LỜI CAM ĐOAN Đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”, chuyên nghành Phát
Trang 1- -
TRẦN THỊ TUYẾT MAI
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TỨ QUẬN
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2- -
TRẦN THỊ TUYẾT MAI
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TỨ QUẬN
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”, chuyên nghành Phát triển nông thôn là công trình nghiên cứu
của riêng tôi đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong
đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất kì một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Trần Thị Tuyết Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang với đề tài: “Đánh giá vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã
Tứ Quân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”
Khóa luận được hình thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Đặng Thị Bích Huệ, giảng viên khoa Kinh tế và PTNT, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện đề tài Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Tứ Quận, các ban ngành cùng nhân nhân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Sinh viên
Trần Thị Tuyết Mai
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phân biệt giữa giới và giới tính 5
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Tứ Quận năm 2014 27
Bảng 4.2 Tình hình sản xuất một số giống cây trồng chính trên địa bàn xã Tứ Quận năm 2012 - 2014 28
Bảng 4.3 Số lượng gia súc gia cầm của xã Tứ Quận 29
.Bảng 4.4 Tình hình nuôi trồng thủy sản của xã năm 2012 - 2014 30
Bảng 4.5 Dân số, lao động xã Tứ Quận năm 2012 - 2014 30
Bảng 4.6 Thông tin chung về các hộ điều tra 34
Bảng 4.7 Phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 36
Bảng 4.8 Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động chăn nuôi 38
Bảng 4.9 Sự phân công lao động trong các hoạt động khác 39
Bảng 4.10 Đối tượng thực hiện chính trong vai trò tái sản xuất 40
Bảng 4.11 Đối tượng thực hiện chính trong vai trò cộng đồng 41
Bảng 4.12 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực 42
Bảng 4.13 Quản lý vốn vay 43
Bảng 4.14 Quyền ra quyết định trong các hoạt động khác 43
Trang 6ĐH
Đơn vị tính Đại học GAD
Nông nghiệp Nhân khẩu Nông nghiệp và phát triển nông thôn
WAD Women and Development (Phụ nữ và phát triển) WID Women in Development (Phụ nữ trong phát triển)
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lí luận của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2.Vai trò giới và những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới 7
2.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ 11
2.1.4 Quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia dình ở một số quốc gia đình thế giới 14
2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 15
2.2.3 Phụ nữ trong tiếp cận một số vấn đề gia đình ở nông thôn Việt Nam 15
2.2.4 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 17
2.2.5 Vai trò của phụ nữ trong phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn 18 2.2.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình 19
2.2.7 Bình đẳng giới trong nông nghiệp, nông thôn 20
Trang 8PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 23
3.4.2 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 24
3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 25
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
4.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn thôn xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 34
4.2.1 Một số thông tin cơ bản của các hộ điều tra 34
4.2.2 Phụ nữ và vai trò sản xuất 36
4.2.3 Phụ nữ và vai trò tái sản xuất 40
4.2.4 Phụ nữ và vai trò cộng đồng 41
4.2.5 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận, kiểm soát thông tin, nguồn lực và quyền ra quyết định trong hộ 42
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình 44
Trang 94.3.1 Những yếu tố khách quan 44
4.3.2 Những yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ 45
4.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã Tứ Quận 46
4.4.1 Giải pháp chung 46
4.4.2 Giải pháp cụ thể 47
PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
5.2.1 Đối với Đảng và nhà nước 51
5.2.2 Đối với các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương 52
5.2.3 Đối với bản thân người phụ nữ nông thôn 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 10
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam với hơn 65% dân số sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp, việc phát triển kinh tế hộ bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước Nhờ đôi bàn tay cần mẫn làm việc cùng với kinh nghiệm sản xuất lâu năm, nông nghiệp nước ta đã đạt được một số thành quả to lớn, trong đó không thể phủ nhận công lao của những người phụ nữ nông thôn Họ không chỉ là những người mẹ tần tảo sớm khuya, người vợ yêu thương chồng con hết mực mà còn là những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Từ trong cuộc sống tới làm việc và phát triển đất nước vai trò của người phụ nữ luôn được đề cao Trong lịch sử nước nhà nổi bật hình ảnh của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Chị Võ Thị Sáu, các mẹ Việt Nam anh hùng… Đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước giặc ngoại xâm Ngày nay, phụ nữ Việt không chỉ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, họ còn khẳng định tầm quan trọng của mình trong gia đình các, tổ chức
