnh và hạn chế của mình về khả năng thực hành như: kiến thức, kỹ năng đồng thời định hướng công việc của mình trong tương lai Sinh viên áp dụng những lý thuyết đã được lĩnh hội ở trên lớp và sử dụng vào làm việc thực tế thông qua việc sử dụng các kỹ năng, kinh nghiệm vận dụng các phương pháp Công tác xã hội để trợ giúp thân chủ có vấn đề, nhóm đối tượng, tiếp cận với cộng đồng còn kém phát triển Đồng thời trong quá trình triển khai thực hành, thực tập, cơ sở đào tạo và cơ sở thực hành sẽ đánh giá chính xác về những mặt tích cực và những điểm còn hạn chế cần điều chỉnh

và bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn xã hội Thực hành, thực tập Công tác xã hội sẽ góp phần gắn lý thuyết vào thực tiễn, biến những kiến thức sách vở thành kỹ năng nghề giúp sinh viên tự tin và trở thành nhân viên Công tác xã hội chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Trường ĐHSP HN là trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn lực chất lượng cao, giữ vai trò trọng điểm, đầu ngành trong hệ trong hệ thống các trường sư phạm trong cả nước Đồng thời trường cũng là một cơ sở đào tạo đa ngành có uy tín trong hệ thống giáo dục quốc dân và là một trong những trường đã đào tạo hệ Cử nhân ngành Công tác xã hội sớm nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mã ngành đào tạo Công tác xã hội vào tháng 10/2004, giao nhiệm vụ đào tạo trình độ cử nhân khoa học ngành Công tác xã hội theo Quyết định số 08-QĐ/BGDĐT-ĐH&SĐH, ngày 6/1/2004

Trang 11

2

Chương trình đào tạo của Khoa Công tác xã hội trường ĐHSP HN chú trọng đến hoạt động thực hành, rèn luyện kỹ năng nghề cho sinh viên với thời lượng từ 20% đến 40% thời gian mỗi môn học để thực hiện hoạt động thực hành ở trên lớp Với mong muốn nâng cao chất lượng thực hành, thực tập hiện nay cho sinh viên ngành Công tác xã hội, tác giả đã lựa chọn đề tài

nghiên cứu: Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác

xã hội (Qua nghiên cứu tại Trường ĐHSP HN) làm luận văn Thạc sỹ của

mình

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu về thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội trên thế giới

Trong hệ thống giáo dục tại Mỹ, ngành Công tác xã hội được coi là một ngành ứng dụng/thực hành (giống các ngành y, luật, báo chí, y tá, kinh doanh, khách sạn, vv…) và phân biệt với các ngành thuộc về hàn lâm như xã hội học, kinh tế học, triết học, tâm lý học Tính ứng dụng của Công tác xã hội nằm ở chỗ chuyên môn của người có bằng Công tác xã hội là một chuyên môn cụ thể, trực tiếp, có thể chuyển giao và lặp lại, và có tính chuyên sâu cao

mà người ngoài ngành, nếu không được đào tạo, sẽ không thể tự có được Cụ thể hơn, người có chuyên môn về Công tác xã hội sẽ làm việc trực tiếp với các “thân chủ” theo nghĩa rộng (có thể là cá nhân, gia đình, cộng đồng) để lượng giá, chuẩn đoán, lên kế hoạch, và giải quyết khó khăn cho thân chủ

bằng các kỹ năng nghề trực tiếp (các ngành như xã hội học không có kỹ năng nghề tiêu biểu, mà chỉ có kiến thức) Để có được các kỹ năng này, ngoài việc

học các kiến thức hàn lâm giống như với các ngành hàn lâm khác, người học ngành Công tác xã hội phải được thực tập chuyên môn và vai trò của thực hành, thực tập cũng quan trọng ngang với học các kiến thức lý thuyết hàn lâm Như vậy, với đào tạo Công tác xã hội, đào tạo kỹ năng, tay nghề là phần

Trang 12

3

hết sức quan trọng; và mục đích của đào tạo là hướng sinh viên tới việc thực hành nghề trực tiếp chứ không chỉ trang bị lí luận hoặc nhân sinh quan, thế giới quan của ngành mình

Công tác xã hội có mục đích thăng tiến chức năng xã hội của con người qua ba lĩnh vực: phục hồi khả năng đã bị thương tổn, giúp con người tận dụng được những tài nguyên có sẵn, và phòng ngừa tình trạng mất khả năng sống bình thường trong xã hội (Werner Boehm - nhà giáo dục Công tác

xã hội người Mỹ gốc Đức) Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của Công tác

xã hội và giải thích tại sao Công tác xã hội càng trở nên thiết yếu hơn trong tất cả các quốc gia

Khoa học và nghề Công tác xã hội đã được hình thành tại Mỹ và Châu

Âu từ thế kỷ XIX Từ thập niên 70 đến nay, ngành Công tác xã hội đã tiến xa

đã hướng đến việc giải quyết những nhu cầu phức tạp và đa dạng không phải chỉ của người nghèo mà của tất cả mọi thành phần trong xã hội Và những bước tiến quan trọng của Công tác xã hội hiện đại so với Công tác xã hội của

thập niên 60 và 70 là việc thay thế phương pháp “chuẩn đoán” bằng phương

pháp “lượng định” thực hành coi người nhận Công tác xã hội như một bệnh nhân mang một chứng bệnh cần được chữa trị Để làm việc hiệu quả nhân viên Công tác xã hội không phải chỉ cần trái tim mà khối óc còn quan trọng hơn gấp bội Ngoài ra, Công tác xã hội còn đòi hỏi những kỹ năng riêng biệt

và sinh viên học chuyên ngành này phải có một số kiến thức cơ bản về lý thuyết và kỹ năng thực hành vô cùng quan trọng nhằm giúp ứng dụng những

lý thuyết đó đi vào thực tiễn hàng ngày thông qua cách tiếp cận với khách hàng - thân chủ

Ở các nước phát triển (Mỹ, Úc, Canada, Anh…) Hội những người làm nghề Công tác xã hội có vai trò quan trọng Hội đưa ra các quy định về tiêu chuẩn và đạo đức của người hành nghề Công tác xã hội Hội đứng ra tổ chức

Trang 13

4

kiểm tra, thi tuyển và cấp chứng chỉ hành nghề cho những người muốn vào nghề Công tác xã hội Ở Mỹ, để trở thành nhân viên Công tác xã hội chuyên nghiệp tất cả sinh viên Công tác xã hội cần tốt nghiệp cử nhân ngành Công tác xã hội và phải trải qua thời gian thực tập tại các cơ sở cung cấp dịch vụ Công tác xã hội và phải có chứng chỉnh hành nghề do Hiệp hội Công tác xã hội cấp Những nhân viên Công tác xã hội muốn hành nghề trong lĩnh vực y

tế cần có bằng thạc sỹ về Công tác xã hội và có ít nhất 2 năm tập sự tại các cơ

sở y tế Quy trình kiểm huấn và đánh giá sinh viên Công tác xã hội thực tập cũng rất chặt chẽ và khoa học

