LỜI CAM ĐOAN Đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Hòa – huyện Phú Bình – tỉn
Trang 1HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2011 – 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS Vũ Thị Hiền
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới tại
xã Tân Hòa – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên”, chuyên ngành Phát
Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam, đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện
đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Tác giả đề tài
Luân Thị Minh
Trang 3Lời cảm ơn
Thực tập tốt nghiệp là một bước đầu để sinh viên có cơ hội áp dụng kiến thức trên nhà trường vào thực tế Trong quá trình thực tập tại xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên em đã tiếp thu học hỏi được nhiều kiến thức và đã làm em hiểu sâu hơn những kiến thức mà các thầy, cô giáo truyền đạt khi ở trên giảng đường
Trong quá trình thực tập và hoàn thành đề tài em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của cán bộ xã Tân Hòa và cô giáo hướng dẫn ở trường
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bác, các cô, các chú, các anh, chị trong xã Tân Hòa – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình thực tập nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo Th.s Vũ Thị Hiền đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập để em hoàn thành bài khóa luận này
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, em xin chúc sức khỏe các thầy cô giáo, chúc các thầy cô luôn thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học Em xin chúc tất cả những cán bộ trong xã Tân Hòa luôn mạnh khỏe và công tác tốt
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Luân Thị Minh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai tại xã Tân Hòa qua 3 năm (2012 – 2014) 26
Bảng 4.2 Bảng hiện trạng cơ cấu lao động của xã Tân Hòa giai đoạn 2012 – 2014 28
Bảng 4.3 Tình hình canh tác các loại cây trồng của xã Tân Hòa (giai đoạn 2012 – 2014) 29
Bảng 4.4 Tình hình quy hoạch tại xã Tân Hòa 35
Bảng 4.5 Hiện trạng đường giao thông của xã Tân Hòa 36
Bảng 4.6 Hiện trạng về thủy lợi, điện và trường học tai xã Tân Hòa 37
Bảng 4.7 Hiện trạng về cơ sở vật chất văn hóa, chợ, bưu điện, nhà ở dân cư tại xã Tân Hòa 38
Bảng 4.8 Hiện trạng kinh tế và tổ chức sản xuất tại xã Tân Hòa 39
Bảng 4.9 Tổng thu nhập của người dân xã Tân Hòa từ năm 2011 đến năm 2014 40
Bảng 4.10 Tình hình văn hóa – xã hội – môi trường của xã Tân Hòa 41
Bảng 4.11 Một số thông tin của 3 xóm điều tra năm 2014 42
Bảng 4.12 Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của các chủ hộ ở các xóm điều tra 44
Bảng4.13 Hiện trạng việc làm của các hộ điều tra 46
Bảng 4.14 Tình hình thu nhập của các hộ năm 2014 47
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ trình độ chuyên môn kỹ thuật của các chủ hộ ở các xóm điều tra 45 Hình 4.3 Biểu đồ các nguồn thu nhập chính của các hộ điều tra 46 Hình 4.2 Biểu đồ hiện trạng việc làm của các hộ điều tra 48
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết
tắt Chữ diễn giải
Chữ viết tắt Chữ diễn giải
CMKT Chuyên môn kỹ thuật TSX Thuế sản xuất
C1 Khấu hao tài sản cố
định
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CPTG Chi phí trung gian TNHH Thu nhập hỗn hợp
lương thực và nông nghiệp
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 4
2.1.1 Khái niệm thu nhập và các khái niệm liên quan 4
2.1.2 Một số khái niệm liên quan đến nông thôn mới 6
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 10
2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới 10
2.2.2 Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới ở trong nước 13
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 18
3.2.1 Địa điểm 18
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 19
3.4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 20
3.4.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 20
Trang 83.4.4 Phương pháp phân tích và so sánh 20
3.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 20
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 22
4.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội 27
4.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 33
4.2 Đánh giá thực trạng thu nhập của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tính Thái Nguyên 34
4.2.1 Thực trạng xây dựng NTM tại xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 34
4.2.2 Thực trạng thu nhập của người dân trên địa bàn nghiên cứu 42
4.4 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng và các yếu tố tác động tới thu nhập của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn xã Tân Hòa 48 4.4.1 Vấn đề giới và thu nhập trong gia đình 48
4.4.2 Trình độ học vấn 49
4.4.3 Tuổi và các yếu tố khác ảnh hưởng tới thu nhập 49
4.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới 51
4.5.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 51
4.5.2 Tăng cường cho nông dân vay vốn kết hợp với công tác khuyến nông 52 4.5.3 Tăng cường áp dụng KHKT vào sản xuất kết hợp với đẩy mạnh cơ giới hóa 52
4.5.4 Tăng cường hợp tác trong tiêu thụ nông sản 52