xã hội, trong việc tham gia chương trình nông thôn mới, đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Họ vừa chăm lo công việc nhà ,vừa chăm sóc con cái, vừa phải tham gia các hoạt động kinh tế để tăng thu nhập, sự có mặt của họ ảnh hưởng tới hạnh phúc của mỗi gia đình.Tuy nhiên, phụ nữ sống ở nông thôn còn chịu nhiều thiệt thòi, thua kém mặc dù họ tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất, song vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn Phụ nữ có tác động tới sự phát triển mọi mặt của địa phương Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy vấn đề việc làm, thu nhập, bình đẳng giới, cơ hội thể hiện năng lực bản thân, địa vị của phụ nữ nông thôn vẫn còn nhiều bất cập Vì vậy, việc giúp đỡ và tạo điều kiện để họ phát huy vai trò của mình cần phải được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm chú ý hơn nữa
Trang 11Tứ Quận là một xã thuộc huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang địa hình phần lớn là đồi núi thấp, giàu khoáng sản, với nghề nông là chủ yếu Toàn xã
có khoảng 48,3% lao động là phụ nữ, phụ nữ tham gia vào mọi khâu trong sản xuất trong các hoạt động từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và các hoạt động kinh doanh buôn bán khác, mỗi công việc dù đơn giản hay phức tạp từ việc lo toan cuộc sống gia đình đến chăm sóc con cái và quản lí chi tiêu, việc đồng áng đều có đôi tay của người phụ nữ Do vậy, đánh giá thực trạng và nâng cao vai trò của phụ nữ trong sản xuất và phát triển kinh tế, đề xuất các giải pháp giúp chính quyền xã thực hiện các chính sách liên quan tới nữ giới và tăng thu nhập cho gia đình, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là vấn đề cấp thiết của xã hiện nay Xuất phát từ thực tiễn trên và nhận thức sâu sắc về việc nâng
cao năng lực cho phụ nữ nông thôn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Tứ Quận Qua đó đề ra giải pháp nhằm phát huy vai trò và nâng cao năng lực cho phụ nữ nông thôn, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế xã hội của xã
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tổng quát về địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá và phân tích được thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình và sản xuất, qua đó nâng cao năng lực cho phụ nữ xã Tứ Quận
Trang 121.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân
Cung cấp tài liệu tham khảo cho nhà trường, khoa và cho các em sinh viên khóa sau
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp mọi người nhìn nhận đúng hơn
về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình Từ đó nâng cao nhận thức của chính phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy vai trò của nữ giới trong việc phát triển kinh tế của chính gia đình mình Đồng thời làm cơ sở cho chính quyền địa phương xây dựng phương hướng, chính sách phát huy năng lực cho phụ nữ để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của xã
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm phụ nữ, giới, giới tính
* Khái niệm phụ nữ:
- Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường
- Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống,
cơ bản và đặc trưng của loài người [12]
- Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả các nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này [12]
- Phụ nữ xét về mặt sinh học thuộc giống cái (phân biệt đối lập với giống đực) xét về mặt khoa học tự nhiên, nếu ở góc độ khoa học xã hội thì liên quan đến nam giới và nữ giới [12]
* Khái niệm về giới:
- Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, các đặc điểm khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ giữ nam và nữ do xã hội lập nên Các vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó Do đó vai trò của giới có sự biến động và thay đổi qua thời gian và không gian [12]
- Giới là các mối quan hệ và tương quan về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động, các
Trang 14kiểu phân chia các nguồn lợi ích, khả năng tiếp cận tới nguộn lực Giới được quy định bởi các đặc điểm và điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội của từng xã hội và địa phương, từng dân tộc và quốc gia
Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa
nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được [1]
Giới chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên được coi là chẩn mực của nam giới và nữ giới Giới chỉ các quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực được công nhận rộng rãi liên quan đến phụ nữ và đàn ông Chúng bao gồm cả những quan niệm về những đặc điểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng như các mong đợi được chấp nhận rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử như thế nào trong nhiều tình huống khác nhau [2]