2.2 Các nghiên cứu về thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội ở Việt Nam

Hiện nay, Công tác xã hội với sự hành nghề chuyên nghiệp của các nhân viên xã hội được xem là công cụ hiệu quả trong việc thúc đẩy công bằng xã hội, an sinh xã hội để một quốc gia phát triển hài hoà Là một trong những nước Đông Nam Á đầu tiên mở trường đào tạo Công tác xã hội chuyên nghiệp, nhưng mãi đến thời gian gần đây ngành khoa học, nghề chuyên môn này mới được “đánh thức’ tại Việt Nam

Hiện nay, trên cả nước đã có hơn 40 trường đại học và cao đẳng tham gia ngành Công tác xã hội Nhu cầu xã hội đối với ngành Công tác xã hội là rất lớn, đòi hỏi phải sớm có đội ngũ cán bộ, chuyên viên Công tác xã hội tác nghiệp chuyên nghiệp đủ về số lượng đáp ứng được yêu cầu trình độ năng lực, phẩm chất chuyên môn ở nước ta Theo thông báo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, số cán bộ, nhân viên trực tiếp làm việc ở các cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm xã hội và đội ngũ cộng tác viên làm công tác dân số, bảo vệ chăm sóc trẻ em ở các thôn bản lên tới 162.000 người Và bên cạnh đó chỉ có một số ít cán bộ được đào tạo trình độ đại học và cao đẳng còn lại hầu hết chưa qua đào tạo cơ bản, đa số tác nghiệp dựa trên lòng nhiệt tình, kinh

Trang 14

5

nghiệm hoặc chỉ được tập huấn những khóa ngắn hạn về những kiến thức và

kỹ năng Công tác xã hội

Nghiên cứu về nâng cao chất lượng thực hành, thực tập Công tác xã hội hiện nay ở Việt Nam các tác giả đều có nhận định chung rằng Công tác

xã hội là một ngành nghề mới tuy nhiên các hoạt động của Công tác xã hội cũng đã bước đầu đạt được những hiệu quả nhất định và là một nhu cầu thiết yếu trong xã hội hiện nay

Nghiên cứu “Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo và nhu cầu đào tạo Công tác xã hội ở Việt Nam” tiến hành trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố (Hà

Nội, Lạng Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp) với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Unicef năm 2005 đã đưa ra những số liệu định lượng

về thực trạng phát triển Công tác xã hội Đồng thời, phân tích bối cảnh phát triển Công tác xã hội ở nước ta gắn liền với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, công bằng trong tiếp nhận những lợi ích từ sự phát triển kinh tế Việc phát triển Công tác xã hội như một nghề được xem như việc giải quyết sự gia tăng của các vấn đề xã hội đi kèm theo sự phát triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi phải có cách tiếp cận mang tính khoa học và có hệ thống Nghiên cứu đặt ra những câu hỏi để phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam như: Nhiệm vụ của Công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển như thế nào, làm thế nào để có thể phát triển Công tác xã hội một cách tập thể…

Để có thể nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về em, thực trạng Công tác xã hội tại Việt Nam, phòng bảo vệ trẻ em của UNICEF Việt Nam kết hợp với Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Ủy ban dân số Gia đình và trẻ em,

Bộ Giáo dục và đào tạo và 3 trường Đại học để tiến hành một cuộc khảo sát

và phân tích hiện trạng về lĩnh vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức về Công tác xã hội và các quan điểm của nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát

Trang 15

6

triển Công tác xã hội như một nghề ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người trả lời (60%) cho rằng họ đã được đào tạo Công tác xã hội Việc đào tạo này phần lớp nói đến các khoá đào tạo ngắn hạn được cấp chứng chỉ, và có khoảng từ 15% đến 20% được đào tạo Công tác xã hội cấp Đại học Một số người trả lời rằng họ được đào tạo Công tác xã hội thực tế là những người có bằng đại học của một chuyên ngành hoặc lĩnh vực khác và

họ có học qua những lớp đào tạo tại chức về Công tác xã hội Loại hình công việc các cán bộ đang đảm nhận phần lớn là làm việc với cá nhân, gia đình và phát triển cộng đồng, còn công tác tham vấn, quản lý ca và công tác hành chính là loại hình công việc chiếm phần ít Từ những kết quả nghiên cứu, tác giả thảo luận khung chương trình phát triển Công tác xã hội và đưa ra một số

ý tưởng cho phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam

Nguyễn Thị Hoàng Yến trong bài viết “Đào tạo nguồn nhân lực Công

tác xã hội trong ngành giáo dục” khẳng định Công tác xã hội là một ngành khoa học xã hội thực hành với tư cách là một nghề nghiệp chuyên môn được hình thành và phát triển rộng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới từ hơn một thế kỷ nay Nghề Công tác xã hội phát triển là cơ sở cho việc đào tạo, sử dụng, tuyển dụng các sinh viên Công tác xã hội vào đúng vị trí công tác chuyên môn, từng bước chuyên nghiệp hoá nghề Công tác xã hội ở nước ta Nhu cầu đào tạo ngành Công tác xã hội ở Việt Nam, thực trạng đào tạo ngành Công tác xã hội ở Việt Nam cơ hội và những thách thức Trong đó tác giả có

đề cập đến vấn đề thực hành, và cho rằng công tác thực hành đóng vai trò rất quan trọng Hiện nay sinh viên Công tác xã hội thường được thực hành tại các cơ sở xã hội, hầu hết đội ngũ cán bộ ở cơ sở rất ít được đào tạo bài bản về Công tác xã hội Số lượng cơ sở thực hành, thực tập cũng rất thiếu Các cơ sở

tư vấn hiện nay thường là tư vấn tâm lý học và tư vấn tâm thần học, chưa có

tư vấn Công tác xã hội chính thức Những điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến

Trang 16

7

chất lượng của công tác thực hành, thực tập của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội Công tác thực hành, thực tập cho sinh viên còn nhiều bất cập cả về thời gian, nội dung, cơ sở thực hành, đội ngũ kiếm huấn viên

Theo nghiên cứu của tác giả Mai Thị Kim Thanh, Nguyễn Văn Giảng

“Hoạt động kiểm huấn viên của nhân viên Công tác xã hội cho sinh viên tại các cơ sở - Những vấn đề đặt ra” đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ Việt