4.5.5 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý 53
4.5.6 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 53
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (với 48% dân số lấy nông nghiệp làm sinh kế, theo đại diện FAO), nằm trong nhóm các nước đang phát triển và thuộc trong số các nước nghèo trên thế giới Với gần 69,4% dân số sống ở khu vực nông thôn Vì vậy, xây dựng và phát triển nông thôn về mọi mặt là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề bức thiết và quan trọng Trong những năm qua đời sống của người dân nông thôn trên cả nước nói chung và đời sống của người dân tại xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã có phần được cải thiện bởi đã có nhiều chương trình, dự án được triển khai và thực hiện như: Chương trình xóa đói giảm nghèo, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Tuy nhiên, những dự án và chương trình này mới chỉ giải quyết được một số khía cạnh của đời sống nông thôn (như về cơ
sở hạ tầng, môi trường), chưa giải quyết một cách toàn diện về mọi mặt của nông thôn Cho nên có thể nói ổn định cuộc sống nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước Chính vì lẽ
đó mà chủ trương nâng cao thu nhập cho người dân là một trong những vấn
đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nhằm từng bước cải thiện bộ mặt nông thôn Việt Nam trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tại đại hội Đảng lần thứ X khi định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Đảng ta, tại nghị quyết số 26/NQ-TW Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã khẳng định “hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”, trong đó “ chiến lược trong
Trang 10sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cơ sở
và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của Đất nước” Để làm được điều
đó thì phải có một chương trình, dự án mang tính toàn diện Do vậy Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Căn cứ vào quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Tân Hòa là một xã miền núi nằm ở phía Đông của huyện Phú Bình, là
xã nông nghiệp, đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế, văn hóa – xã hội phát triển chậm Việc triển khai phong trào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
xã Tân Hòa trong những năm qua cũng có bước phát triển sâu rộng và mạnh
mẽ, phát huy sức mạnh ý chí, các nguồn lực trong nhân dân và đạt được những kết quả nhất định Thu nhập bình quân đầu người (GDP) năm 2014 đạt 15,5 triệu đồng/người/năm Tuy nhiên mức thu nhập bình quân trên đầu người của xã vẫn còn thấp và chưa đạt được tiêu chí thu nhập trong 19 tiêu chí để đạt xã nông thôn mới
Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Hòa – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng thu nhập của người dân trên địa bàn xã Tân Hòa
Từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân góp phần thực hiện thành công chương trình NTM trên địa bàn xã Tân Hòa – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên
Trang 111.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu sau:
- Đánh giá được một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được thực trạng thu nhập của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích được các nguyên nhân ảnh hưởng và các yếu tố tác động tới thu nhập của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn xã Tân Hòa
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thông qua quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài giúp cho sinh viên nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo của mình, vận dụng được những kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và những
kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân
Đề tài thực hiện hoàn thành sẽ là tiền đề là cơ sở và tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình nghiên cứu và học tập của sinh viên các khóa tiếp theo trong ngành phát triển nông thôn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để chính quyền địa phương xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái nguyên và các cơ quan ban ngành tỉnh Thái Nguyên, các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức cá nhân đầu tư trong và ngoài nước định hướng, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu
nhập cho người dân nông thôn cải thiện đời sống cho nhân dân
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LỆU
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1 Khái niệm thu nhập và các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm thu nhập [4]
Thu nhập là giá trị thu được (quy ra thóc hoặc tiền) sau khi đã trừ đi chi
phí trung gian (IC) và khấu hao tài sản cố định
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất bao gồm cả công lao động và lợi nhuận thu được do người sản xuất trong
1 chu kỳ sản xuất trên quy mô diện tích
C1: Khấu hao tài sản cố định
- Thu nhập ổn định: Là khả năng tạo thu nhập một cách ổn định, lâu dài qua các năm, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ
- Phân loại thu nhập: theo mức độ, thì thu nhập bao gồm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