* Khái niệm về giới tính
- Giới tính là những sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa phụ nữ và nam giới Sự khác biệt này chủ yếu liên quan tới quá trình tái sản xuất nòi giống Vai trò sinh học đó là đồng nhất, phổ biến và không thay đổi [2]
* Phân biệt giữa giới và giới tính
Bảng 2.1 Phân biệt giữa giới và giới tính
Nguồn hình thành Do dạy và học mà có Bẩm sinh
Tính thay đổi Có thể thay đổi
Ví dụ: Phụ nữ có thể trở thành Tổng Thống, nam giới có thể trở thành đầu bếp,…
Không thể thay đổi
Ví dụ: Phụ nữ mang thai và sinh con, nam giới có yết hầu ở cổ,…
Trang 152.1.1.2 Khái niệm gia đình, hộ, hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm gia đình
Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ [13]
* Khái niệm hộ
Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và cùng có chung một ngân quỹ [6]
Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng
và các hoạt động khác [6]
* Khái niệm kinh tế hộ gia đình
Hộ gia đình được dùng để biểu thị các thành viên của nó có chung huyết tộc, quan hệ hôn nhân và có chung một cơ sở kinh tế Các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó [6]
Kinh tế hộ nông dân là “các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với một tốc độ không hoàn chỉnh [8]
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội trong đó có các nguồn lực như: như đất đai, lao động, tiền vốn, và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [6]
Trang 162.1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh
tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn
* Phát triển kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình tập chung chủ yếu ở khu vực sản xuất nông nghiệp
và chiếm tới 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước ta thực chất là việc thực hiện phát triển kinh tế một cách hợp lí các hình thức sản xuất và kinh doanh trong nông nghiệp Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [8]
Nước ta bước vào nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường dựa trên nền tảng gần 75% dân số đang sinh sống ở nông thôn là điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi vậy kinh tế hộ gia đình có ý nghĩa rất quan trọng Phát triển kinh tế hộ gia đình là một phần tất yếu để tạo nền tảng phát triển kinh tế đất nước
2.1.2.Vai trò giới và những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
2.1.2.1 Vai trò giới
Vai trò giới là những công việc và những hoạt động cụ thể mà phụ nữ
và nam giới thực tế đang làm Thông thường đây cũng là công việc mà xã hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hay đàn bà [2]
* Vai trò sản xuất
Vai trò sản xuất bao gồm những công việc do cả nam giới và nữ giới làm để tạo ra thu nhập hoặc lấy công (tiền công hoặc bằng hiện vật) Đối với
Trang 17phụ nữ trong nông nghiệp, vai trò đó bao gồm công việc của những người nông dân độc lập
Vai trò sản xuất của giới trong nông nghiệp và nông thôn liên quan đến việc sản xuất kinh doanh (sản xuất sản phẩm gì với số lượng bao nhiêu, dùng công nghệ nào), ai điều hành, ai quyết định điều gì, quyết định như thế nào khi xảy ra rủi ro hay có cơ hội trong quá trình quản lí thành quả sản xuất kinh doanh
* Vai trò tái sản xuất
Đây là vai trò của cả nam và nữ trong việc tái sinh, duy trì nòi giống, tái sản xuất sức lao động, bao gồm trách nhiệm mang thai, sinh đẻ và nuôi con, chăm sóc các thành viên khác trong gia đình, làm việc nhà và nội trợ Vai trò này vừa tái sản xuất sinh học vừa chăm lo và duy trì lực lượng lao động sau này Các công việc tái sản xuất có khuynh hướng, dường như là công việc dành riêng cho phụ nữ
* Vai trò cộng đồng
Vai trò cộng đồng bao gồm các hoạt động do nam giới và nữ giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằn duy trì các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, thực hiện các nhu cầu chung của cộng đồng, quản lí sự thay đổi và làm cho cộng đồng phát triển
Vai trò cộng đồng chia làm hai loại:
+ Vai trò tham gia cộng đồng: Thể hiện vai trò của cả nam và nữ trong các hoạt động cộng đồng
+ Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Nam và nữ có vai trò khác nhau trong các hoạt động lãnh đạo quản lí cộng đồng Lãnh đạo cộng đồng là lãnh đạo các tổ chức của cộng đồng được chia thành hai nhóm: Nhóm thuộc hệ thống quản lí nhà nước (Chủ tịch UBND từ tỉnh trở xuống trưởng thôn, trưởng xóm)
và được ngân sách nhà nước chi trả; Nhóm thuộc xã hội dân sự (các Hiệp hội,
Trang 18các tổ chức tự nguyện của cộng đồng và được kinh phí tự tạo của các tổ chức
đó chi trả Dù ở nhóm nào thì phần lớn việc lãnh đạo cộng đồng đều được trả tiền trực tiếp và gián tiếp bằng tiền công hoặc tăng thêm Một số ít các vai trò lãnh đạo do nữ giới đảm nhiệm
2.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
* Quan điểm truyền thống
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á với nhiều năm dưới ách thống trị của chế độ phong kiến, bị ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Nho giáo nên còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán, kể cả những phong tục cổ hủ và lạc hậu