Nam về phát triển nghề Công tác xã hội được chính thức phê duyệt và đi vào hoạt động đã khiến ngành Công tác xã hội bước vào giai đoạn đổi mới và phát triển mạnh mẽ Nhu cầu hoàn thiện và nâng cao các hoạt động của Công tác xã hội ngày càng trở nên cấp thiết, trong đó có hoạt động kiểm huấn viên của nhân viên Công tác xã hội cho sinh viên tại các cơ sở Hoạt động kiểm huấn viên của nhân viên Công tác xã hội tốt sẽ giúp cho sinh viên biết cách

và thành thạo hơn trong việc kết nối giữa lý thuyết học tại lớp và thực tế tại

cơ sở, hơn thế nữa còn có điều kiện hiểu rõ hơn về công việc và ngành nghề của mình đang theo đuổi, cũng như đạo đức của ngành…Vậy trên thực tế, hoạt động kiểm huấn viên của nhân viên Công tác xã hội cho sinh viên tại các

cơ sở hiện nay ra sao? Với nhiều vấn đề tác giả đề cập như: Thực trạng đội ngũ kiểm huấn viên phục vụ ngành Công tác xã hội hiện nay, nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động của nhân viên Công tác xã hội tại cơ sở Qua đó tác giả đề xuất như phải hoàn thiện hoạt động của đội ngũ kiểm huấn viên nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các cơ sở đào tạo trong thời gian tới là một nhiệm vụ cấp bách Vì thế việc tìm hiểu kỹ các nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động của các nhân viên Công tác xã hội - những kiểm huấn viên tại các

cơ sở xã hội là điều vô cùng quan trọng nhằm giúp ngày càng nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đào tạo Công tác xã hội của đất nước

“Thực hành, thực tập của sinh viên ngành Công tác xã hội - Những vấn đề đặt ra”, tác giả Phạm Thị Tâm bàn luận về vấn đề thực hành, thực tập

Trang 17

8

của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội với nhiều vấn đề chưa được giải đáp như khung chương trình đào tạo thực hành, mục đích của thực hành và nhận định của cơ sở thực hành khi có sinh viên Công tác xã hội đến thực hành, thực tập, đội ngũ giáo viên hướng dẫn, kiểm huấn viên tại cơ sở thực hành Chất lượng đào tạo của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội khi ra trường đi xin việc làm có nơi hài lòng, có nơi chưa hài lòng với chất lượng đào tạo nhân lực ngành Công tác xã hội Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, ngoài yếu tố nỗ lực của chính bản thân sinh viên thì việc tạo cơ hội cho các em có một môi trường thực hành, thực tập tốt thực sự là rất cần thiết

Nghiên cứu của tác giả Mai Thị Kim Thanh và Vũ Văn Hiệu về “Đào tạo thực hành Công tác xã hội trong một số trường đại học đóng trên địa bàn

Hà Nội - một số vấn đề đặt ra” đã chỉ ra đào tạo thực hành Công tác xã hội là

một môn học có tính ứng dụng thực tiễn rất cao Bên cạnh lý thuyết được lĩnh hội thì kỹ năng, kinh nghiệm và trải nghiệm thực tiễn cũng đóng vai trò quan trọng qua đó giúp sinh viên hiểu sâu sắc hơn về nghề nghiệp của bản thân và chuẩn bị tâm thế cho công việc trong tương lai Mặt khác hoạt động thực hành, cơ sở đào tạo Công tác xã hội sẽ đánh giá chính xác hơn những mặt tích cực và những điểm còn hạn chế cần điều chỉnh, bổ sung trong chương trình cho phù hợp với thực tiễn xã hội Tác giả cũng đưa ra những bằng chứng về thực trạng đào tạo thực hành Công tác xã hội hiện nay, một số thách thức đặt ra trong đào tạo thực hành Công tác xã hội như: Đội ngũ giảng viên có chuyên môn, tay nghề hướng dẫn, hỗ trợ thực hành Công tác xã hội còn mỏng, mối liên hệ giữa giảng viên và cán bộ xã hội chưa chặt chẽ, kiến thức và kỹ năng của cán bộ xã hội tại cơ sở thực hành hạn chế, nhãn quan của lãnh đạo cơ sở về thực hành Công tác xã hội chưa đầy đủ, nhận thức và nỗ lực của sinh viên trong đợt thực hành còn hạn chế Đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thực hành Công tác xã hội

Trang 18

9

Nghiên cứu “Tổng quan về đào tạo Công tác xã hội ở Việt Nam” của

tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa và Bùi Thanh Minh đã đưa ra khởi nguồn từ những hoạt động từ thiện tự phát và mang đậm màu sắc tôn giáo, ngày nay Công tác xã hội đã trở thành một nghề được coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới Với trọng tâm nghề nghiệp hướng đến trợ giúp những người yếu thế trong xã hội: người nghèo, người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em… Công tác xã hội

đã, đang và sẽ phấn đấu, đóng góp vào mục tiêu xây dựng một thế giới công bằng, bình đẳng và phát triển Với những vấn đề như: Đào tạo Công tác xã hội ở Việt Nam, đào tạo Công tác xã hội trong thời kỳ mới với nội dung hoàn thiện chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo Công tác xã hội, đào tạo Công tác xã hội trình độ thạc sĩ và tiến sĩ Chính vì vậy Công tác xã hội Việt Nam đang có những chuyển động mạnh mẽ, phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Để đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ mới, hoạt động đào tạo Công tác xã hội cũng cần có những thay đổi để đào tạo ra nguồn nhân lực Công tác xã hội chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu xã hội, phục vụ sự phát triển của Công tác xã hội Việt nam trong giai đoạn hiện nay Để hoàn thành được nhiệm vụ và vai trò đào tạo của mình, các cơ sở đào tạo cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng, đồng thời cần nhanh chóng phát triển chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo Công tác xã hội với tư cách của một khoa học, một nghề chuyên môn ở Việt Nam Sự phát triển và hoàn thiện của công tác đào tạo sẽ góp phần thực hiện sự thành công của Đề

án Phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay

Theo nghiên cứu của tác giả Tô Phương Oanh “Nâng cao hiệu quả chương trình thực hành nghề đối với sinh viên Công tác xã hội hiện nay – thực trạng và hướng giải quyết”, trong chương trình đào tạo nói chung và đào

tạo Công tác xã hội nói riêng còn nặng về lý thuyết và việc tổ chức cho sinh viên thực hành còn gặp nhiều hạn chế, bất cập Thực tế cho thấy, để trở thành