+ Thu nhập thường xuyên: Là các khoản thu nhập có tính chất lặp đi lặp lại và ổn định như: tiền lương, tiền trợ cấp, các khoản thu nhập do các tổ chức cá nhân chi trả…
Trang 13+ Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập không ổn định, đột xuất như: quà biếu tặng, thu nhập từ các hoạt động khoa học…
2.1.1.2 Các khái niệm liên quan
Khái niệm cơ cấu thu nhập
Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể
Như vậy có thể hiểu cơ cấu thu nhập trên bình diện theo các loại tổ chức thành phần Tuy nhiên ở đây xét chủ thể của thu nhập là các hộ gia đình, các nhóm xã hội tạo nên thu nhập Vậy cơ cấu của nhóm xã hội đó là các yếu
tố xã hội như nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, học vấn
Khái niệm thu nhập bình quân đầu người [4]
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
Thu nhập bình quân đầu người/năm là tổng các nguồn thu nhập của hộ/năm chia đều cho số thành viên trong gia đình Thu nhập của hộ nông dân bao gồm toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong thời gian một năm, gồm:
+ Thu từ tiền công, tiền lương
+ Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất);
+ Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (không tính tiền rút tiết kiệm, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
Bình quân chung của tỉnh được hiểu là bình quân thu nhập đầu người khu vực nông thôn của tỉnh
Trang 142.1.2 Một số khái niệm liên quan đến nông thôn mới
2.1.2.1 Khái niệm về nông thôn
Khi nói về nông thôn có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng
đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường của nông thôn so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân
cư và số lượng dân cư trong vùng để xác định Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh
kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây
Như vậy, có thể nói khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới
góc độ quản lý, có thể hiểu “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định
và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [3]
2.1.2.2 Khái niệm hộ nông dân
Đã có rất nhiều quan niệm tranh luận đưa ra về định nghĩa hộ nông dân, trong đó có một định nghĩa khá đầy đủ đã được đưa ra trong cuốn “Kinh tế hộ
Trang 15nông dân” của GS-TS Đào Thế Tuấn (1997) như sau: “Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao” [6]
2.1.2.3 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rông được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở các quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam thuật ngữ phát triển nông thôn được
đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ lý luận quản lý, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận hệ thống về thuật ngữ này Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vân dụng thật ngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Ngân hàng Thế giới (WB) năn 1976 đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và
xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”
Một số quan điểm khác lại cho rằng, phát triển nông thôn là hoạt động nhằm nâng cao vị thế về kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực
Trong điều kiện của Việt Nam tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này có thể hiểu như sau:
“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chú ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [3]
Trang 162.1.2.4 Nông thôn mới
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng nâng cao; theo hướng xã hội chủ nghĩa” [5]
Như vậy nông thôn trước tiên nó phải là nông thôn, không phải thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản sau: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời sống văn hóa phong phú Song, có điều không bao giờ thay đổi là nông thôn mới cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân
Trước hết nông thôn mới phải là nơi sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa Bên cạnh đó nông thôn mới phải đảm nhận được vai trò giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc Nếu quá trình xây dựng nông thôn mới phá vỡ chức năng này là đi ngược với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người dân Việt Nam Nông thôn mới phải giữ được môi trường sinh thái hài hòa
Trang 17 Đặc trưng của nông thôn mới
- Nông thôn mới là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã [1]
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch
- Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân
- tri thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Viêt Nam xã hội chủ nghĩa
Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm
491/QĐ-19 tiêu chí áp dụng riêng cho từng vùng của Việt Nam Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính của xây dựng NTM thời kỳ Đẩy mạnh CNH – HĐH
Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để xác lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới Ngoài ra nó còn là căn cứ chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư các thành phần kinh