Ở nông thôn, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại, hạn chế tính năng động sáng tạo, ảnh hưởng đến sự phát triển của phụ nữ và cản trở sự đóng góp của họ vào sự phát triển gia đình và xã hội Người phụ nữ phải tuân theo những luật lệ phong kiến, không có quyền quyết định những công việc quan trọng của gia đình, ít có cơ hội phát huy tiềm năng và tham gia các hoạt động xã hội Nam giới thường làm các công việc có điạ vị xã hội cao và có cơ hội thăng tiến lớn Ngược lại, phụ nữ thường phải làm công việc nội trợ, chăm sóc con cái, lệ thuộc vào chồng Do quan niệm này mà người phụ nữ đã chịu không ít thiêt thòi và mất đi cơ hội thể hiện bản thân [5]
* Yếu tố về sức khỏe
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người Do đặc điểm sinh lí tự nhiên, phụ nữ thường có sức khỏe kém hơn nam giới Do vậy mà phụ nữ thường đại diện cho phái yếu, phái đẹp Sức khỏe của con người phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như điều kiện dinh dưỡng, môi trường và thời gian lao động, đặc thù của giới nữ Sức khỏe của phụ nữ thường yếu hơn nam giới nên khả năng lao động của họ bị hạn chế nên ảnh hưởng tới thu nhập và phát triển kinh tế hộ gia đình [8]
Trang 19* Hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kĩ thuật
Theo đánh giá của hầu hết các nghiên cứu về phụ nữ thì trình độ học vấn của phụ nữ nhìn chung đều thấp hơn nam giới Kết quả của điều tra dân
số kế hoạch hóa gia đình 1/4/2011 của Tổng cục Thống kê thì tỉ lệ biết chữ của nữ giới là 92,2% (từ 15 tuổi trở lên) Tỷ lệ học sinh nữ Tiểu học là 49,5%, THCS là 48,5%, THPT: 52,6%, ở bậc ĐH là 48,5% năm học 2008 – 2009 Phụ nữ bị hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn, nên khả năng tiếp thu và áp dụng khoa học kĩ thuật còn gặp nhiều khó khăn, làm giảm hiệu quả sản xuất, do
đó đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ bị bó hẹp lại [8]
* Hạn chế trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất
Mặc dù đã có những tiến bộ về cải thiện địa vị xã hội cho phụ nữ, song vẫn tồn tại một thực tế giữa phụ nữ và nam giới còn chênh lệch trong việc kiểm soát các nguồn lực chủ yếu như đất đai, nguồn vốn,… giữa vợ và chồng trong gia đình Nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn lực cho phụ nữ không chỉ tạo điều kiện phát triển mà còn là cơ hội để phát huy năng lực cho bản thân phụ nữ trong gia đình, công việc và ngoài xã hội [8]
* Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ
Ngoài thời gian làm việc để tạo ra thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn bận rộn với công việc nội trợ, nuôi dưỡng và chăm sóc con cái Do đó họ có ít thậm chí là không có thời gian tiếp cận các nguồn thông tin mới, đọc sách, xem ti vi, truy cập internet, Chính vì vậy, phụ nữ thường thiếu hụt thông tin làm cho khả năng tiếp cận kĩ thuật vào sản xuất bị hạn chế [8]
* Những yếu tố chủ quan
Đây là những yếu tố thuộc về chính bản thân phụ nữ, đó là ý thức của chính họ về vai trò của bản thân mình trong gia đình và xã hội Do quan niệm thời phong kiến ăn sâu vào tiềm thức, phụ nữ cho rằng thiên chức của mình là chăm sóc chồng con, là người nội trợ khéo léo Vì thế mà họ tự trói buộc
Trang 20mình vào các công việc gia đình, để rồi họ tự đánh mất vai trò và vị trí của mình trong gia đình và xã hội [8]
2.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ
2.1.3.1 Quan điểm của Chủ Nghĩa Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ
Phụ nữ là một nửa dân số không thể thiếu được trong đời sống xã hội,
là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sản xuất lực lượng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bền vững Theo học thuyết Mác - Lênin: Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức, chính vì vậy họ chưa bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng Lênin nhìn rõ thực trạng bất bình đẳng mà phụ
nữ phải gánh chịu đó là sự bất bình đẳng trong gia đình, bởi ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng mà phụ nữ vẫn bị trói buộc, vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên vai phụ nữ Vì vậy giải phóng phụ nữ phải là việc của chính bản thân phụ nữ lao động cũng với nỗ lực của Đảng và Nhà nước [14]
2.1.3.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềm năng, vị thế và vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng Có thể khái quát thành những luận điểm sau:
+Thứ nhất: Giải phóng phụ nữ là một mục tiêu tất yếu của cách mạng vô sản.Trong trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đi dến
kết luận chế độ thực dân là chế độ ăn cướp, hiếp dâm và giết người Chế độ thực dân đối xử một cách hết sức bỉ ổi đối với người bản xứ nói chung và người phụ nữ An Nam nói riêng Do đó, mục tiêu của cách mạng vô sản phải
Trang 21bao hàm giải phóng phụ nữ, Bác viết: “Nói giải phóng phụ nữ là nói phân nửa
xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” Bác khẳng định, quá trình thực hiện cách mạng xã hội chính là quá trình thực sự giải phóng phụ nữ [3]
+Thứ hai: Giải phóng phụ nữ bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng dưới chế độ thực dân