Trang 19

10

một nhân viên Công tác xã hội chuyên nghiệp, sinh viên không chỉ học lý thuyết ở trong trường đại học, cao đẳng mà cần phải tăng cường các hoạt động tổ chức thực hành tại cơ sở thông qua việc vận dụng các kỹ năng nghề tại trung tâm Công tác xã hội và các cơ sở dịch vụ Công tác xã hội chuyên nghiệp Chính vì vậy, xây dựng chương trình thực hành Công tác xã hội hiệu quả là một yêu cầu quan trọng cần thiết phải giải quyết trong bối cảnh hiện nay Thực hành Công tác xã hội sẽ góp phần gắn lý thuyết vào thực tiễn, biến những kiến thức sách vở thành kiến thức, kỹ năng tay nghề giúp người học sau khi ra trường có thể vững vàng, tự tin,…và để xây dựng được chương trình thực hành Công tác xã hội hiệu quả là một yêu cầu quan trọng cần phải giải quyết trong bối cảnh hiện nay Về cơ bản sự vận hành của quy trình thực hành này ở tất cả các trường đào tạo Công tác xã hội đã diễn ra khá trôi chảy

và theo quy luật nhất định Tuy nhiên với một ngành khoa học còn mới mẻ và non trẻ này và cộng với những sự biến động của xã hội, việc nhìn nhận vấn

đề thực hành cần được sự quan tâm và quyết tâm giải quyết của mọi đối tượng từ các bạn sinh viên, các giáo viên hướng dẫn thực hành, nhà trường,

cơ sở thực hành, tổ chức đến các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước

Có như vậy, mới tạo được một hướng đi mới hơn và hiệu quả hơn cho chương trình thực hành đối với sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội

Những nghiên cứu, bài viết trên được xây dựng với các nội dung mang tầm vĩ mô, trung mô đưa ra thực trạng, giải pháp và những vấn đề liên quan đến thực hành, thực tập Công tác xã hội hiện nay Rất ít nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề chuyên nghiệp cho sinh viên ngành Công tác xã hội hoặc đưa ra những hướng giải quyết về vấn đề này

Đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề Công tác xã hội” (Qua nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội)

Trang 20

11

là một vấn đề mới, có thể nhận thấy một số điểm mới của luận văn này như sau:

Thứ nhất, là từ việc nắm bắt thực trạng đào tạo Công tác xã hội và nhu

cầu về thực hành, thực tập của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội tại trường ĐHSP HN

Thứ hai, từ đó có những đóng góp trực tiếp cho việc hoàn thiện mô

hình thực hành, thực tập nghề chuyên nghiệp cho sinh viên để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo ở khoa Công tác xã hội, trường ĐHSP HN

Thứ ba, kết quả của nghiên cứu là cần thiết và đóng góp vào chiến lược

đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của ngành Công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Thứ nhất, nghiên cứu ứng dụng một số lý thuyết, chức năng trong

Công tác xã hội, dựa vào các hoạt động về thực hành, thực tập trong đào tạo đối với sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội

Thứ hai, nghiên cứu tích hợp một số luận điểm từ các ngành khoa học

cơ bản như tâm lý học lứa tuổi, xã hội học quản lí để làm cơ sở lý luận cho đề tài

Thứ ba, kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện học phần thực hành

trong đào tạo Công tác xã hội thông qua các mô hình thực hành, thực tập nghề chuyên biệt

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với Trường, Khoa Công tác xã hội

Nhận thức được vai trò và vị trí của hoạt động thực hành, thực tập trong đào tạo Công tác xã hội hiện nay

Trang 21

12

Hỗ trợ và hoàn thiện khung chương trình đào tạo, tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động triển khai thực hành, thực tập Công tác xã hội hiện nay cho sinh viên

Thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo về ngành Công tác xã hội

Đối với cơ cở thực hành và kiểm huấn viên

Nhận thức được vai trò của cơ sở đối với các hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên

Đào tạo chuyên môn, nâng cao tay nghề cho kiểm huấn viên

Đối với Giáo viên hướng dẫn thực hành

Có những thay đổi tích cực trong cách đánh giá, nhìn nhận về kết quả thực hành, thực tập của sinh viên, đồng thời có thêm những kinh nghiệm trong quá trình hướng dẫn sinh viên đi thực hành

Đối với sinh viên

Các em được hỗ trợ nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình đi thực hành, thực tập Thay đổi nhận thức về thực hành, thực tập từ đó hình thành kỹ năng nghề cho các em

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhu cầu của sinh viên nhằm hướng tới xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề Công tác xã hội

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mô tả thực trạng hoạt động thực hành, thực tập hiện nay của sinh viên Công tác xã hội tại trường ĐHSP HN

Nhận diện những khó khăn gặp phải của sinh viên trong quá trình thực hành thực tập

Xác định nhu cầu của sinh viên về hoạt động thực hành, thực tập

Đề xuất mô hình thực hành, thực tập Công tác xã hội

Trang 22

13

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội

(Qua nghiên cứu tại trường ĐHSP HN)

5.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Trường ĐHSP HN: Năm thứ

IV (K60 ), năm thứ II (K61), năm thứ III (K62)

5 3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu nhu cầu của sinh viên để

hướng tới xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội

Phạm vi địa bàn nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: Khoa Công tác xã hội, trường ĐHSP HN

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Những khó khăn gặp phải của sinh viên khi đi thực hành, thực tập là gì?

- Những nhu cầu cơ bản nào cần được đáp ứng cho hoạt động thực hành, thực tập Công tác xã hội?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình thực hành thực tập là: khó khăn trong thực hành, thực tập tại cơ sở, khó khăn từ phía bản thân sinh viên, khó khăn trong thiết lập các mối quan hệ

- Sinh viên mong muốn được hỗ trợ trong hoạt động thực hành, thực tập

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Đề tài sử dụng các nguồn tài liệu liên quan đến lĩnh vực thực hành, thực tập trong đào tạo ngành Công tác xã hội trên địa bàn cả nước cũng như

Trang 23

14

sử dụng các nguồn tài liệu hiện có ở trường ĐHSP HN để có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu, đồng thời đưa ra được những so sánh đối chứng với vấn đề trong luận văn

8.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu các vấn đề về thực hành, thực tập hiện nay của sinh viên chuyên ngành Công tác

xã hội Từ đó làm cơ sở cho việc thiết kế bảng hỏi để đi sâu tìm hiểu các vấn

đề khó khăn gặp phải của sinh viên trong hoạt động thực hành, thực tập và sự cần thiết trong việc xây dựng các mô hình thực hành, thực tập tại trường ĐHSP HN hiện nay

đó xác định mô hình thực hành, thực tập phù hợp

Số lượng phỏng vấn sâu được tiến hành như sau:

- 5 sinh viên K60, 5 sinh viên K61 và 5 sinh viên K62

- 5 giáo viên thực hành

- 3 kiểm huấn viên tại Làng Hữu Nghị, 3 kiểm huấn viên tại trung tâm bảo trợ xã hội

8.4 Phương pháp quan sát

Trang 24

15

Môi trường quan sát: trong nghiên cứu tác giả tiến hành tại các môi trường chính: tại Khoa Công tác xã hội trường ĐHSP HN, quan sát tại cơ sở thực hành, thực tập của sinh viên 3 khóa K60, K61, K62

Mục đích của phương pháp quan sát:

Quan sát về cách thức tiến hành, triển khai trong các đợt thực hành thực tập tại cơ sở thực hành nhằm tìm hiểu về những khó khăn mà sinh viên gặp phải

Quan sát tại trường đào tạo nhằm tìm hiểu thực trạng về học phần thực hành, thực tập được tổ chức và triển khai như thế nào từ phía giáo viên thực hành

8.5 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Sau tiến hành thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với vai trò là giáo viên hướng dẫn thực hành, người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập thông tin về thực trạng, nhu cầu và hướng giải quyết đối với thực hành, thực tập Công tác xã hội

Nghiên cứu sử dụng 150 bảng hỏi ở các lớp K60, K61, K62 trong đó

số phiếu phát ra ở mỗi lớp là 50 phiếu

Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên các tiêu chí:

- Đánh giá thực trạng các khó khăn mà sinh viên gặp phải

- Tìm hiểu nhận thức của sinh viên về các hoạt động thực hành thực tập

- Tìm hiểu nhu cầu về hoạt động thực hành, thực tập

Trang 25

Có rất nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về nhu cầu:

Theo B.Ph Lomov: “Nhu cầu là đòi hỏi nào đó của con người về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển”

A.G Kovaliov: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm

xã hội khác nhau muốn có những điều kiện để sống và phát triển”

P.A Rudich: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó”

GS.VS Phạm Minh Hạc: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân về một cái

gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện tượng hoặc những người khác Nhu cầu biểu lộ sự gắn bó của cá nhân với thế giới xung quanh,

sự phụ thuộc của cá nhân vào thế giới đó”

Trong giáo trình “Tâm lý học đại cương” do PGS Nguyễn Quang Uẩn chủ biên thì “nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy được cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển”

Từ những khái niệm trên có thể đi đến kết luận: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của con người về một sự vật và hiện tượng gì đó rất cần thiết, không thể thiếu, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Sự thỏa mãn nhu

Trang 26

17

cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và tập thể Nhu cầu quyết định hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm và ý chí của con người Mặt khác nhu cầu cũng quy định tính tích cực hóa hoạt động của con người”

Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng Nó không bất biến

mà thường xuyên thay đổi theo sự phát triển của cá thể và xã hội mà cá nhân

đó sống và hoạt động

1.1.2 Công tác xã hội

Khi bàn đến khái niệm Công tác xã hội, Hiệp hội quốc gia các nhân viên

Công tác xã hội Mỹ (NASW) đã định nghĩa: “Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiên chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy”

Tại Hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên Công tác xã hội (IFSW) tổ

chức ở Montreal, Canada, tháng 7/2000 đã đưa ra định nghĩa: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các

lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội can thiệp

ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp Công tác xã hội”

Thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội là hình thức tổ chức đưa sinh viên xuống các cơ quan, doanh nghiệp, các trường, các trung tâm … để tập làm các công việc của một nhân viên xã hội trong một thời gian nhất định Thực hành, thực tập là khâu bắt buộc trong quy trình đào tạo và được tính điểm như một học phần trong khoá học Công tác xã hội của trường ĐHSP

HN

Đơn vị có sinh viên đến thực tập gọi là cơ sở thực tập

Trang 27

18

1.1.3 Mô hình thực hành, thực tập

Mô hình là hình thức trợ giúp sinh viên trong suốt quá trình thực hành, thực tập Thông qua các mô hình nhằm củng cố lại kiến thức đã học ứng dụng vào thực hành, hoạt động này tạo điều kiện giúp cho sinh viên có thể phản hồi tích cực ngược trở lại với cơ sở đào tạo Từ đó, hướng tới hoàn thiện

lý thuyết thúc đẩy thực hành, thực tập dựa trên cơ sở nền tảng khoa học mang tính chuyên nghiệp cao Với đặc thù đào tạo tín chỉ nên yêu cầu của thực hành, thực tập về hình thức cơ bản là giống nhau

Thực hành trong Công tác xã hội đóng một vai trò quan trọng và rất cần thiết trong suốt quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên Bởi tính chất đặc biệt của ngành Công tác xã hội là làm việc trực tiếp với con người nên thời gian thực hành chính là thời gian sinh viên được vận dụng những kiến thức,

kỹ năng đã học vào môi trường thực tiễn, qua đó hiểu rõ hơn về công việc và ngành học mình đang theo đuổi Việc áp dụng các mô hình thực hành vào quá trình học tập có ý nghĩa lớn trong thực hiện mục tiêu đào tạo ra một đội ngũ nhân viên xã hội có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng được yêu cầu thực hiện mục tiêu phát triển nghề Công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả xác định: Mô hình là tập hợp các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hành, thực tập của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội bao gồm: Nhà trường, Giáo viên thực hành, cơ

sở thực hành và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội Nhà trường đưa ra quan điểm chỉ đạo, giáo viên thực hành là người thực thi trực tiếp, cơ sở thực hành cung cấp đối tượng hỗ trợ trong quá trình thực hành qua đội ngũ kiểm huấn viên và sinh viên thực thi các yếu tố trên

1.1.4 Sinh viên ngành Công tác xã hội tại trường ĐHSP HN

Trang 28

19

Sinh viên là những người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học

Sinh viên ngành Công tác xã hội trường ĐHSP HN, là những sinh viên đang học tại trường từ năm thứ I đến năm thứ IV được đào tạo tại Khoa Công tác xã hội

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng Nếu nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển Ngược lại nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn đến những hậu quả nhất định Nhu cầu khác với ý muốn Ý muốn là điều mà ta mong muốn, còn nhu cầu là cái gì đó mà khi thiếu thì sẽ dẫn đền những hạn chế trong quá trình phát triển con người Chính vì vậy mà mục tiêu của Công tác xã hội là tăng cường khả năng trợ giúp cho cá nhân, nhóm cộng đồng thông qua các phương pháp