Trang 18tế, huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư Chương trình được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)
2.1.2.5 Căn cứ pháp lý xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Hòa
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/08/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” [5]
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/01/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [11]
Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới [13]
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 [12]
Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ ngành Trung Ương, UBND Tỉnh, huyện liên quan đến chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình số 06-CTr/HU ngày 25/5/2011 của huyện Phú Bình về việc xây dựng nông thôn mới huyện Phú Bình, giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới
* Nâng cao thu nhập cho người dân ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân, chủ yếu dân cư sống ở nông thôn, thu
nhập thấp và hiện tượng thiếu việc làm gay gắt Trước tình hình đó Trung
Trang 19Quốc đã quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng trong nông thôn, đặc biệt là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, hệ thống thị trấn, thị tứ…tạo điều kiện cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thuận lợi Trung Quốc còn hết sức quan tâm phát triển nền nông nghiệp thâm canh với trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt quan tâm nghiên cứu sản xuất các loại giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất và chất lượng cao cùng với kỹ thuật canh tác tiên tiến Đặc biệt đáng chú ý là việc xây dựng các xí nghiệp Hương Trấn Xí nghiệp Hương Trấn là loại hình
xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập ngay trên quê hương mình trên cơ sở những lợi thế về nguồn tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh
tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo của Đảng và quan tâm giúp đỡ của nhà nước Hệ thống xí nghiệp Hương Trấn chủ yếu sản xuất các hàng hoá tiêu dùng nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân Việc phát triển xí nghiệp Hương Trấn có ý nghĩa rất to lớn Xí nghiệp Hương Trấn đã thu hút 120 triệu lao động (chiếm 26,9% lực lượng lao động cả nước) với mức thu nhập 2500 NDT/lao động/tháng Đây là thành quả to lớn mà xí nghiệp Hương Trấn mang lại, vì vậy cần nghiên cứu để có thể áp dụng một cách phù hợp với điều kiện nước ta
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào là
“nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới; mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn
và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn”
Theo đó, Chính Phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông
Trang 20thôn Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM với việc bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại biểu này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện
rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi xuất 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác… Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất Châu Á
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi xướng và phát triển phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (One Village, one Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực Trong
đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20 năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như: Nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu… giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương.[14]
Trang 212.2.2 Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới ở trong nước
* Nâng cao thu nhập cho người dân ở huyện Xuân Lộc và Thị Xã Long
Khánh, tỉnh Đồng Nai [16]
Đây là hai huyện đầu tiên của cả nước vinh dự đón nhận danh hiệu này sau hơn 4 năm cùng cả nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM)
Chương trình do Ban Chỉ đạo Quốc gia về xây dựng NTM và tỉnh Đồng Nai tổ chức
Giá trị sản xuất và thu nhập người dân đều tăng
Ông Đinh Quốc Thái, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho biết Xuân Lộc và Long Khánh là vùng đất mà lợi thế chỉ có đất đai Từ khi triển khai thực hiện xây dựng NTM, tỉnh và các cấp của hai huyện đã tập trung tuyên truyền, vận động người dân xây dựng NTM, đào tạo cán bộ cùng với dân thực hiện phong trào Đặc biệt, Xuân Lộc và Long Khánh đã hoàn thành quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xác định được sản phẩm chủ lực, hỗ trợ mô hình sản xuất hiệu quả và vùng sản xuất tập trung
Để trở thành huyện NTM, Xuân Lộc và Long Khánh đã vượt chỉ tiêu 75% số xã phải đạt chuẩn NTM, theo đó Long Khánh có 100% số xã đạt chuẩn NTM và với Xuân Lộc hiện có 12/14 xã hoàn thành 19 tiêu chí NTM (chiếm 85,7%, 2 xã còn lại chỉ còn tiêu chí giao thông là chưa đạt)
Huyện Xuân Lộc đã hình thành các vùng chuyên canh như xoài, tiêu, ngô, cây ăn trái đặc sản, nhân rộng mô hình trồng trọt và chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao giúp giá trị sản xuất trên 1 ha diện tích trồng trọt và chăn nuôi đạt bình quân 115,5 triệu đồng/ha Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo đạt 75% và 90,9% lao động có việc làm thường xuyên Thu nhập bình quân của