phong kiến phụ nữ là đối tượng bị bóc lột, đè nén nặng nề nhất Vì vậy theo Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng, nó gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Đó là cuộc cách mạng để xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi, mọi hủ tục, tàn dư của tư tưởng con người coi thường phụ nữ do chế độ cũ để lại [3]
+Thứ ba: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước
và của toàn thể xã hội Theo Bác giải phóng phụ nữ không chỉ là trách
nhiệm của Đảng và chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Người chủ trương giáo dục tất cả cán bộ, Đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân
có nhận thức đúng đắn về vai trò và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, xóa
bỏ ý kiến trọng nam khinh nữ [3]
+Thứ tư: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của bản thân phụ nữ
Sự lãnh đạo, sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước, sự quan tâm của xã hội là
những điều kiện hết sức quan trọng, song điều quyết định cuối cùng cho công cuộc giải phóng phụ nữ lại chính là chị em Sự tự thân vận động, sự nỗ lực vươn lên trong học tập và công tác của chính chị em mới có thể đưa đến sự thành công của công cuộc giải phóng phụ nữ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở chị em phải có ý thức tự giải phóng, Người viết: “Về phần mình chị em không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà mình phải tự cường tự đấu tranh” [3]
Trang 22+Thứ năm: Xây dựng hội phụ nữ ngày càng vững mạnh Vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của nước Nga xã hội chủ nghĩa và kinh nghiệm của Đảng cộng sản các nước khác, ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã xác định các Đảng cộng sản cần phải xây dựng tổ chức riêng của phụ nữ và thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đó vững mạnh để tập hợp, vận dụng phụ nữ hoạt động cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ và đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ Thực tiễn đã chứng minh rằng, Hội phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị- xã hội sớm được thành lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và đã có những đóng góp to lớn trong tiến trình cách mạng nước ta [3]
2.1.4 Quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ
* Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (WID)
Quan điểm này ra đời vào những năm đầu của thập kỉ 70 của thế kỉ 20 tại Washington Đặt trọng tâm phát triển vào phụ nữ WID chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, taọ cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã
hôi và quyền lợi đồng thời nâng cao vai trò và địa vị cho phụ nữ [8]
* Quan điểm“Phụ nữ và phát triển”(WAD)
WAD ra đời vào nửa năm sau những năm 70, đã khắc phục được nhược điểm của WID Thừa nhận phụ nữ là chủ thể quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là bộ phận cốt yếu của quá trình phát triển Song WID và WAD vẫn coi phụ nữ là chủ thể riêng, đôí tượng riêng biệt, không đề cập tới quan hệ giới và vai trò của giới [8]
* Quan điểm “Giới và phát triển” (GAD)
GAD ra đời vào những năm 1980 đã khắc phục nhược điểm của hai quan điểm trên Tập trung vào mối quan hệ giới, quan tâm đến sự phát triển bền vững, chú trọng việc cân bằng giới trong các chương trình phát triển nhằm đáp ứng
Trang 23được nhu cầu của cả nam và nữ Quan điểm này sẽ cung cấp cơ sở lí luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xã hội ở mọi lĩnh vực khác nhau [8]
30 - 49 tuổi, tiếp đó là nhóm từ 25 - 29 tuổi và 50 - 54 tuổi Ở Trung Quốc, nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20 - 29 tuổi tiếp đó là nhóm 30 - 39 tuổi và giảm dần theo nhóm tuổi cao hơn Giống như
ở Bangladesh ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở nhóm từ 60 - 64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động [8]
Nhìn chung trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay
có 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì có ít điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận với các kiến thức chuyên môn
về trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến Những kiến thức họ có được chủ yếu do họ tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ những kinh nghiệm của bản thân Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm truyền đạt theo phương thức này thường ít khi thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ
Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ
có trình độ chuyên môn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan
Trang 24trọng đó là những định kiến xã hội không coi trọng phụ tồn tại ở nhiều nước đang phát triển Do vậy ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kĩ năng tốt thì những công nghệ họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng [8]
2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam
Phụ nữ chiếm 1/2 dân số, chiếm 50% lực lương lao động, đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất [8]
Ở vùng nông thôn họ là những người vừa tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh vừa thực hiện hầu hết các khâu trong quá trình trồng cấy, chăn nuôi, vừa phải làm công việc nhà, nội trợ, chăm sóc con cái, Do phải làm cùng lúc nhiều công việc khác nhau nên họ có rất ít thời gian giải trí, nghỉ ngơi [8]
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình và địa phương Trong nông nghiệp phụ nữ tham gia trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và bán sản phẩm nhiều hơn nam giới Phụ nữ có nhiều đóng góp cho việc gìn giữ hạnh phúc và đảm bảo thu nhập ổn định cho gia đình Đặc biệt trong những năm gần đây, phụ nữ đươc quan tâm nhiều hơn vì thế mà đời sống vật chất tinh thần được tăng cao [8]
2.2.3 Phụ nữ trong tiếp cận một số vấn đề gia đình ở nông thôn Việt Nam
Chủ hộ gia đình thường là nam giới
Hiện nay, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong những thành công của ngành nông nghiệp Tuy nhiên, nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế hộ gia đình luôn hướng vào chủ hộ - thường là nam giới, do vậy, nam giới ở nông thôn trên thực tế đã thụ hưởng được nhiều thành quả của việc trao quyền trong quá trình cải cách kinh tế hơn hẳn phụ
nữ Một kết quả của quá trình này là hầu hết là các chủ trang trại nông nghiệp
và lâm nghiệp đều là nam giới [17]
Trang 25Đại diện của phụ nữ ở các cấp ra quyết định trong toàn ngành còn rất ít
Hiện nay, có quá ít cán bộ chủ chốt là nữ trong toàn ngành NN & PTNT Trên toàn quốc phụ nữ chỉ chiếm 4,5% lãnh đạo các UBND xã; 4,9% lãnh đạo UBND huyện và 6,4% lãnh đạo UBND tỉnh Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định là yếu và chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm mà họ gánh vác [17]
Bất bình đẳng trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu
Trong thực tế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình cũng như sổ địa chính của địa phương chỉ đăng ký tên chủ hộ là nam giới chiếm đại đa số Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng hoặc thừa kế đất khi người chồng qua đời Phần lớn phụ nữ khó đáp ứng được đầy
đủ các điều kiện vay vốn tín dụng chính thức vì họ không phải là chủ hộ và không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [17]
Phụ nữ dành nhiều thời gian làm việc nhà hơn
Ở các vùng nông thôn thời gian lao động tạo thu nhập của phụ nữ và nam giới là xấp xỉ như nhau Tuy nhiên, phụ nữ dành thời gian nhiều gần gấp đôi nam giới cho các công việc nhà không được trả công Do vậy, phụ nữ nông thôn ở tất cả các lứa tuổi đều có tổng thời gian làm việc nhiều hơn nam giới Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và gia đình của họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng cũng như các cơ hội tham gia đảm nhận các vị trí quản lý và lãnh đạo [17]
Nhận thức giới của cán bộ ngành còn hạn chế
Năng lực hoạt động vì bình đẳng giới của các đơn vị chỉ giới hạn ở một số
ít thành viên Do vậy, nhiều cơ hội để hòa nhập giới vào kế hoạch hàng năm, 5 năm, 10 năm cũng như trong quá trình cải cách hành chính của Bộ NN & PTNN
Trang 26đã bị bỏ lỡ Cấp bộ vẫn chưa có tổ chức chuyên trách về giới để giải quyết một cách đầy đủ các vấn đề giới trong quá trình lập kế hoạch tại các đơn vị, thiếu hệ thống giám sát và đánh giá mang tính nhạy cảm giới Trong một cuộc điều tra nhận thức và kiến thức về giới, hầu như tất cả (97%) cán bộ được điều tra đều không biết hoặc biết rất ít về các khái niệm cơ bản về giới [17]
Phụ nữ ít được tập huấn và đào tạo
Phụ nữ đang bị mất đi tiềm năng để tiếp cận với các công nghệ tiên tiến
và để đóng góp vào các mục tiêu phát triển Mặc dù phụ nữ chiếm gần 3/4 lực lượng lao động ngành chăn nuôi, song chỉ có 20% các lớp tập huấn khuyến nông về chăn nuôi có phụ nữ tham gia.Tương tự, mặc dù có 80% phụ nữ nông thôn làm trong lĩnh vực trồng trọt nhưng chỉ có 10% số người được tập huấn khuyến nông về trồng trọt là nữ Đa số các cán bộ cung cấp dịch vụ công ở cấp cơ sở là nam giới và họ cũng thường coi các nông dân nam (chủ hộ gia đình) là đối tượng mục tiêu của các hoạt động khuyến nông [17]
2.2.4 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Phụ nữ là một trong những đối tượng chính có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của toàn xa hội Mặc dù không mạnh mẽ như giới mày râu hay có nhiều thời gian tham gia các hoạt động xã hội, nhưng không ai có thể thay thế được vai trò của họ Hơn ai hết, phụ nữ luôn thể hiện được vai trò của mình trong đời sống gia đình Mỗi một phụ nữ vừa là người con dâu, người
vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình Họ chăm lo, nuôi dạy con cái, sản xuất kinh doanh và tái tạo giống nòi để bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội Bên cạnh đó, họ cũng tham gia các cuộc họp cộng đồng, các buổi lễ cũng như các hoạt động văn hóa khác trong đời sống xã hội để góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội, ổn định quốc phòng
an ninh và làm thay đổi bộ mặt tại địa phương mà họ đang sinh sống [17]
Trang 27Phụ nữ là người tay cầm chìa khóa, quyết định chi tiêu mọi việc trong gia đình, từ đi chợ, nấu ăn, giặt giũ đến quét dọn, bày trí, sắp xếp, mua sắm, Cho nên phụ nữ có vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình Qua tất cả yếu tố vừa được đề cập trên, chúng ta cần phải khẳng định rằng, vai trò của người phụ nữ là quan trọng hơn bao giờ hết và không ai có thể thay thế được họ Bởi phụ nữ là một nửa của thế giới, là tinh thần, động lực cho mỗi một chúng ta sống tốt hơn [17]
* Vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội
Trong thời đại mới như hiện nay, người phụ nữ ngoài việc thực hiện thiên chức, vai trò, nhiệm của mình, còn không ngừng học hỏi, rèn luyện để trở thành người có văn hoá, hoàn thiện về tri thức, có kỹ năng sống và khả năng biết tính toán, dự liệu, thông minh, linh hoạt, có sức khoẻ tốt để tiếp cận, nắm bắt kịp thời kiến thức khoa học để phục vụ công tác Phụ nữ là những người rất giàu nghị lực, bản lĩnh,họ sẵn sàng đương đầu với những khó khăn thử thách trong cuộc sống Họ năng động, tự chủ, độc lập, không lệ thuộc hay
ỷ lại vào người khác, phụ nữ đã và đang trở thành một nguồn nhân lực giá trị trong xã hội chẳng kém gì nam giới Họ luôn đóng một vai trò quan trọng không những trong đời sống gia đình mà còn trong đời sống xã hội Họ là cở
sở cho một cuộc sống bền vững và hạnh phúc Với những đóng góp và sự dâng hiến của mình, vai trò của người phụ nữ có một ý nghĩa thiết yếu và dĩ nhiên không ai có thể thay thế được họ [17]
2.2.5 Vai trò của phụ nữ trong phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn
Trong phát triển nông thôn: Phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng đồng tại thôm, xóm, tiếp nhận kĩ thuật mới vào sản xuất
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản
Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả lao động của phụ nữ [8]
Trang 28Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất, đóng góp thu nhập cho gia đình phụ nữ còn đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái Công việc này rất quan trọng đối với
sự phát triển của gia đình và xã hội
Trong đời sống cộng đồng: Phụ nữ tham gia vào hầu hết các hoạt động cộng đồng tại xóm, thôn bản [8]
Như vậy, dù thừa nhận hay không thừa nhận, thì thực thế những gì phụ
nữ làm đã khẳng định vai trò của họ trong gia đình và mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò khác nhau cho nên họ cần được chia sẻ thông cảm về công việc lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt vai trò của mình
2.2.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông để lại: Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái, làm việc nhà và nội trợ là trách nhiệm của chị em phụ nữ đây là quan niệm đã tồn tại ngàn năm để lại Sự tồn tại của hủ tục lạc hậu trọng nam khinh nữ, đã kìm hãm tư duy sáng tạo của phụ nữ, cuộc sống của họ đã rập khuôn theo những công việc được lập trình sẵn, rất khó để thay đổi Việc mang thai sinh đẻ, nuôi dương con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ [5]
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học còn hạn chế gặp nhiều hạn chế Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật là 6%, còn ở nam giới là 10% Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì trên thế giới còn hơn
840 triệu người mù chữ, trong đó nữ chiếm 2/3, trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi học thì có đến 70% là trẻ em gái Còn ở Việt Nam theo thống
kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo của cả nước, chỉ có 0,63% công nhân kĩ
Trang 29thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Điều này cho thấy, phụ nữ gặp nhiều trở ngại trong việc nắm bắt thông tin kĩ thuật, kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất và đời sống [5]
* Yếu tố về sức khỏe: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện chức năng của mình là phải mang thai, sinh con và cho con
bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khỏe cua họ bị giảm sút [5]
* Khả năng tiếp nhận thông tin: Do phụ nữ phải đảm nhiệm một công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề tiếp xúc với báo chí, mạng internet và các hình thức truyền tải thông tin khác [5]
* Các yếu tố chủ quan: Yếu tố chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cách nhìn không đúng về những vấn đề đó Họ cũng cho rằng những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái là việc của phụ nữ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vì vậy, toàn
bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai người phụ nữ khiến
họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho nữ giới đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới [5]
2.2.7 Bình đẳng giới trong nông nghiệp, nông thôn
* Bất bình đẳng giới trong lao động
Phụ nữ nông thôn làm việc nhiều hơn nam giới, thậm chí thời gian làm việc của họ gấp đôi nam giới, họ phải làm thêm nhiều việc nhà nhưng không được trả công xứng đáng Theo thống kê của khảo sát tại hai xã thuộc Nam
Trang 30Định thì công việc nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, phụ nữ làm 90%, nam giới tham gia rất ítchỉ chiếm 10% còn lại Nguyên nhân của việc này chính là do mọi người quan niệm công việc bếp núc là của chị em, phụ nữ thì phải “Công dung ngôn hạnh” Ủy Ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2005 cho biết khi phụ nữ và nam giới làm việc với số giờ tương đương nhau trong sản xuất kinh doanh thì phụ nữ sử dụng thời gian nhiều cho việc nhà hơn 2,5 lần
so với nam giới ở thành thị và 2,3 lần ở vùng nông thôn Phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều có thời gian làm việc nhiều hơn nam giới Điều đó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ, họ thiếu thời gian nghỉ nghơi, giải trí [16]
Thu nhập của nam và nữ giới chênh lệch nhiều Ở Việt Nam theo một
số nghiên cứu cho thấy, nữ giới có thu nhập thấp hơn nam giới trong mọi ngành nghề Mặt khác trong việc hưởng thụ các thành quả lao động và quản lí tài sản thường thuộc về nam giới do đa phần chủ hộ là nam Trong khi phụ nữ phải bận rộn với nhiều việc thì đối tượng tập huấn, học tập của nhiều chính sách vẫn ưu tiên nam giới hơn Trên thực tế ở nông thôn hầu hết các chủ trang trại, chủ doanh nghiệp nhỏ thường là nam giới, có rất ít nữ giới [16]
Bất bình đẳng giới tồn tại qua nhiều thế hệ, các mô tuýp bất bình đẳng giới giống nhau do các quan niệm cũ để lại, ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại trong gia đình, con trai được cưng chiều hơn con gái Sự chuyển biến chậm chạp của chuẩn mực xã hội và lối tư duy hạn hẹp của nhiều người khiến cho phụ nữ ít được đề cao, tôn trọng trong gia đình và xã hội [9]
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Các hoạt động sản xuất của hộ gia đình: chăn nuôi, trồng trọt, lâm
nghiệp, hoạt động kinh doanh buôn bán
+ Trong hoạt động chăn nuôi
+ Trong lâm nghiệp
+ Trong kinh doanh, buôn bán
+ Trong các hoạt động cộng đồng
+ Trong gia đình và xã hội
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 27/1/2015 đến ngày 27/4/2015
- Thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu đã công bố trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2014
Thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu thu thập trong năm 2015
Trang 323.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
- Một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thông tin thứ cấp: Thu thập thông tin tìm kiếm trên internet, sách, báo cáo của xã,
- Thông tin sơ cấp:
Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Là dạng phỏng vấn được thực hiện trên cơ
sở một bảng hỏi hoàn thiện Người phỏng vấn không được tự ý đưa thêm câu hỏi trong các câu hỏi trong quá trình phỏng vấn
Phỏng vấn các chủ hộ trong 3 thôn: Thôn Dàm, thôn Hồng Quân, thôn Bình Ca 1, để thu thập thông tin về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình trên địa bàn xã Tứ Quận
+ Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu: Tiến hành điều tra 60 mẫu trong các hộ trên địa bàn toãn xã Chọn 3 thôn điển hình để điều tra: Thôn Dàm, thôn Bình Ca 1, Thôn Hồng Quân Thôn Bình Ca 1 có số hộ dân đông
103 hộ, kinh tế của các hộ phát triển, hội phụ nữ trong thôn hoạt động hiệu quả Thôn Dàm có truyền thống lịch sử văn hóa từ lâu đời, có số hộ dân trung bình 93 hộ, kinh tế các hộ dân tương đối đồng đều Thôn Hồng Quân, dân cư còn ít chỉ có 75 hộ, hoạt động kinh tế của các hộ diễn ra chậm chưa sôi nổi Chọn hộ điều tra trong giới hạn 3 thôn thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, phù hợp với đề tài của sinh viên Chọn hộ điều tra phải nằm trong ba thôn
Trang 33mẫu, mỗi thôn chọn 20 hộ Lập danh sách các hộ theo phân loại hộ giàu, khá, cận nghèo, nghèo của mỗi thôn, sau đó chọn ngẫu nhiên các hộ điều tra trong nhóm hộ đó Số hộ được chọn theo phân loại hộ ở thôn theo tỉ lệ :
Lọai hộ = (Tỉ lệ hộ giàu/ khá / cận nghèo/ nghèo ) x 25%
+ Phỏng vấn phụ nữ trong hộ thông qua bảng hỏi
+ Phỏng vấn KIP: Phỏng vấn cán bộ Hội phụ nữ trong xã, cán bộ UBND xã Phỏng vấn cán bộ Hội phụ nữ xã để biết được Hội phụ nữ xã đã có những hoạt động gì để tạo điều kiện cho phụ nữ toàn xã phát triển kinh tế hộ gia đình Phỏng vấn cán bộ UBND xã Tứ Quận để biết được tình hình phát triển kinh tế - xã hội của xã
3.4.2 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
* Phương pháp xử lí số liệu
- Thống kê và xử lí số liệu bằng phần mềm Excel Số liệu sau khi thu thập được xử lí bằng hệ thống máy tính và phần mềm Exel để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp phân tích phân tích số liệu
+ Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này mô tả toàn bộ thực trạng về phụ nữ nông thôn, thông qua các số liệu đã thu thập được trong các hoạt động kinh tế hộ gia đình thông qua đó đánh giá, phân tích và đề ra giải pháp phù hợp để nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 343.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh vai trò sản xuất của phụ nữ
+ Số lượng, tỷ lệ vai trò phụ nữ là chủ hộ
+ Số lượng, tỷ lệ phụ nữ tham gia thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình
+ Số lượng, tỷ lệ phụ nữ tham gia quyết định các công việc trong gia đình
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh vai trò tái sản xuất của phụ nữ
+ Số lượng, tỷ lệ phụ nữ tham gia nội trợ, kèm con học bài, chăm sóc sức khỏe gia đình, dọn dẹp nhà cửa