Nhu cầu của con người có thể được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp đến cao, các nhu cầu bậc thấp được gọi là nhu cầu sơ cấp nhằm trả lời cho

câu hỏi của một cá nhân “tôi mong gì trong cuộc sống của mình”, trong khi các nhu cầu bậc cao được gọi là nhu cầu cao cấp nhằm trả lời câu hỏi “tôi muốn trở thành ai và tôi sẽ như thế nào trong cuộc sống” Sự thỏa mãn nhu

cầu của con người cũng theo thang bậc đó

Khi một nhu cầu bậc thấp đã được đáp ứng thì nhu cầu bậc cao hơn sẽ thành nguồn động lực mới cho con người hành động Không ngoại trừ khả năng có sự tương tác giữa các nhu cầu, tức là vào cùng một thời điểm con

Trang 29

Có rất nhiều cách phân loại nhu cầu khác nhau, nhưng với đề tài “Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội” (Nghiên

cứu tại trường ĐHSP HN) có thể vận dụng thang nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970), để chỉ ra nhu cầu của các em về xây dựng mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội Cụ thể việc đánh giá nhu cầu theo bậc thang của Maslow cần quan tâm tới những nội dung sau:

Nhu cầu ở mức thấp:

- Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (như không khí, nước uống, thức ăn, đồ mặc, ở nhà, tình dục…) Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người

- Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể

và sự đe doạ mất việc, mất tài sản…

Nhu cầu ở mức cao:

- Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển

Trang 30

Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông Đó là

sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người

tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng

Hệ thống nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp Nhu cầu ở bậc thấp thì xếp ở phía dưới Các nhu cầu trên luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau Với nghiên cứu về nhu cầu xây dựng mô hình thực hành, thực tập Công tác xã hội lấy sinh viên là trọng tâm trước hết cần tìm hiểu kỹ những vấn đề khó khăn mà các em gặp phải trong thực hành, thực tập, khi khó khăn các em đã ứng phó như thế nào Qua đó xác định được những nhu cầu cấp bách của các em để cải thiện đào tạo trong thực hành, thực tập hiện nay

1.2.2 Lý thuyết hệ thống

Đây là một lý thuyết quan trọng được vận dụng trong Công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực nào họ có thể tiếp cận và tham gia hội nhập Bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến cái tổng thể và mang tính hòa nhập Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống

Trang 31

22

riêng Do đó, Công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối tượng

Theo định nghĩa của Lý thuyết Công tác xã hội hiện đại [3, tr.192-193]:

“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào

những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Có rất nhiều cách phân loại hệ thống, theo tính chất thì Công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:

- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…

- Các hệ thống chính thức như cơ quan, tổ chức của nhà nước hay các ổ chức công đoàn…

- Các hệ thống tập trung như các tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học…

Hay phân loại theo cấp độ thì hệ thống cũng được chia làm 3 cấp độ:

- Vi mô: Cá nhân

- Trung mô: Gia đình, cộng đồng, cơ quan nhà nước tại cộng đồng

- Vĩ mô: Các hệ thống xã hội, chính sách,các cơ quan nhà nước

Đối với khách thể là nhóm sinh viên cần lưu ý đến các hệ thống như: nhà trường (giáo viên chủ nhiệm, giảng viên lý thuyết, giảng viên thực hành), bạn

bè, gia đình, các mối quan hệ xã hội Đây là những hệ thống gần gũi và tiếp xúc thường xuyên nhất với các em sinh viên Cần thu thập thông tin và khai thác nguồn lực từ các nội qui, qui chế trong môi trường giáo dục, hình thức đào tạo này để nhận diện rõ vấn đề có thể trợ giúp cho nhóm đối tượng Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các chức năng của hệ thống như: tính thích ứng, tính hội nhập của các tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn để có thể phát huy, sử dụng tối đa các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng Cụ thể, trong nghiên cứu này có thể liên kết tối đa các tiêu hệ thống các nguồn lực từ

Trang 32

hội là vị trí xã hội gắn với những quyền hạn kèm theo Vị thế chính “là bất kỳ

vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nghĩa vụ đặc thù” Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau

Phạm vi quyền và nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ Nhưng khi xem xét vị trí với những quyền và nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực

Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các

xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từng vị thế

sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vi này chính

là vai trò tương ứng của vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng: “hành vi con người thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí xã hội của người hành động”, rằng: “hành vi phần nào được tạo ra bởi những mong đợi của người hành động và những người khác Như vậy, vai trò xã hội: “là

Trang 33

24

sự tập hợp hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó” Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Trong các xã hội khác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau

Theo thuyết này, sinh viên ngành Công tác xã hội cần thể hiện tốt những vai trò của mình trong quá trình thực hành, thực tập Đó có thể là các vai trò như kết nối các dịch vụ hỗ trợ, khơi dậy tiềm năng, vai trò trung gian, vai trò

là nhà nghiên cứu, vai trò là người biện hộ, vai trò huấn luyện, vai trò là xúc tác, vai trò lập kế hoạch, vai trò phân tích, lượng giá,…Mỗi vai trò đều được ứng dụng linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể khác nhau

1.3 Thực hành, thực tập trong đào tạo nghề Công tác xã hội hiện nay

Từ năm 2004 đến nay, đã có rất nhiều trường mở ngành đào tạo Công tác

xã hội Hiện nay, trên cả nước có trên 40 cơ sở đào tạo Công tác xã hội ở các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học Bên cạnh hệ thống đào tạo chuyên nghiệp Công tác xã hội, hệ thống các cơ sở đào tạo nghề Công tác xã hội đang được triển khai tại hơn 300 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và gần 700 trung tâm dạy nghề [7, tr.5]

Thực hành, thực tập trong đào tạo Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển kĩ năng và thái độ nghề Công tác xã hội cho sinh viên Với tư các là một nghề chuyên môn, Công tác xã hội yêu cầu một hệ thống kỹ năng chuyên nghiệp đối với những người làm nghề Hệ thống kỹ năng này chỉ có thể có qua quá trình thực hành, thực tập Tuy nhiên, hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về mạng lưới các cơ sở thực hành, thực tập; do sự yếu kém của đội ngũ

Trang 34

25

kiểm huấn viên Thực tế, chỉ có trường Đại học Lao động - Xã hội và trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh là có mạng lưới cơ sở thực hành và giáo viên hướng dẫn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã và đang tập trung xây dựng mạng lưới cơ sở thực hành, thực tập với những cơ chế hợp tác rõ ràng để nâng cao hiệu quả hoạt động cho sinh viên [7, tr.6]

Hầu hết cơ sở đào tạo thực hành Công tác xã hội đều có quy trình triển khai thực hành, thực tập bài bản Các bước cơ bản trong quy trình bao gồm:

Bước 1: Tổ chức và hướng dẫn chuyên môn

Bước 2: Tìm kiếm cơ sở/địa bàn thực hành

Bước 3: Tổ chức hỗ trợ và giám sát thực hành

Bước 4: Tổ chức báo cáo kết quả

Bước 5: Đánh giá kết quả

Thực tế cho thấy số lượng sinh viên tham gia thực hành, thực tập khá lớn trong khi đội ngũ giảng viên hướng dẫn còn thiếu, mối quan hệ giữa giảng viên thực hành và cán bộ tại cơ sở thực hành, thực tập chưa chặt chẽ Bên cạnh đó, kiến thức và kỹ năng của cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế, nhìn nhận của lãnh đạo cơ sở về thực hành Công tác xã hội chưa đầy đủ và nhận thức,

nỗ lực của sinh viên trong đợt thực hành còn kém [14, tr292]

Một số nguyên nhân chính khiến nhiều cơ sở, tổ chức không mấy hào hứng đối với việc tiếp nhận sinh viên đến thực hành, thực tập Công tác xã hội:

Thứ nhất, khi tiếp nhận sinh viên cơ sở phải cử người hướng dẫn, điều

này dẫn đến công việc hàng ngày của cán bộ tại cơ sở bị thay đổi (chưa kể đến người hướng dẫn không đáp ứng được nhu cầu của sinh viên và nhà trường về chuyên môn)

Trang 35

26

Thứ hai, các cơ sở thực hành chưa nhận rõ được lợi ích của chương trình

thực hành, thực tập đối với cơ sở mình

Thứ ba, tâm lý coi thường không coi trọng khả năng của sinh viên thực

hành, thực tập

Thứ tư, cơ sở e ngại sinh viên thực hành sẽ tiếp xúc được với những

thông tin cần bảo mật

Thứ năm, cơ sở không muốn có những xáo trộn ảnh hưởng đến hoạt động

của cơ sở [12, tr.276]

Qua nghiên cứu thực tiễn tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, giáo viên hướng dẫn thực hành, thực tập tại cơ sở, thời gian đầu các em rất hứng thú, nhưng chỉ khoảng 1,2 tuần sau là có những vấn đề phát sinh cần giải quyết Các sinh viên than phiền rằng vì đối tượng can thiệp chủ yếu là các em nhỏ (dưới 18 tuổi) như: trẻ có HIV/AIDS, trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ lang thang đường phố, Sinh viên ít có cơ hội được tiếp cận với những nhóm người trưởng thành Khi ký kết với Ban quản lý các cơ sở/trung tâm/mái ấm, thì nhiệm vụ chính của sinh viên là trò chuyện, cho các em ăn uống/vệ sinh và dạy kèm văn hóa Cơ sở thực hành rất có hạn Hằng năm, cứ hết khóa sinh viên này đến khóa sinh viên khác thực hành tại những cơ sở cố định ấy Đó chưa kể đến những sinh viên ngành Công tác xã hội ở những trường khác cũng đăng

ký thực hành tại cơ sở này [13, tr.283-284]

Xây dựng được mô hình thực hành, thực tập nghề Công tác xã hội hiệu quả là một yêu cầu quan trọng cần phải giải quyết trong bối cảnh hiện nay

Về cơ bản sự vận hành của quy trình thực hành này ở tất cả các trường đào tạo Công tác xã hội đã diễn ra khá trôi chảy và theo quy luật nhất định Nhưng với một ngành khoa học còn mới mẻ thì việc nhìn nhận vấn đề thực hành cần được sự quam tâm và quyết tâm giải quyết từ nhà trường, cơ sở

Trang 36

27

thực hành, tổ chức và chính sách của Đảng và Nhà nước của chính các bạn sinh viên đang theo học ngành Công tác xã hội Như vậy mới tạo ra một nền tảng, hướng đi mới hiệu quả hơn cho học phần thực hành, thực tập nghề đối với sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội tại trường ĐHSP HN nói riêng

và sinh viên ngành Công tác xã hội nói chung hiện nay

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Trường ĐHSP HN là một trong những trường đại học sớm nhất ở nước

ta được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo trình độ cử nhân khoa học ngành Công tác xã hội theo Quyết định số 08-QĐ/BGDĐT-ĐH&SĐH, ngày 6/1/2004

Nhiệm vụ đào tạo ngành Công tác xã hội của Trường là đào tạo cử nhân Công tác xã hội trình độ đại học trên cơ sở chương trình đào tạo được

Bộ giáo dục và Đào tạo phê duyệt (mã ngành đào tạo:609) căn cứ Quyết định số:25/2005/QĐ-TTg ngày 27/01/2005 và Quyết định số 38/2009/QĐ-TTg ngày 09/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Khoa Công tác xã hội, trường ĐHSP HN được thành lập vào ngày 25 tháng 4 năm 2011 với chức năng đào tạo Đại học ngành Công tác xã hội với

3 tổ bộ môn: tổ Cơ sở Công tác xã hội, tổ An sinh xã hội và Phát triển Cộng đồng và tổ Công tác xã hội với trẻ em và Gia đình Đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy hiện nay của Khoa là 25 người trong đó có 3 Tiến sĩ, 20 thạc sĩ (9 thạc sĩ đang làm nghiên cứu sinh ở trong và ngoài nước, có 4 người đang chuẩn bị bảo vệ Tiến sĩ) và 3 cử nhân đang học cao học Hầu hết cán bộ của khoa là những cán bộ trẻ, có năng lực và nhiệt huyết, có kiến thức nền tảng vững chắc được đào tạo cơ bản và được nghiên cứu chuyên sâu Bên cạnh đó còn có đội ngũ các GS, PGS, TS, giảng viên các chuyên ngành gần như Tâm

lý học, Xã hội học ở các khoa khác của trường ĐHSP HN tham gia vào các hoạt động của khoa Cơ cấu phân công nhiệm vụ 15 giảng viên dạy lý thuyết

Trang 37

28

đảm nhận việc giảng dạy lý thuyết cho sinh viên, 6 giảng viên chuyên đảm nhận những hoạt động thực hành và đảm trách về hướng dẫn nội quy, quy chế thực hành thực tập cho sinh viên các khoá

Hiện nay, khoa đã và đang đào tạo được 07 khóa sinh viên hệ chính quy, trong đó đã có 3 khóa sinh viên (K57, K58, K59) tốt nghiệp ra trường với tổng số sinh viên là 172 sinh viên Khoa Công tác xã hội hiện đang có 4 khóa đào tạo hệ chính quy với 325 sinh viên Bên cạnh đó, khoa cũng đã và đang đào tạo được khoảng 2000 học viên là cán bộ ở cấp xã phường ở các địa phương trên phạm vi cả nước

1.5 Đặc điểm hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên khoa Công tác

Trang 38

29

Bảng 1.1: Bảng khung học phần thực hành, thực tập Công tác xã hội

(kết quả nghiên cứu)