Trang 22người dân đạt 37,6 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 3 lần so với năm 2008, tỷ
lệ hộ nghèo giảm 7% hiện còn 1%
Trong khi đó ở Long Khánh, sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6,1%/năm, giá trị sản xuất bình quân trên 1ha diện tích trồng trọt, chăn nuôi thủy sản đạt 170 triệu đồng/ha- mức cao nhất trên toàn tỉnh Đồng Nai Nhờ đó, thu nhập bình quân của người dân nông thôn đạt 38,6 triệu đồng/người/năm, tăng 2,13 lần so với năm 2009, tỷ lệ
hộ nghèo giảm mạnh hiện còn dưới 1%
Ở cả 2 huyện, kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư xây dựng đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân trên địa bàn; hệ thống chính trị được xây dựng ngày càng vững mạnh, dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững
Theo ông Đinh Quốc Thái, xây dựng NTM ở Xuân Lộc và Long Khánh không chỉ đơn thuần là hoàn thành các tiêu chí đề ra mà còn tạo ra người nông dân mới có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao, có nhiều điều kiện tiếp cận thông tin Thực tế người nông dân ở hai nơi này đã thực hiện được “4 xóa”: xóa tư tưởng trông chờ, ỷ lại, xóa vườn tạp, độc canh, xóa tư tưởng lạc hậu và xóa nghèo Đồng thời từ phong trào cũng hình thành đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn, bám sát thực tiễn và nguyện vọng của nông dân
Không chỉ có 2 huyện đầu tiên của cả nước đạt chuẩn huyện NTM, mà Chương trình xây dựng NTM ở Đồng Nai cũng đạt được những thành tựu to lớn Hiện toàn tỉnh có 52/138 xã đạt chuẩn NTM, chiếm tỷ lệ 32,8%, gấp gần
4 lần tỷ lệ chung cả nước Có được kết quả này là nhờ vào sự chủ động trong chỉ đạo và thực hiện chương trình ngay từ ngày đầu thực hiện Theo đó, Bộ
Trang 23Tiêu chí của tỉnh không chỉ gồm 39 chỉ tiêu (thuộc 19 tiêu chí NTM) mà Đồng Nai còn cụ thể hóa, phát triển thành 54 tiêu chí Đồng Nai đặt mục tiêu tới năm 2020 sẽ có 100% số xã đạt chuẩn NTM
* Xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng [15]
Theo ông Huỳnh Tấn Nguyên (năm 2015), cho biết: Phú Tân là xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn của huyện Châu Thành, có diện tích tự nhiên 2.767,68
ha, trong đó diện tích sản xuất là 2.435,98 ha Toàn xã có 3.461 hộ với 14.649 khẩu, trong đó đồng bào Khmer chiếm 78,77% dân số Lao động trong độ tuổi là 9.442 người, chiếm 64,45% tổng số nhân khẩu của xã
Bên cạnh những thuận lợi như có Quốc lộ 60 và Tỉnh lộ 932 đi qua, được hưởng đầu tư từ nhiều công trình hạ tầng… Phú Tân vẫn còn không ít khó khăn như hệ thống sông ngòi chằng chịt, hàng năm phải gia cố đê bao, bờ bao xuống cấp; trình độ dân trí thấp nên việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật chưa cao, sản xuất còn mang tính tự phát, chưa phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương
Khi Phú Tân được tỉnh chọn là một trong 22 xã điểm chỉ đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015, bà con rất vui và đoàn kết cùng nhau thực hiện với quyết tâm cao Đây là niềm vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm nặng nề của Đảng bộ và nhân dân địa phương Tuy còn không ít khó khăn nhưng phát huy truyền thống của quê hương, Đảng bộ và nhân dân Phú Tân
đã đồng lòng, chung sức xây dựng nông thôn mới Đến nay, Phú Tân đã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, trở thành xã đầu tiên của huyện cán đích chương trình
Theo ông Trương Đắt Pháp (năm 2015), ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, Đảng ủy xã đã ban hành Nghị quyết về mục tiêu xây dựng nông thôn mới gắn với cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên,
Trang 24tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa, nội dung của chương trình
Ban chỉ đạo xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tận dụng tiêu chí nào
do người dân cùng làm thì tranh thủ làm trước, tiêu chí nào cần nguồn vốn đầu tư của nhà nước thì có kế hoạch hằng năm để sớm đạt được chỉ tiêu đề
ra Người dân ở đây rất nhiệt tình đóng góp cả về vật chất và ngày công lao
động Nhờ tạo được lòng tin, tuyên truyền sâu rộng, người dân hiểu rõ, nên trong tổng kinh phí thực hiện xây dựng nông thôn mới của xã là 255,905
tỷ đồng thì nhân dân đóng góp trên 54,6 tỉ đồng
Đến nay, tỷ lệ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa theo tiêu chuẩn đạt 100%, có trên 56,34% đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải và 100% đường ngõ, xóm được lót đá (bê tông) sạch đẹp, thuận tiện đi lại cả 2 mùa mưa nắng Tỷ lệ đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận lợi đạt 60,86% Tổng kinh phí thực hiện trên 48 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp hơn 11,6 tỷ đồng
Từ chủ trương đúng đắn và cách làm phù hợp, đến nay, hệ thống thủy lợi đáp ứng yêu cầu của sản xuất và dân sinh; toàn xã có 99,2% số hộ có điện sử dụng; xã có 5 trường học, trong đó có trường đạt chuẩn quốc gia; 73% nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, không còn nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,9% Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 95,07%, thu nhập bình quân trên 25,3 triệu đồng/người/năm Toàn xã có 90,6% người dân tham gia bảo hiểm y tế; 1 trạm y tế đạt 10 tiêu chí quốc gia về y tế
Theo ông Pháp, kể từ khi triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhận thức của người dân ở địa phương đã chuyển biến tích cực từ
nề nếp sinh hoạt tới tư duy, cách làm ăn, nhất là bà con người Khmer Cụ thể, người dân tự nguyện đóng tiền, công lao động, đất đai để làm thủy lợi nội
Trang 25đồng, xây cầu, đắp đường trong xã… với tổng trị giá lên đến nhiều tỷ đồng Cũng từ đó, đời sống kinh tế-văn hóa của bà con được nâng lên rõ rệt
Chủ tịch UBND huyện Huỳnh Tấn Nguyên phấn khởi nói: “Phú Tân đạt chuẩn xã nông thôn mới là thành tích rất đáng ghi nhận của Đảng bộ, nhân dân Châu Thành nói chung, Đảng bộ và nhân dân xã Phú Tân nói riêng Phát huy thành tích này, trong thời gian tới, Châu Thành sẽ tiếp tục phấn đấu để nhiều xã cán đích nông thôn mới”
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thu nhập của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, Tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian:
+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm 2012 – 2014
+ Số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra vào năm 2015
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu được một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được thực trạng thu nhập của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích được các nguyên nhân ảnh hưởng và các yếu tố tác động tới thu nhập của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn xã
Trang 27- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu sử dụng trong đề tài này được thu thập từ các tài liệu, báo cáo
đã công bố của các cơ quan chuyên ngành và chính quyền các cấp như: Phòng thống kê xã, báo cáo tổng kết năm 2012, 2013, 2014, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội năm 2015 Ngoài ra, một số thông tin được thu thập từ các báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả công bố trên các sách báo, website…
Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu thu thập qua điều tra phiếu bảng hỏi lao động hộ gia đình, quan sát thực tế tại địa phương, kết hợp phỏng vấn người dân trong cộng đồng
- Phương pháp điều tra:
+ Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp để nắm được tổng quát về
địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu Đồng thời có thể kiểm tra tính xác thực khi phỏng vấn người dân
+ Phương pháp đánh giá nông thôn: Phương pháp này được sử dụng
để tìm hiểu tình hình thực tế các hộ trong xã như: Phong tục tập quán, mức thu nhập, tập quán sản xuất, tiêu chí đánh giá và phân loại hộ, những khó khăn mà người dân gặp phải
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: sử dụng bảng hỏi được thiết kế
sẵn phù hợp với nội dung nghiên cứu
Chọn mẫu điều tra
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Tân Hòa với diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2014 là 1624,55 ha, chiếm 79,8% diện tích tự
Trang 28nhiên của toàn xã Toàn xã có 14 xóm, mỗi xóm có tiềm năng về đất đai, thủy lợi, lao động, tập quán canh tác khác nhau
Trên địa bàn xã Tân Hòa chọn 3 xóm để tiến hành nghiên cứu Trong 3 xóm sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để lựa chọn ra 20 hộ tiến hành phỏng vấn Tổng số hộ điều tra phỏng vẫn là 60 hộ/3 xóm
3.4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Xử lý số liệu đã công bố: Dựa vào số liệu đã công bố, tôi đã tổng hợp, đối
chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài
Xử lý số liệu điều tra: Toàn bộ số liệu điều tra được xử lý trên máy
tính, sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010
3.4.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
- Phương pháp đối chiếu so sánh: Phương pháp này để xác định hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, khách quan và phản ánh đúng nội dung cần nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá phân tích thông qua phân tích lấy ý kiến cán
bộ thôn, xã và của nông dân về các tiêu chí: giao thông, điện, đường, trường học, thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường
3.4.4 Phương pháp phân tích và so sánh
Dùng phương pháp này để phân tích và sử lý số liệu để thấy rõ được sự biến động của các vấn đề nghiên cứu qua từng thời kỳ, thấy được sự tác động của từng nhân tố đến thu nhập của các hộ dân trong xã Từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn xã
3.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Giá trị sản xuất - GTSX (GO – Gross Output): Là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng)
Trang 29GO =
Trong đó: Qi là sản lượng sản phẩm loại i
Pi là đơn giá sản phẩm loại i
+ Chi phí trung gian – CPTG (IC – Intermediate Cost): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ sản xuất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc hóa học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu)
+ Giá trị gia tăng – GTGT (VA – Value Added): Là giá trị sản phẩm vật chất mới tạo ra trong quá trình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian (VA= GO-IC)
+ Thu nhập hỗn hợp – TNHH (MI – Mixed Income): Là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài
MI = VA – T (thuế) – A (khấu hao) – L (chi phí lao động)
Tính toán ở 3 góc độ hiệu quả: MI/1ha đất; MI/1 đơn vị chi phí (1VNĐ); MI/1 công lao động
+ Hiệu quả lao động và tiền vốn: TNHH/1 đơn vị chi phí (1VNĐ); TNHH/1 công lao động
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Tân Hòa là một xã miền núi ở phía Đông của huyện Phú Bình cách trung tâm huyện khoảng 6km Có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Tân Thành
- Phía Đông giáp xã Tân Đức và địa phận Bắc Giang
- Phía Nam giáp xã Lương Phú và xã Tân Đức
- Phía Tây giáp Thị Trấn Hương Sơn và xã Tân Kim
Xã cách trung tâm huyện khoảng 6km Vị trí nằm gần trung tâm kinh tế văn hóa của huyện đây là yếu tố tương đối thuận lợi nhưng hệ thống giao thông của xã còn khó khăn, tuyến đường giao thông từ huyện qua xã vẫn chưa được nâng cấp làm mới, đường giao thông liên thôn, liên xã chưa được bê tông hóa, vẫn là đường đất đi lại khó khăn vào mùa mưa bão nên việc giao thương, trao đổi hàng hóa gặp nhiều khó khăn
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Tân Hòa là xã miền núi của huyện, địa hình được chia thành ba miền khác nhau bao gồm:
- Miền Hòa Đông: Nằm ở phía đông của xã gồm 6 xóm là: Vàng Ngoài, Trại Giữa, Giếng Mật, Trụ Sở, Đồng Ca và xóm Cà Địa hình chủ yếu
là đồi núi thích hợp cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và phát triển kinh tế trang trại
- Miền Hòa Nam: Nằm ở phía Nam của xã gồm 4 xóm là: Thanh Lương, Xóm Tè, Xóm Hân, Vực Giảng Có địa hình đồi núi thấp đan xen với đồng ruộng
Trang 31thích hợp cho phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản
- Miền Hòa Tây: Nằm ở phía Tây của xã bao gồm 4 xóm là: Xóm Vầu, xóm Ngò, xóm U, xóm Giàn Địa hình đồi núi đan xen với ruộng bậc thang phù hợp với phát triển cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển cây lương thực, thực phẩm và chăn nuôi gia súc, gia cầm và phát triển kinh tế trang trại
Địa hình phức tạp, nhấp nhô không bằng phẳng khó khăn cho việc bố trí các công trình cơ sở hạ tầng để phục vụ cho đời sống, sản xuất của nhân dân trên địa bàn
4.1.1.3 Khí hậu
Xã Tân Hòa nằm trong vòng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông thường lạnh và khô hanh có gió mùa Đông Bắc, mùa hè nóng
ẩm mưa nhiều, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh mưa ít
từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Là vùng khí hậu thuận lợi cho cây trồng, động thực vật sinh trưởng và phát triển
- Nhiệt độ trung bình năm: từ 23,10C – 24,40C Nhiệt độ cao nhất là 38,90C vào tháng 6 Nhiệt độ thấp nhất là 10,70C vào tháng 1 Nhiệt độ trung bình nhỏ nhất là 150
Trang 324.1.1.4 Hệ thống thủy lợi, thủy văn
Xã Tân Hòa có hệ thống kênh đào chảy qua, có 7 hồ đập loại trung và loại nhỏ Tạo nên hệ thống thủy lợi tương đối đều trên toàn xã Cùng với trên 23km kênh mương tưới tiêu làm tăng độ ẩm cho đất, độ ẩm không khí, tạo điều kiện cho các loại động thực vật sinh trưởng và phát triển
Trang 33+ Đập làng Vầu (2 đập): có diện tích 2,6 ha, có kết cấu mái bê tông, tưới tiêu cho 10 ha đồng làng Vầu
Kênh
Tổng chiều dài là 29,692 km trong đó đã được kiên cố 4,5 km chiếm tỷ
lệ 15,15% Trong những năm qua xã đã huy động hàng nghìn ngày công nạo vét tu sửa kênh mương nội đồng, quản lý và bảo vệ an toàn các tuyến mương
để phục vụ sản xuất
4.1.1.5 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu không thể thay thế được
Nó là yếu tố nguồn lực đầu tiên và tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiêp, có tính chất quyết định đến năng suất, hiệu quả sản xuất Mặc dù
đã nhận thức được tầm quan trọng của đất như vậy, song thực tế việc phân bố, chuyển đổi và hiệu quả sử dụng đất vẫn chưa triệt để
Điều này được thể hiện ở bảng 4.1
Trang 34CC (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
1 Đất nông nghiệp 1659,08 81,5 1659,08 81,5 1624,55 79.8 100 97,92 98,95
1.1 Đất lúa nước 525,26 31,66 524,83 31,63 529,2 32,57 99,92 100,83 100,37 1.2 Đất trồng cây hàng năm 383,79 23,4 378,9 22,83 385,75 23,74 98,73 101,81 100,26 1.3 Đất rừng sản xuất 700,15 42,2 691,05 41,65 658,87 40,06 98,70 95,34 97,01 1.4 Đất nuôi trồng thủy sản 49,88 3 64,55 3,89 59,1 3,63 129,41 91,56 108,85
2 Đât phi nông nghiệp 288,01 14,15 305,07 14,99 305,07 15 105,92 100 102,92
3 Đất khu du lịch 17,00 0,83 34,00 1,67 51,00 2,50 200 150 173,21
4 Đất thổ cƣ 71,02 3,48 71,49 3,51 71,74 3,52 100,66 100,35 100,50
(Nguồn: UBND xã Tân Hòa)
Trang 35Qua bảng số liệu trên ta thấy toàn bộ diên tích đất tự nhiên của xã là 2035,11 ha Trong đó được chia ra làm 5 nhóm đất chính: Nhóm đất sử dụng cho nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất khu du lịch và nhóm đất thổ cư Trong cơ cấu đất tự nhiên thì diện tích đất nông nghiệp chiếm 79,8% năm 2014 và có xu hướng giảm dần so với 2 năm trước, bình quân giảm 1,05%, cụ thể diện tích đất nông nghiệp năm 2014 giảm 2,08% so với năm 2013 và diện tích đất nông nghiệp năm 2013, năm 2012 không có biến động
Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp mới chỉ đạt 15% diện tích đất
tự nhiên năm 2014 mà hơn nữa diện tích đất này sử dụng rất manh mún, nhỏ
lẻ, tự phát không theo quy hoạch hiệu quả đạt thấp
Đất khu du lịch chiếm 2,5% năm 2104 và có xu hướng tăng so với 2 năm trước, cụ thể là diện tích đất khu du lịch năm 2014 tăng 0,83% so với năm 2013 tương ứng với 17 ha và diện tích đất khu du lịch năm 2013 tăng 0,84% so với năm 2012 tương ứng là 17 ha
Đất thổ cư có xu hướng tăng đều qua các năm
4.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân số và lao động
Xã được chia thành 14 xóm, tổng số hộ toàn xã là 1890 hộ, số nhân khẩu là 8348 khẩu, lao động trong độ tuổi: 4146 người
Với dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 49,67% tuy nhiên
số người trong độ tuổi lao động trên phần lớn là những lao động phổ thông làm nông nghiệp chưa qua đào tạo, đó là những khó khăn của địa phương về giải quyết công ăn việc làm, chuyển đổi ngành nghề
Trang 36Bảng 4.2: Bảng hiện trạng cơ cấu lao động của xã Tân Hòa
CC (%)
Số lƣợng
CC (%)
Số lƣợng
CC (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ UBND xã Tân Hòa)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng số dân số của xã có sự biến động qua các năm Trong đó dân số trong độ tuổi lao động năm 2012 là 4256 người đến năm 2014 giảm xuống 4146 người, trong đó số lao động nông, lâm, thủy sản năm 2012 là 3486 người giảm xuống 3234 người vào năm 2014, lao động
CN, TTCN, XD có xu hướng tăng từ 445 người năm 2012 lên 580 người năm
2014 và LĐ dịch vụ, thương mại cũng có xu hướng tăng nhẹ từ 325 người năm 2012 lên 332 người năm 2014 Trên đây đã thể hiện sự tăng về cơ cấu lao động của toàn xã trong giai đoạn từ 2012 – 2014
Trang 374.1.2.2 Phát triển kinh tế
Về trồng trọt
Cây trồng chính của xã vẫn chủ yếu là lúa, còn những cây khác như
ngô, lạc, khoai lang, sắn, đậu các loại
Bảng 4.3: Tình hình canh tác các loại cây trồng của xã Tân Hòa
(giai đoạn 2012 – 2014)
Loại cây
DT (ha)
NS (tạ/ha) SL (tấn)
DT (ha)
NS (tạ/ha)
SL (tấn)
DT (ha)
NS (tạ/h a)
SL (tấn)
Lúa 852 48,8 4157,76 852 50 42600 852 53,2 4532,6 Ngô 135 44,6 602.1 128 42,5 5440 130 43,2 561,6 Lạc 145 15 217,5 135 15,6 201,6 140 16,9 236,6 Đậu các loại 42 15,5 651 37 13,5 499,5 30 11,5 345 Khoai lang 140 60 840 155 70 1085 164 95 1558 Sắn 70 96 672 70 112 784 70 142 994
(Nguồn: Tổng hợp từ UBND xã Tân Hòa)
Qua bảng số liệu trên ta thấy được tình hình canh tác các loại cây trồng của xã trong năm 2012, 2013 và năm 2014 Qua các năm đều có sự thay đổi
về diện tích, năng suất từ đó dẫn đến sự thay đổi về sản lượng cây trồng, trong
6 loại cây trồng chính của xã thì cây lúa vẫn là loại cây trồng chủ đạo của xã Cây lúa có diện tích lớn nhất và không thay đổi về diện tích nhưng năng suất thì tăng đều qua các năm, năm 2012 lúa có diện tích là 852 ha và năng suất đạt được là 4157,76 (tạ/ha) nhưng đến năm 2014 thì diện tích lúa là 852 ha và năng suất đạt 4532,6 (tạ/ha) Từ việc nâng cao năng suất dẫn đến việc nâng cao sản lượng qua các năm Nhờ nâng cao năng suất cây trồng nên đời sống của người dân trên địa bàn xã đã được cải thiện qua các năm Với các cây trồng khác có diện tích nhỏ hơn, sự biến động về diện tích thất thường
Trang 38Nguyên nhân thường thấy là do khi người dân canh tác không thu được hiệu quả kinh tế như mong muốn, nhiều khi thất bại do canh tác không đúng kỹ thuật, khi gặp các vấn đề khó khăn thì không tự giải quyết được dẫn đến nhiều diện tích bị mất trắng Chính vì vậy người dân nảy sinh tâm lý sợ rủi ro, sợ trồng những cây trồng mới mặc dù những cây trồng ấy có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao cho họ Như vậy ta có thể thấy để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân trên địa bàn xã ngoài sự nỗ lực phấn đấu của người dân cũng cần có sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền Giúp người dân trong xã có thể canh tác nhiều loại cây trồng như trồng lạc và khoai lang luân canh Đồng thời thường xuyên cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường nhằm giảm thiểu tối đa những rủi ro cho người dân Từ đó tạo cho người dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc
Về chăn nuôi
Trong những năm gần đây số lượng đàn gia súc trên địa bàn tăng lên qua các năm Để có được kết quả như vậy là do người dân đã biết phòng bệnh cho đàn gia súc Đồng thời xây dựng mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm có hiệu quả kinh tế cao, thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm không có dịch lớn xảy ra trên địa bàn xã Bên cạnh đó trên địa bàn xã vẫn còn tồn tại một số sai sót như mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, hầu hết là quy mô hộ gia đình, chưa có mô hình trang trại chăn nuôi phát triển vì vậy đem lại hiệu quả kinh tế chưa cao
- Chăn nuôi lợn: Tổng đàn lợn năm 2012 là 9872 con đến năm 2014 là
16159 con Như vây từ năm 2012 đến năm 2014 đàn lợn tăng lên 6287 con
Chăn nuôi trâu: năm 2012 tổng đàn trâu của xã là 1155 con đến năm
2014 là 1169 con, số lượng đàn trâu của xã tăng lên 14 con Mặc dù số lượng tăng không đáng kể nhưng điều đó cho thấy đàn trâu cũng có xu hướng tăng