6 Có thể lựa chọn một

trong ba phương pháp của Công tác xã hội

Căn cứ vào chương trình khung của Bộ Giáo dục & Đào tạo ban

hành về cử nhân ngành Công tác xã hội năm 2011, trường ĐHSP HN đã chủ động xây dựng chương trình đào tạo với 67 học phần tương đương với 130 tín chỉ Trong đó, thực hành, thực tập chiếm 4 học phần tương đương với 17 tín chỉ, mỗi tín chỉ tương đương với 15 tiết Theo cách tính thì tổng số giờ thực hành, thực tập tối đa của sinh viên ngành Công tác xã hội trong một khóa đào tạo cử nhân là 210 tiết và số tiết lý thuyết là 1740 tiết

Điều này cho thấy thực hành, thực tập Công tác xã hội tại trường ĐHSP HN vẫn nặng về lý thuyết mà chưa chú trọng đến thực hành Đây cũng chính là một thách thức khó có thể vượt qua được đối với các trường đào tạo Công tác xã hội hiện nay tại Việt Nam

Trang 39

30

So sánh chương trình đào tạo cử nhân Công tác xã hội trường đại học Công tác xã hội Sliver - thuộc trường Đại học NewYork Mỹ thì thực hành được tiến hành tại các cơ sở và nơi cung cấp dịch vụ cho con người với số lượng tiết học là 900 tiết, sinh viên mỗi tuần một ngày học thực địa tại cơ sở ngay vào năm thứ nhất

Mục đích của hoạt động thực hành, thực tập Công tác xã hội

Cung cấp cho sinh viên cơ hội thực tế nhằm liên hệ giữa lý thuyết ở trường học và thực tế tại cơ sở thực hành qua việc tiếp cận thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) dưới sự hướng dẫn của kiểm huấn viên cơ sở và giáo viên thực hành của Khoa Công tác xã hội trường ĐHSP HN

Nội dung thực hành, thực tập Công tác xã hội

Thực hành các kỹ năng: vấn đàm, quan sát, vãng gia, viết phúc trình

về trường hợp thân chủ, vẽ sơ đồ sinh thái, sơ đồ phả hệ của thân chủ, xây dựng kế hoạch trợ giúp cho thân chủ

Thực hành tổ chức tiến trình nhóm giúp đỡ các nhóm đối tượng, xây dựng kế hoạch trợ giúp và thực hiện

Thực hành khảo sát một cộng đồng cụ thể trên nhiều bình diện khác nhau của cộng đồng, phân tích khái quát quá trình phát triển cộng đồng, những vấn đề mà hiện tại cộng đồng đang phải đối mặt và đánh giá tiềm năng phát triển cộng đồng

Thực tập tốt nghiệp là sự kết hợp thực hành cho các phương pháp Công tác xã hội cá nhân, Công tác xã hội nhóm và Công tác xã hội với tổ chức và Phát triển Cộng đồng

Cơ sở thực hành, thực tập tại trường ĐHSP HN (xem phần phụ lục)

Trang 40

2.1.1 Kế hoạch triển khai thực hành, thực tập tại trường ĐHSP HN

Thực hành, thực tập đối với ngành Công tác xã hội là nền tảng cốt lõi trong quá trình đào tạo hình thành năng lực, nghề nghiệp cho sinh viên Vậy qui trình thực hành, thực tập Công tác xã hội ở trường ĐHSP HN như thế nào? Kết quả đạt được của sinh viên ra sao? Để có câu trả lời sắc đáng cho những câu hỏi trên, qua phân tích tình hình thực tế ở khoa Công tác xã hội cho thấy Hiện nay, các khóa sinh viên K60, K61 và K62 đã và đang tham gia các học phần thực hành 1,2 3 theo đúng khung chương trình đào tạo Công tác

xã hội của khoa với mô hình triển khai thực hành, thực tập theo các bước:

Bước 1: Củng cố lại kiến thức lý thuyết

Bước 2: Tìm hiểu cơ sở và chọn ca thực hành

Bước 3: Tiến hành thực hành

Bước 4: Tổng kết, đánh giá tại cơ sở và hỏi thi vấn đáp, nộp báo cáo

Trình tự triển khai các mô hình cụ thể như sau:

- Tuần thực hành tại trường ĐHSP HN (tuần thứ 1):

Giáo viên thực hành triển khai chung về mục đích, kế hoạch, nội dung thực hành, thực tập Cung cấp cho sinh viên danh sách các cơ sở thực hành, quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia trong thực hành Sau

đó, giáo viên thực hành hướng dẫn sinh viên ôn lại một số lý thuyết cơ bản

liên quan đến học phần thực hành, thực tập và một số kỹ năng cần thiết

- Tuần thực hành tại cơ sở thực tập (4 tuần tiếp theo):

TT Nội dung

Ngày đăng: 20/08/2015, 11:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng khung học phần thực hành, thực tập Công tác xã hội - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 1.1 Bảng khung học phần thực hành, thực tập Công tác xã hội (Trang 38)
Bảng 2. 1: Nhóm khó khăn mà sinh viên thường gặp phải - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 2. 1: Nhóm khó khăn mà sinh viên thường gặp phải (Trang 51)
Bảng 2.2. Nhóm khó khăn trong thực hành, thực tập - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 2.2. Nhóm khó khăn trong thực hành, thực tập (Trang 53)
Bảng 2.3 : Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 2.3 Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội (Trang 57)
Bảng 2.4: Nhóm khó khăn từ phía bản thân sinh viên - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 2.4 Nhóm khó khăn từ phía bản thân sinh viên (Trang 60)
Bảng 2.5: Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của sinh viên - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 2.5 Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của sinh viên (Trang 63)
Bảng 2.6. Bảng so sánh cách giải quyết khi gặp khó khăn giữa các khóa  sinh viên - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng 2.6. Bảng so sánh cách giải quyết khi gặp khó khăn giữa các khóa sinh viên (Trang 64)
Bảng số liệu trên cho ta thấy rằng, hầu hết các bạn sinh viên đều mong  muốn khác nhau nhưng phần lớn các bạn muốn mình được tham gia như một - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
Bảng s ố liệu trên cho ta thấy rằng, hầu hết các bạn sinh viên đều mong muốn khác nhau nhưng phần lớn các bạn muốn mình được tham gia như một (Trang 78)
Bảng  3.5:  Mong  đợi  của  sinh  viên  về  mô  hình  thử  nghiệm  Công  tác  xã  hội - Nhu cầu xây dựng mô hình thực hành thực tập nghề công tác xã hội ( qua nghiên cứu tại trường đại học sư phạm hà nội)
ng 3.5: Mong đợi của sinh viên về mô hình thử nghiệm Công tác xã hội (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm