1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái huyện hoằng hóa tỉnh thanh hóa

84 436 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiê ̣m khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệ

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Khuyến nông

Khoá học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

Giảng viên hướng dẫn : ThS Dương Thị Thu Hoài

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với phương châm: “Ho ̣c đi đôi với hành” , “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn , nhà trường gắn liền với xã hội” Trường đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm đã tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p Đây là cơ hô ̣i quý báu để sinh viên tiếp câ ̣n và làm quen với công viê ̣c sẽ làm sau khi ra trường Được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiê ̣m khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp:

“Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã Hoằng Thái, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa”

Đây là lần đầu tiên thực hiê ̣n mô ̣t khóa luâ ̣n Vì vậy, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhâ ̣n được sự góp ý kiến và phê bình từ quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân tro ̣ng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiê ̣u nhà trường , Ban chủ nhiê ̣m khoa Kinh t ế và phát triển nông thôn Đặc biệt cảm ơn sự tận tình giúp đỡ

của giảng viên ThS Dương Thị Thu Hoài là người truyền đạt cho tôi những kiến

thức bổ ích trong suốt quá trình thực hiê ̣n khóa luâ ̣n

Tôi xin đươ ̣c bày tỏ lòng biết ơn đến các cán b ộ của UBND xã Hoằng Thái, đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt kỳ thực tập tốt nghiệp trong thời gian tôi thực tập tại cơ quan

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày 1 tháng 6 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Phương

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất ớt trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2012 18

Bảng 2.2 Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2012 19

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014) 30 Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014) 32

Bảng 4.3 Tổng hợp giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản tính theo giá trị

thực tế 35

Bảng 4.4 Diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng chính của xã Hoằng Thái năm 2014 36

Bảng 4.5 Diện tích, năng suất và sản lượng ớt của xã Hoằng Thái

qua 3 năm (2012 - 2014) 39

Bảng 4.6 Số hộ và diện tích tham gia mô hình trồng ớt ngọt theo thôn tại xã 40

Bảng 4.7 Thông tin về các hộ điều tra 42

Bảng 4.8 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình ớt 43

Bảng 4.9 Hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình ớt 45

Bảng 4.10 Kết quả thông tin tuyên truyền khuyến nông về mô hình sản xuất ớt qua 3 năm (2012 - 2014) 46

Bảng 4.11 Mức độ theo dõi của hộ trồng về công tác thông tin, tuyên truyền tại xã Hoằng Thái 47

Bảng 4.12 Kết quả đào tạo, tập huấn về mô hình ớt ngọt qua 3 năm

(2012 - 2014) 49

Bảng 4.13 Đánh giá công tác đào tạo tập huấn trên địa bàn xã Hoằng Thái 50

Bảng 4.14 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn ớt tại xã qua 3

năm (2012 - 2014) 52

Bảng 4.15 Đánh giá của nông dân về hiệu quả mô hình trình diễn về ớt 53

Bảng 4.16 Đánh giá của người dân về công tác đi tham quan trên địa bàn xã

Hoằng Thái 55

Bảng 4.17 Yếu tố giúp hộ trồng nâng cao thu nhập và mức sống của hộ so với thời kỳ trước khi sản xuất ớt 56

Bảng 4.18 Cơ cấu thành viên HTX trồng ớt tại xã Hoằng Thái 57

Bảng 4.19 Đánh giá mức độ cung cấp thông tin giá cả của CTKN và kênh tiêu thụ sản phẩm ớt trên địa bàn xã 58

Trang 5

DTTN : Diện tích tự nhiên

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

ĐKTN : Điều kiện tự nhiên

GTSX : Giá trị sản xuất

HTX : Hợp tác xã

KHKT : Khoa học kỹ thuật

KT - XH : Kinh tế - Xã hội

ND - CP : Nghị định - Chính phủ

PTNT : Phát triển Nông thôn

PRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

có sự tham gia của người dân

TBKT : Tiến bộ kỹ thuật

TTKN : Trung tâm khuyến nông

TTKNQG : Trung tâm khuyến nông Quốc gia

XD : Xây dựng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Khái niệm về khuyến nông 3

2.1.1.1 Nguồn gốc của thuật ngữ khuyến nông 3

2.1.1.2 Khái niệm khuyến nông 3

2.1.1.3 Mục tiêu khuyến nông 5

2.1.2 Vai trò, nội dung của công tác khuyến nông 6

2.1.2.1 Vai trò của công tác khuyến nông 6

2.1.2.2 Nội dung hoạt động của công tác khuyến nông 9

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 9

2.2.1 Sự hình thành và phát triển của khuyến nông Việt Nam 9

2.2.2 Kết quả hoạt động công tác khuyến nông trong phát triển ngành trồng trọt 11

2.3 Vài nét về nghề trồng ớt 13

2.3.1 Sự ra đời của cây ớt 13

2.3.1.1 Trên thế giới 13

2.3.1.2 Tại Việt Nam 14

2.3.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh cây ớt ngọt 15

Trang 7

2.3.2 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới 18

2.3.3 Tình hình sản xuất ớt tại Việt Nam 20

2.3.4 Tình hình sản xuất ớt tại Hoằng Hóa - Thanh Hóa 22

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 23

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 23

3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 23

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 23

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 23

3.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu 23

3.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 24

3.3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 24

3.3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 26

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại xã Hoằng Thái 27

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

4.1.1.1 Vị trí địa lý 27

4.1.1.2 Đặc điểm địa hình 27

4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu 27

4.1.1.4 Sông ngòi, thủy văn 28

4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 28

4.1.1.6 Tình hình sử dụng đất đai 29

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động 31

4.1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng của Hoằng Thái 33

Trang 8

4.1.3 Tình hình phát triển kinh tế 34

4.1.3.1 Trồng trọt 36

4.1.3.2 Chăn nuôi 37

4.1.3.3 Thủy sản 37

4.1.3.4 Các ngành kinh tế khác 38

4.2 Tình hình sản xuất mô hình ớt trên địa bàn xã Hoằng Thái 38

4.2.1 Năng suất, sản lượng và diện tích trồng 39

4.2.2 Diện tích và số hộ trồng ớt theo thôn tại xã qua 3 năm 39

4.2.3 Tình hình sản xuất ớt tại các hộ điều tra trên địa bàn xã Hoằng Thái 41

4.2.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình ớt 43

4.3 Vai trò của các hoạt động khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình trồng ớt tại xã Hoằng Thái 44

4.3.1 Hoạt động khuyến nông về được triển khai trên địa bàn xã thời gian qua 44

4.3.1.1 Thông tin, tuyên truyền 45

4.3.1.2 Đào tạo, tập huấn kỹ thuật 48

4.3.1.3 Xây dựng mô hình trình diễn 51

4.3.1.4 Công tác đi tham quan 54

4.4 Tác động của các hoạt động khuyến nông trong phát triển sản xuất ớt tại xã Hoằng Thái 55

4.4.1 Tác động của khuyến nông đến sự phát triển kinh tế hộ 55

4.4.2 Tác động của khuyến nông tới hình thức tổ chức sản xuất 57

4.4.3 Tác động của khuyến nông tới tiêu thụ sản phẩm 58

4.4.4 Những thuận lợi và khó khăn của hoạt động khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình trồng ớt tại xã Hoằng Thái 60

4.5 Định hướng và giải pháp hoạt động khuyến nông trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất mô hình ớt tại xã Hoằng Thái 61

4.5.1 Định hướng 61

4.5.2 Giải pháp 62

4.5.2.1 Giải pháp về hệ thống tổ chức 62

Trang 9

4.5.2.2 Giải pháp về hoạt động thông tin tuyên truyền 62

4.5.2.3 Giải pháp cho hoạt động đào tạo, tập huấn 63

4.5.2.4 Giải pháp về xây dựng mô hình trình diễn 63

4.5.2.5 Giải pháp về công tác tham quan 64

4.5.2.6 Giải pháp về việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm 64

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I.Tài liệu tiếng Việt

II Tài liệu Internet

PHỤ LỤC

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ớt ngọt (Capsicum annuum spp.) là loại rau gia vị có lịch sử trồng trọt lâu

đời ở nước ta được ưa chuộng nhất trong nhóm các cây gia vị, tiềm năng phát triển ớt ở nước ta rất lớn Trong quả ớt có chứa nhiều vitamin A, B, C đặc biệt là vitamin

C (163mg/100g) cao nhất là so với các loại rau Bên cạnh đó ớt còn chứa lượng Capsicin là một loại Alcaloid không màu dạng tinh thể có vị cay Gần đây người ta còn chứng minh được vai trò của quả ớt trong việc ngăn ngừa các chất gây ung thư Quả ớt có thể sử dụng ở nhiều dạng như: ăn tươi, ăn khô, hoặc chế biến thành tinh bột ớt (Viện Nghiên cứu Rau quả, 2009) [ 23]

Ở Việt Nam, cây ớt là một loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao, diện tích phân bố khá rộng rãi, tập trung ở miền Bắc và miền Trung, ở miền Nam diện tích trồng ớt còn phân tán Những năm gần đây, một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng cũng đã bắt đầu hình thành những vung trồng ớt tập trung với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thực phẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao

Trung Quốc là thị trường tiêu thụ ớt cao nhất trong năm 2007 với 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta xuất sang thị trường này, tương đương với trên

180 nghìn USD Tiếp theo đó là các thị trường Singapore và Đài Loan với kim ngạch xuất khẩu lần lượt chiếm 27,0 và 20,5% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam

Tại Thanh Hóa, ớt được bà con nông dân áp dụng vào trồng trọt chưa lâu, nhưng thấy rõ được hiệu quả kinh tế đem lại từ ớt, đặc biệt là trồng ớt xuất khẩu Tuy nhiên, diện tích trồng ớt ngọt trên địa bàn xã đến nay vẫn còn ít so với tiềm năng của địa phương, mới phần nào giải quyết được những vấn đề khó khăn của người dân trong xã Vì vậy cần có các hoạt động khuyến nông trong phát triển mô hình ớt của xã, để thấy được vị trí, vai trò của các hoạt động khuyến nông đối với sự

Trang 11

phát triển của mô hình ớt như thế nào? Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra cần phải được nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn Cần phải xem xét cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được, cái gì mạnh, cái gì yếu từ đó có những giải pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế những mặt yếu, thúc đẩy mô hình trồng ớt ngọt phát triển nhanh

và bền vững Để đáp ứng một phần yêu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt tại xã Hoằng Thái, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng mô hình sản xuất ớt ngọt trên địa bàn xã Hoằng Thái - huyện Hoằng Hóa - tỉnh Thanh Hóa

- Đánh giá được vai trò của các hoạt động khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình ớt ngọt tại xã Hoằng Thái

- Đưa ra được định hướng và giải pháp hoạt động khuyến nông trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất mô hình trồng ớt ngọt tại xã Hoằng Thái

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức lý thuyết đã được học trên lớp

- Giúp sinh viên có phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học, tiếp thu thực tế để thấy rõ được những việc mà một cán bộ khuyến nông phải làm

- Bổ sung thêm kiến thức về các hoạt động khuyến nông cho sinh viên

- Bổ sung thêm tài liệu cho khoa, trường, cán bộ khuyến nông và các cơ quan trong ngành

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho cán bộ khuyến nông, cơ quan trong ngành có thêm căn cứ để lựa chọn phương hướng hoạt động phù hợp nhất nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của các hoạt động khuyến nông góp phần thúc đẩy phát triển mô hình ớt tại xã

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về khuyến nông

2.1.1.1 Nguồn gốc của thuật ngữ khuyến nông

Thuật ngữ “Extension” có nguồn gốc ở Anh Năm 1866 ở một số trường Đại học như Cambridge và Oxford đã sử dụng thuật ngữ “Extension” - có nghĩa là “Mở rộng - triển khai”, nhằm mục tiêu mở rộng giáo dục đến với người dân, do vậy

“Extension” được hiểu với nghĩa là triển khai, mở rộng, phổ biến, phổ cập, làm lan truyền Nếu ghép với từ “Agriculture” thành “Agriculture Extension” có nghĩa là

“mở rộng nông nghiệp - triển khai nông nghiệp” và dịch là “khuyến nông” hiện nay đôi khi chỉ nói “Extension” người ta cũng hiểu là khuyến nông

2.1.1.2 Khái niệm khuyến nông

Khuyến nông là một hệ thống các biện pháp giáo dục nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới Khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau và phục vụ nhiều mục đích có qui mô khác nhau Vì vậy khuyến nông là một thuật ngữ khó định nghĩa được một cách chính xác, nó thay đổi tùy theo lợi ích nó mang lại Tùy vào từng nhà khoa học và từng thời điểm nó có khái niệm khác nhau:

Theo nghĩa cấu tạo của từ ngữ Hán - Việt thì: “Khuyến nông là những hoạt động nhằm khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để phát triển sản xuất nông nghiệp trên tất cả các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm sinh, thuỷ sản ở nông thôn” [9]

Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp giáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng và phát triển Nông thôn mới

Trang 13

Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc đã đúc kết và trên

cơ sở hoạt động khuyến nông của Việt Nam ta có thể định nghĩa khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có đủ khả năng để giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”

Còn theo định nghĩa của Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Quốc gia thì: “Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức

và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản thân họ

và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển Nông nghiệp Nông thôn” [9]

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu Khuyến nông theo hai nghĩa:

Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến cho người nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ

Theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn

Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc tự nguyện, chứ không áp đặt Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông

Trang 14

dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Tiến trình sản xuất bao gồm các yếu tố kiến thức và kỹ năng, những khuyến cáo kỹ thuật, tổ chức của nông dân, động cơ và lòng tin Vì vậy, cán bộ khuyến nông cần đến với họ, giúp đỡ họ và khuyến khích họ tham gia các chương trình khuyến nông Nhưng điều quan trọng hơn cả là cần phải thuyết phục và động viên để họ tin tưởng rằng họ hoàn toàn có thể tự giải quyết và hành động để cải thiện cuộc sống của chính mình Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân

2.1.1.3 Mục tiêu khuyến nông

Mục tiêu của khuyến nông là làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn Muốn đạt được những mục tiêu đó, khuyến nông phải thảo luận với nông dân, giúp họ có cách nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn đề trong cuộc sống để họ tự giải quyết, tự tìm những biện pháp để vượt qua những khó khăn, trở ngại

Ngày 08/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ - CP [5] về khuyến nông, và có 03 mục tiêu như sau:

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh

doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng Nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia, ổn định Kinh tế - Xã hội, bảo vệ môi trường

- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông

Trang 15

2.1.2 Vai trò, nội dung của công tác khuyến nông

2.1.2.1 Vai trò của công tác khuyến nông

 Khuyến nông có vai trò là cầu nối

Cầu nối nông dân với nhà nước: Đất nước ta có 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, nên mọi người dân không thể hiểu được mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng, chỉnh phủ về nông nghiệp Khuyến nông có vai trò giúp nông dân nâng cao nhận thức trong quá trình sản xuất sao cho sản xuất có hiệu quả và phù hợp với đường nối lãnh đạo của Nhà nước Ngược lại, thông qua cầu nối khuyến nông Đảng và Chính phủ hiểu được tâm tư nguyện vọng của nông dân, những nhu cầu bức xúc của nông dân trong sản xuất, cuộc sống và phát triển nông thôn

Cầu nối nông dân với nghiên cứu: Khuyến nông giúp nông dân lựa chọn áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới phù hợp với địa phương mình, gia đình mình Ngược lại qua quá trình nông dân áp dụng những sáng tạo kỹ thuật mới mà các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu khoa học biết nên nghiên cứu những gì cho phù hợp với sản xuất

Cầu nối nông dân với môi trường: Nông nghiệp một nước đang phát triển và phát triển phải quan tâm đến vấn đề môi trường, sản xuất nông nghiệp theo mục tiêu sản xuất hàng hóa lại càng phải lưu ý đến môi trường để sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp an toàn cho đời sống và môi trường sống của mọi người dân trong cộng đồng và xã hội

Cầu nối nông dân với thị trường

Cầu nối nông dân với nông dân sản xuất giỏi

Cầu nối nông dân với các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp có tầm quan trọng giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Khuyến nông đã góp phần tăng cường mối liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp

Cầu nối nông dân với các tổ chức chính quyền, đoàn thể và các ngành hữu quan: Khuyến nông không hiệu quả nếu hoạt động đơn độc Hoạt động khuyến nông mang tính cộng đồng Thực hiện một nội dung nào đó cần có sự giúp đỡ phối hợp chặt chẽ của mọi cấp, mọi ngành, mọi đoàn thể

Trang 16

Cầu nối nông dân với quốc tế: Để có được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc

tế, tiếp cận thị trường thế giới cần có vai trò của khuyến nông Khuyến nông giúp nông dân nhận biết trong cơ chế kinh tế hội nhập hiện nay nên sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Mối liên kết bốn nhà: Một trong những cầu nối khuyết nông quan tâm đến hiện nay là mối liên kết bốn nhà trong công tác khuyến nông là khá quan trọng có tác dụng nâng cao kết quả sản xuất nông nghiệp

- Nhà nước trong mối liên kết này thể hiện xác định định hướng và kế hoạch thực hiện cho các hoạt động của các doanh nghiệp cũng như nghiên cứu của cơ quan khoa học, các nhà khoa học, Nhà nước xây dựng pháp chế, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngành

- Các nhà khoa học cần nghiên cứu những gì đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân thì nghiên cứu đó mới có ý nghĩa Họ cần liên kết với các doanh nghiệp để thu hút nguồn vốn phục vụ nghiên cứu thúc đẩy nhanh đưa TBKT học vào sản xuất Các nhà khoa học cũng là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp triển khai đưa các TBKT vào sản xuất

- Nhà doanh nghiệp thường phải phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học và khuyến nông công tác nghiên cứu cũng như chuyển giao kết quả TBKT vào sản xuất Nhà doanh nghiệp còn có vai trò giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp của nông dân Họ giải quyết vốn, vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp

- Mọi tác động của Nhà nước, nhà khoa học cũng như nhà doanh nghiệp ở mối liên kết này đều tác động đến nông dân mới thể hiện hiệu quả Khuyến nông có vai trò kết nối trong mối liên kết này Nông dân là yếu tố bên trong quyết định nhưng khuyến nông là tác nhân bên ngoài rất quan trọng

 Khuyến nông có vai trò trong chuyển đổi nền kinh tế của đất nước

Thứ nhất: Giai đoạn sản xuất nông nghiệp HTX, nông trường quốc doanh, nông dân làm ăn tập thể, sản xuất theo kế hoạch hóa nhà nước Mỗi HTX cũng như nông trường quốc doanh đều có tổ KHKT để thực thi những nhiệm vụ chỉ đạo của

Trang 17

ban quản trị HTX, mọi TBKT, tiến bộ trong tổ chức quản lý sản xuất từ cấp trên quán triệt đến HTX, nông trường quốc doanh được xem như hoàn thành Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình “khoán 10”, người nông dân tự do kinh doanh trên mảnh đất, chuồng trại, của mình nên khuyến nông cần đến từng hộ gia đình và thậm chí phải đến từng người lao động

Thứ hai: Chúng ta chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp, từ sản xuất nông nghiệp theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa đã gặp rất nhiều khó khăn rất cần vai trò cầu nối của khuyến nông

 Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ Trung ương đến địa phương

Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ Trung ương đến địa phương Cơ cấu tổ chức hệ thống khuyến nông Quốc gia có số lượng cán bộ khuyến nông của nhà nước còn rất hạn chế

 Khuyến nông góp phần xóa đói giảm nghèo

Mục tiêu cơ bản của khuyến nông là làm thế nào để nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nông thôn, chúng ta đã phân biệt sự khác nhau rất cơ bản khuyến nông với khuyến mại nông nghiệp Dự án lớn 135 coi trọng vấn đề dân số, sinh đẻ có kế hoạch, nước sạch nông thôn,… nhằm xóa đói giảm nghèo Nhiều chương trình dự án về an ninh lương thực

ở các nơi, đặc biệt vùng sâu vùng xa được khuyến nông coi trọng

 Khuyến nông đã liên kết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất

Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình ở nông thôn có sự phân hóa Có những hộ gia đình sản xuất rất thành đạt do họ có trình độ nhận thức cao, có vốn, có lao động, có những hộ gia đình làm ăn yếu kém, gặp rủi ro dẫn đến cuộc sống khó khăn Nhà nước ta không thể không lưu tâm đến tính tiêu cực: “Đèn nhà ai nhà đó rạng” của sản xuất kinh tế hộ Khuyến nông đã làm tốt vai trò cầu nối giữa người nông dân sản xuất giỏi với mọi người nông dân, nhất là nông dân sản xuất yếu kém trong cộng đồng Ví dụ khuyến nông coi trọng tổ chức các hội nghị, hội thảo, tham

Trang 18

quan học tập các điển hình, tổ chức các câu lạc bộ khuyến nông Những việc làm đó đã liên kiết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất

2.1.2.2 Nội dung hoạt động của công tác khuyến nông

Nghị định số 13 - CP ngày 2/3/1993 [3] của Chính phủ về nội dung của công tác khuyến nông là:

- Phổ biến những tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản và những kinh nghiệm điển hình sản xuất giỏi

- Bồi dưỡng và phát triển kỹ năng, kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả

- Phối hợp với các cơ quan chức năng cung cấp cho nông dân thông tin về thị trường, giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao

Theo Nghị định 02/2010/NĐ - CP của Chính phủ ra ngày 08/01/2010 về công tác khuyến nông thay cho Nghị định 56/2005/NĐ [5] nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến ngư bao gồm:

(1) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo

(2) Thông tin, tuyên truyền

(3) Trình diễn và nhân rộng mô hình

(4) Tư vấn và dịch vụ khuyến nông

(5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Sự hình thành và phát triển của khuyến nông Việt Nam

Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống và phát triển cùng nền văn minh lúa nước ở nước ta Vì vậy, khuyến nông Việt Nam đã có từ rất sớm và có bước phát triển ngày càng lớn mạnh

Trong thời kỳ phong kiến, công tác khuyến nông đã đặc biệt được chú trọng Thời tiền Lê, hàng năm vua Lê Hoàn đã tự mình xuống ruộng cày đường cày đầu tiên cho vụ sản xuất đầu xuân Năm 1226, dưới thời Trần lập chức quan “Khuyến nông sứ” là viên quan chuyên chăm lo khuyến khích phát triển nông nghiệp Năm

1789, vua Quang Trung ban bố chiếu khuyến nông sau khi đại phá quân Thanh nhằm phục hồi lại ruộng bị bỏ hoang…

Trang 19

Từ năm 1964, Bộ nông nghiệp chính thức có chủ trương thành lập các đoàn chỉ đạo, đưa sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở (các HTX, nông lâm trường) xây dựng các mô hình và mở các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của địa phương về công tác sản xuất, công tác thuỷ lợi

Năm 1981, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 chính thức thực hiện chủ trương “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” Đến tháng 12/1986 Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần “đổi mới”, rút ra bài học hành động phù hợp với quy luật khách quan để thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá

Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” Nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Từ đó, nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10 (Khoán 10) đã đem lại những tác dụng tích cực cho sản xuất

Nghị định 13/CP của Chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác khuyến nông, Thông tư 02/LB/TT hướng dẫn việc tổ chức hệ thống khuyến nông và hoạt động khuyến nông đã kịp thời đáp ứng được những đòi hỏi nói trên Hệ thống khuyến nông của Việt Nam chính thức được thành lập năm 1993 Ở cấp Trung ương có cục khuyến nông (TTKNQG), cấp tỉnh có TTKN tỉnh, cấp huyện có Trạm khuyến nông huyện, cấp xã có mạng lưới khuyến nông cơ sở

Ở Trung ương, giai đoạn 1993 - 2004, Cục Khuyến nông - Khuyến lâm thuộc Bộ Nông nghiệp thực hiện cả 2 chức năng quản lý nhà nước về sản xuất nông nghiệp và hoạt động sự nghiệp khuyến nông; Vụ Nghề cá thuộc Bộ Thủy sản cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và công tác khuyến ngư

Tuy vậy, sau 12 năm thực hiện Nghị định 13/CP, công tác khuyến nông đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Thuỷ sản đã trình Chính phủ để sửa

Trang 20

đổi, bổ sung một số nội dung hoạt động khuyến nông, thay thế cho Nghị định 13/CP Ngày 26/4/2005, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ

- CP về khuyến nông, khuyến ngư Ở Trung ương, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia được thành lập (tách từ Cục Khuyến nông và Khuyến lâm) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Trung tâm Khuyến ngư thuộc Bộ Thủy sản Đến năm 2008, khi hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia được hợp nhất thành Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia

Nghị định 56/2005/NĐ - CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông, khuyến ngư (nhất là tổ chức khuyến nông cơ sở), mục tiêu, nguyên tắc, chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông); mở rộng đối tượng tham gia đóng góp nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông - khuyến ngư

Ngày 08/01/2010 bằng việc ban hành Nghị định 02/2010/NĐ - CP về công tác khuyến nông, khuyến ngư thì hệ thống khuyến nông Việt Nam đã thêm một bước được hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn nội dung hành động Hệ thống khuyến nông Nhà nước đã nhanh chóng phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan, nhất là các tổ chức quần chúng

2.2.2 Kết quả hoạt động công tác khuyến nông trong phát triển ngành trồng trọt

Trải qua 20 năm hoạt động đồng hành với tiến trình Đổi mới của Ngành nông nghiệp, tổ chức khuyến nông không ngừng phát triển, lớn mạnh và trở thành một hệ thống khá đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở thôn bản, gắn bó mật thiết với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Hoạt động khuyến nông ngày càng phát triển kể cả về tổ chức và nội dung Từ khi được thành lập tới nay khuyến nông đã có những đóng góp đáng kể vào thành tựu sản xuất nông - lâm nghiệp, thủy sản Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới đã được chuyển giao, áp dụng vào sản xuất hàng hóa theo hướng chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở

nông thôn, khuyến nông đã trở thành địa chỉ tin cậy của nông dân

Trang 21

Trong phát triển trồng trọt hoạt động đào tạo, huấn luyện khuyến nông đã góp phần nâng cao năng lực và trình độ cho cán bộ khuyến nông các cấp, kỹ năng tổ

chức quản lý sản xuất của người nông dân: Nội dung đào tạo, tập huấn phong phú,

sát nhu cầu của đối tượng tập huấn; Phương pháp đào tạo thường xuyên được đổi mới; Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, tập huấn khuyến nông như đào tạo trực tiếp tại lớp học và hiện trường, đào tạo gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông và internet

Có TBKT tốt thì việc chuyển giao là nhiệm vụ của khuyến nông Cán bộ khuyến nông phải bám sát dân, phải biết cách thuyết phục dân, phải “cầm tay chỉ việc” để có thể thay đổi nhận thức và thực hành của người dân Trong quá trình chuyển giao, cán bộ khuyến nông cũng cần đúc rút kinh nghiệm và tổ chức các cuộc tham quan, hội thảo để tuyên truyền và nhân rộng Công tác xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giao công nghệ trong trồng trọt, hệ thống khuyến nông có những hoạt động thiết thực như:

- Tổng kết các mô hình có kết quả tốt về: Nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến, dịch vụ hậu cần ớt, lưu thông, tiếp thị để tuyên truyền nhân ra diện rộng

- Xây dựng các loại mô hình khuyến nông cho hộ nông dân

- Xây dựng các loại mô hình khuyến nông áp dụng công nghệ mới, công nghệ cao ở các mức khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ sản xuất và sinh thái từng vùng

Công tác tuyên truyền, hay nói cách khác là “kênh” để kết nối giữa nhà khoa học và người nông dân cũng được chú trọng Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì hoạt động thông tin tuyên truyền rất quan trọng, nhất là thông tin đến người nông dân Phải thông tin, tuyên truyền như thế nào để nông dân hiểu đúng,

làm đúng

Thông tin tuyên truyền trong phát triển trồng trọt nói chung và sản xuất mô hình ớt nói riêng ngày càng đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và chú trọng nâng cao chất lượng Bao gồm thông tin thị trường, thông tin đại chúng, thông tin về văn bản quy phạm pháp luật trong ngành trồng trọt, xuất bản các ấn phẩm khuyến nông dưới nhiều hình thức đa dạng

Trang 22

Các chương trình, dự án khuyến nông đã bám sát các chủ trương, định hướng phát triển của Bộ, ngành, chuyển giao thành công nhiều tiến bộ khoa học

kỹ thuật mới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân, góp phần rất quan trọng thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển vượt bậc trong 2 thập niên gần đây

Ngoài ra công tác khuyến nông không ngừng xúc tiến hợp tác quốc tế, thông qua hợp tác quốc tế, khuyến nông, khuyến ngư tiến hành nhập công nghệ sản xuất, giống mới, tiến hành trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ quản lý, kinh nghiệm công tác của cán bộ, từ đó giúp cho nhà nước có biện pháp hữu hiệu đẩy mạnh sản xuất trồng trọt, xúc tiến thương mại phù hợp điều kiện cụ thể từng địa phương

2.3 Vài nét về nghề trồng ớt

2.3.1 Sự ra đời của cây ớt

2.3.1.1 Trên thế giới

Người ta tin rằng ớt đầu tiên được trồng bởi những người ở Trung và Nam

Mỹ khoảng 7000 năm trước Công nguyên và bây giờ đã có hơn 3000 giống ớt được biết đến từ ớt chuông ngọt dịu nhẹ đến ớt habanero cay dữ dội Thuật ngữ Capsicum rất dễ nhầm với Pepper, chilli, chile, chili, aji, paprika và capsicum hoàn toàn được sử dụng thay thế cho chúng để mô tả cây và quả thuộc giống Ớt Loài thực vật của tất cả các loài ớt là Capsicum (CAP-see-coom), từ tiếng Hy Lạp nghĩa là 'cắn' Loài Capsicum còn là một thành viên của họ cà Solanaceae rộng hơn và do đó ớt có quan hệ gần gũi với những người bà con cùng họ của mình, cà chua, khoai tây, thuốc lá và cây cà [27] Sau đó, ớt được trồng ở nhiều nước trên thế giới như Anh,Tây ban nha, Trung quốc, Pháp, Hungary…, trong đó ở miền nam nước Pháp, xứ Basque nằm dài dưới chân dãy núi Pyrénées phía Đại Tây Dương, quanh thung lũng sông Adour trồng rất nhiều ớt và được gọi là làng ớ Espelette Ở Hungary, bột ớt phơi thật khô, chứa rất

ít nước thì được gọi paprika từ nguyên gốc tiếng Phạn pipari nghóa là tiêu Có nhiều hạng paprika, thường được sắp cay ít cay nhiều theo màu sắc: đỏ đậm, đỏ lạt, hồng, vàng… Ở Cận Đông và Bắc Phi, ớt bột được nghiền với dầu, tỏi, ngò, rau thơm cùng nhiều rau bản xứ khác để làm thành một gia vò gọi là la harissa Gia vò chilli hay

Trang 23

chile bên nước Chile là ớt trộn với tỏi, tiêu, đinh hương, thìa là, kinh giới ô Bên Mexico, lê tàu (avocat) nghiền thêm hành, chanh, cà chua và ớt thành món guacamole tức aguacate mole Ở Ấn Độ, ớt cùng với tỏi và gừng cống hiến chất cay cho ca ry Ở Hàn Quốc, dưa kim chi chế biến từ bắp cải thêm hành, tỏi, gừng, ớt và muối hay tép mặn giữ vài ngày trước khi dung Cây ớt ngọt có nguồn gốc ở Mehico, châu Mỹ, hiện nay đang được trồng ở mọi châu lục Cây ớt ưa ấm, có phản ứng trung tính với độ dài ngày, và có khả năng chịu bóng Ớt ngọt sinh trưởng tốt trên đất thịt, thoát nước tốt, độ pH khoảng 5,5 - 7,0 Khả năng chịu hạn và chịu úng của loại cây này không cao Nhiệt độ thích hợp cho quá trình nở hoa và tạo quả là 18 - 300C, sức sống của hạt phấn giảm đáng kể khi nhiệt độ dưới 150C và trên 300C [28]

2.3.1.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, cây ớt là một loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ Những năm gần đây, một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng ớt với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thực phẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao Một số giống ớt tiêu biểu được trồng rộng rãi tại Việt Nam:

- Ớt sừng bò: được trồng rộng rãi ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ như Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên… Thời gian sinh trưởng của ớt sừng bò từ 110 đến 115 ngày, tùy theo vụ Quả dài 10-12cm, đường kính quả 1-1,5cm Khi chín màu đỏ tươi, trồng 35-40 ngày đã có quả.Nếu trồng riêng rẽ từng cây trong vườn thì ớt sừng

bò có thể sống 2-3 năm

- Ớt chìa vôi: được trồng phổ biến ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, các tỉnh ven biển miền Trung Thời gian sinh trưởng từ 115-120 ngày, cây cao 40-45cm có 4-5 cành, mỗi cây cho 40-45 quả

Hai giống ớt trên có quả to, nhiều, màu đẹp nhưng hay bị thán thư, vi rút và nhện trắng phá hại Phân viện khoa học miền Nam đã tạo ra được một số giống 01 do lai giữa ớt xiêm và ớt chỉ thiên có chất lượng tốt hơn: chất khô cao, bột quả giữ được màu đỏ, đẹp, được người tiêu dùng ưa thích, rất phù hợp với việc làm ớt bột [29]

Trang 24

2.3.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh cây ớt ngọt

(1) Đặc điểm thực vật học của cây ớt

- Thân: ớt là cây thân bụi 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có thể gặp các dạng (giống) có thân bụi, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5-1,5m, có thể là cây hàng năm hoặc cây lâu năm nhưng thường được gieo trồng là cây hàng năm

- Rễ: Ban đầu ớt có rễ cọc phát triển mạnh với rất nhiều rễ phụ, rễ cọc chính đứt, một hệ rễ chùm phát triển mạnh, vì thế nhiều khi lầm tưởng ớt có hệ rễ chùm

- Lá: Thường ớt có lá đơn mọc xoắn trên thân chính, lá có nhiều hình dạng khác nhau, nhưng thường gặp nhất là dạng lá móc, trứng ngược, mép lá hình răng cưa Mặt trên lá phụ thuộc vào các loài khác nhau, một số có mùi thơm Lá thường mỏng có kích thước trung bình 1,5-12,0cm x 0,5-7,5cm

- Quả: Thuộc loại quả mọng có rất nhiều hạt với nhiều thịt quả nhăn và chia làm 2 ngăn Các giống khác nhau có kích thước quả, hình dạng, độ nhọn, màu sắc và độ mềm của thịt quả rất khác nhau Quả chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển thành màu vàng, hoặc đỏ

- Hạt: Hạt có dạng thận và màu vàng rơm, chỉ có hạt của C.pubescens có

màu đen Hạt có chiều dài khoảng 3-5mm Một gam hạt ớt cay có khoảng 220 hạt (Mai Thị Phương Anh, 1999)[2]

Trong điều kiện nóng ẩm, ẩm độ không khí thấp, ớt có thể giao phấn đến 91% (TansKey), đồng thời vị trí giữa vòi nhụy và ống phấn khác chênh lệch nhau ở một số giống (Vũ Hữu Yêm, 1995)[25];

(2) Yêu cầu ngoại cảnh của cây ớt

* Nhiệt độ

Ớt được trồng ở độ cao từ 3000m trở xuống, chúng dễ bị ảnh hưởng bởi sương giá và nhiệt độ thấp Cần yêu cầu khí hậu ấm áp, thời gian sinh trưởng dài

trước khi thu hoạch

Theo tác giả Rylsky (1972) nhiệt độ ảnh hưởng tới số hoa và tỷ lệ đậu quả Nhiệt độ đất 10ºC làm sinh trưởng chậm lại, còn nhiệt độ 17ºC cây sinh trưởng bình thường, ở nhiệt độ > 30ºC phần trên sinh trưởng bình thường nhưng rễ ngừng sinh trưởng Nhiệt độ không khí thích hợp là 20 - 25ºC Nhiệt độ này thay đổi đáng kể đặc tính thực vật học của ớt Khi nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí xuống thấp làm

Trang 25

kéo dài thời gian sinh trưởng Hạt bắt đầu mọc ở nhiệt độ > 13ºC Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có ý nghĩa rất quan trọng để tăng chiều dài quả, đường kính quả, trọng lượng quả Ban đêm nhiệt độ xuống thấp 8 - 10ºC sẽ làm tăng số lượng quả không hạt (Pasthenocaspic) giảm sức sống hạt phấn (trích: Nguyễn Xuân Điệp, 2010)[6] Nhiệt độ trung bình ngày là 20 - 25ºC, cây sinh trưởng tốt khi nhiệt độ ban đêm không vượt quá là 20ºC, nhiệt độ có khuynh hướng làm giảm mùi vị và sự phát triển của màu sắc quả

Nhìn chung, ớt có thể chịu được nhiệt độ cao hơn so với khoai tây hoặc cà chua Tuy nhiên, hoa không thụ tinh ở nhiệt độ dưới 16ºC hoặc trên 32ºC do số lượng hạt phấn ít Nhiệt độ tối cao cho hoa đậu là nhiệt độ ban ngày và ban đêm trong khoảng 16 - 21ºC, nhiệt độ ban đêm trên 24ºC dẫn đến hiện tượng rụng hoa, nhưng quả đậu có thể rụng nếu nhiệt độ trên 32ºC

Nghiên cứu của Egorova (1975) cho thấy ảnh hưởng của ánh sáng lên cây trồng bao gồm thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng Cây ớt không mẫn cảm với quang chu kỳ, Tuy nhiên, trong điều kiện ngày ngắn (thời gian chiếu sáng 9 -

10 giờ/ngày) sẽ kích thích cây sinh trưởng và có thể tăng năng suất từ 21 - 24% (trích: Nguyễn Xuân Điệp, 2010)[6]

* Ánh sáng

Theo Egovora (1975) ảnh hưởng của ánh sáng đến cây trồng bao gồm thời

điểm chiếu sáng và cường độ ánh sáng Ớt là cây trồng không mẫn cảm với quang chu kỳ (ở nước ta cây ớt có thể trồng được quanh năm), Tuy nhiên, trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn (thời gian chiếu sáng 9 - 10 giờ/ngày) sẽ kích cây sinh trưởng tăng năng suất 21-24% (trích: Mai Thị Phương Anh và cs, 1996)[1]

Bigotti (1974) nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến cây ớt nhận thấy giảm bức xạ xuống 50% sẽ làm tăng lượng quả, nhưng không ảnh hưởng tới hàm

lượng Capsicum và Vitamin C Nếu quả tiếp xúc với cường độ ánh sáng mạnh thì phần

thịt quả sẽ mỏng và bề mặt thịt quả không mịn tạo điều kiện cho vi sinh vật gây hại tấn công vào mô quả làm giảm chất lượng quả thương phẩm (Bùi Thị Oanh, 2010)[12] Trong điều kiện trời âm u sẽ hạn chế sự đậu quả và giảm năng suất (Mai Thị Phương Anh, 1999)[2]

Trang 26

* Ẩm độ

Ớt rất thích hợp với thời tiết ấm, ẩm Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện lượng mưa từ 600-1250mm và phân bố trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Lượng mưa lớn trong thời gian hoa nở là nguyên nhân của sự rụng hoa, tỷ lệ đậu quả thấp Trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chín của quả, còn thời kỳ chín lượng mưa lớn sẽ làm trái thối và hỏng (Mai Thị Phương Anh, 1999)[2]

Trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chín của quả Ở thời kỳ ra hoa, đậu quả thì ẩm độ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng quả và chất lượng quả Ớt có bộ rễ ăn nông tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt (0 - 30cm) nên rất mẫn cảm với đất quá ẩm Nhưng nếu ẩm độ khoảng 10% tăng tỷ lệ rụng hoa, quả 71,2%, trong khi ẩm độ 35,6-57,4% thì tỷ lệ rụng quả chỉ còn 20-30% Do vậy, duy trì ẩm độ

từ 70 - 80% là thích hợp cho quá trình sinh trưởng, phát triển, nhất là thời kỳ cây non,

ra hoa và hình thành quả Ẩm độ cao sẽ làm rễ sinh trưởng kém và chết hoặc cây còi cọc làm giảm tỷ lệ nảy mầm Ngược lại, ẩm độ thấp ở giai đoạn ra hoa, hình thành quả sẽ hạn chế vận chuyển các chất dinh dưỡng (Nguyễn Thị Minh Phương và cs, 2010) [13]

* Đất và dinh dưỡng

Với cây ớt, đất tương đối phù hợp là đất nhẹ, giàu vôi Ớt có thể sinh trưởng trên đất cát nhưng phải đảm bảo tưới tiêu và bón phân Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt phát triển Ớt có thể sinh trưởng ở đất màu nhưng tỷ lệ nảy mầm và tính chín sớm bị ảnh hưởng Theo nghiên cứu của Kaliappan và Rajagopal (1970) thì ớt có thể nảy mầm trong điều kiện độ muối 4.000 ppm và pH =7,6 (Mai Thị Phương Anh, 1999)[2]

Về độ pH đất, cây có thể sinh trưởng ở độ pH từ 6 - 7 nhưng lý tưởng nhất là 6-6,5 (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996) [1]

Nhu cầu dinh dưỡng của cây ớt tương đối lớn do cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cây vừa sinh trưởng sinh dưỡng vừa ra hoa kết quả, thời gian sinh trưởng và thu hái kéo dài

Ớt là cây rất mẫn cảm với phân bón, trước hết là phân hữu cơ, nó cần lượng phân bón cao, bón sớm và cân đối lượng N:P:K Trong quá trình sinh trưởng của cây ớt cần xới xáo, làm cỏ để cây sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Xuân Điệp, 2010) [6]

Trang 27

Nghiên cứu về liều lượng bón phân NPK trên đất trồng ớt ở Thừa Thiên Huế, kết quả cho thấy tỷ lệ NPK thích hợp nhất, cho năng suất cao nhất là 150N: 175P: 50K, công thức bón vừa cho năng suất cao, vừa cho hiệu quả kinh tế lớn và có tác dụng cải tạo đất là 150N: 75P: 50K (Lê Thị Khánh, 1999) [11]

2.3.2 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới

Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế, cây ớt đã giữ một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là các nước có điều kiện khí hậu, đất trồng thích hợp Cây ớt được xem là một trong những cây trồng quan trọng ở các vùng nhiệt đới Diện tích và sản lượng ớt trên thế giới ngày càng tăng

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất ớt trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2012

2009 2010 2011 2012 2009 2010 2011 2012

Thế giới 1.813.871 1.827.229 1.865.626 1.914.685 15.834 15.998 16.114 16.280 Châu Phi 324.070 301.182 321.053 363.937 9.051 8.726 7.866 7.929 Châu Mỹ 218.093 218.976 217.917 212.670 16.121 17.627 16.939 19.009 Châu Á 1.145.356 1.181.726 1.205.453 1.218.792 16.770 16.767 17.364 17.522 Châu Âu 123.791 122.620 118.497 116.545 24.298 23.427 24.115 24.279 Châu Đại Dương 2.560 2.726 2.706 2.741 21.798 20.798 20.959 20.943

(Nguồn: FAO STAT Database, 2014)

Một số nước có sản lượng ớt cao như: Trung Quốc, Mexico, Indonexia, Thổ Nhĩ Kỳ… Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng ớt cao nhất thế giới, sản lượng ớt hàng năm của nước này chiếm khoảng 30% sản lượng ớt của thế giới

Hàn Quốc với món ăn truyền thống là “Kim chi”, ớt là thành phần không thể thiếu được Ớt là loại rau chủ lực của nước này chiếm 60% diện tích trồng rau và 40% tổng sản lượng Hàng năm Hàn Quốc nhập khẩu từ 12,000-15,000 tấn ớt, lượng ớt nhập khẩu của nước này không lớn, cao nhất là 53,000 tấn vào năm 2003 (Nguyễn Thị Giang, 2005) [7]

Khu vực Đông Nam Á, Indonesia và Thái Lan là hai nước xuất khẩu lớn nhất, Indonesia có diện tích trồng ớt lớn, sản lượng ổn định cao nhất vào năm 2011 đạt 1,9 triệu tấn Singapo là nước nhập khẩu ớt lớn nhất Đông Nam Á với mức nhập

Trang 28

khẩu hàng năm trên dưới 10.000 tấn, chiếm 96% (năm 2007) lượng nhập của cả Đông Nam Á (Trần Khắc Thi, 2008) [14]

Hiện nay, Ấn Độ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới chiếm 25% tổng sản lượng toàn cầu, tiếp theo là Trung Quốc 24%, Tây Ban Nha 17%, Mexico 8% Các nước nhập khẩu lớn nhất thế giới là các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), liên minh Châu Âu (EU), Sri Lanca, Nhật Bản, Hàn Quốc Trao đổi thương mại về ớt chiếm gần 16% tổng sản phẩm gia vị, đứng vị trí thứ hai sau hồ tiêu (Bùi Thị Oanh, 2010)[12]

Nhìn chung, ớt được thương mại hóa trên toàn thế giới, đối với các nước đang phát triển thì mặc dù ớt chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất hàng hóa nhưng là nguồn thu nhập đáng kể

Bảng 2.2 Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2012

Trang 29

2.3.3 Tình hình sản xuất ớt tại Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực có vĩ tuyến 8 - 23ºB, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho cây ớt phát triển quanh năm Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất, tăng hệ số sử dụng đất, cây ớt được gieo trồng vào hai thời vụ chính: Vụ Đông Xuân: Gieo từ tháng 10-12, trồng vào tháng 1-2, thu hoạch từ tháng 4-5 Vụ hè thu: Gieo hạt từ tháng 6 - 7 trồng vào tháng 8 - 9 thu hoạch từ tháng 1 -

2 Ngoài ra có thể trồng thêm một vụ ớt xuân hè, gieo hạt tháng 2 - 3 trồng tháng 3 -

4, thu hoạch tháng 7 - 8 (Mai Thị Phương Anh, 1999) [2]

Ở nước ta, ớt là một loại gia vị rất phổ biến, ở nông thôn được trồng trong vườn gia đình người ta thường trồng một vài cây ớt thường dùng trong bữa ăn hàng ngày, vừa để làm cảnh Ngoài lượng ớt trồng để sử dụng trong nước, hàng năm hàng trăm tấn ớt được xuất khẩu sang nhiều nước (Bùi Bách Tuyến, 1998)[18] Theo số liệu thống kê năm 1998 (Trần Ngọc Hùng, 1999)[10] diện tích sản xuất ớt của cả nước là 2.114ha, năng suất trung bình 5,6 tấn/ha, trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nam Bộ và các tỉnh Miền Trung

Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt ở nước ta có thể chia ra các giai đoạn sau

Giai đoạn trước năm 1990

Theo Trần Thế Tục (Trần Thế Tục, 1997) [19] diện tích trồng ớt cay ở các vung tập trung vào khoảng 3000ha, năng suất khoảng 10-12 tấn quả tươi, sản lượng trung bình 30.000 tấn quả tươi/năm Năm 1996, diện tích trồng ớt cao nhất lên tới 5.700ha/329.000ha diện tích trồng rau

Trong 5 năm 1986-1990, Tổng Công ty rau quả đã xuất sang thị trường Liên Xô

cũ 22.290 tấn ớt bột, trung bình mỗi năm 4.500 tấn (Mai Thị Phương Anh, 1999)[2] Giai đoạn sau năm 1990

Sự đổ vỡ của thị trường Đông Âu, đã làm xáo trộn tình hình sản xuất tại các vùng chuyên canh, diện tích ớt thu hẹp lại

Tuy nhiên, những năm gần đây diện tích ớt xuất khẩu vẫn duy trì ở một số địa phương có truyền thống trồng trọt lâu đời Quảng Trị, những năm gần dây trồng

Trang 30

tới 1000ha ớt cay để xuất khẩu và đem lại hiểu quả kinh tế cao hơn trồng lúa 3 lần Công ty Xuất nhập khẩu rau quả Quảng Trị mỗi năm xuất khoảng 300 tấn ớt tươi sang thị trường Đài Loan, nhu cầu của thị trường này rất lớn nhưng chưa đáp ứng được (Nguyễn Hoàn, 2000)[8]

Năm 1994-1995, diện tích trồng ớt ở thừa thiên huế là 600ha, năng suất trung bình 10.6 tấn/ha, sản lượng trung bình năm là 6000-6.500 tấn xuất khẩu khoảng 400-500 tấn/năm, ngoài ra ớt còn được xuất khẩu theo còn đường tiểu ngạch hàng trăm tấn/năm (Lê Thị Khánh, 1999)[11]

Trong 5 năm 2006-2010, Tổng công ty rau quả Việt Nam đã xuất sang thị trường thị trường Nga 23.920 tấn ớt bột, trung bình mỗi năm 4.580 tấn (Viện Nghiên cứu Rau quả trung ương, 2006)[24]

Hiện nay diện tích trồng ớt của nước ta còn manh mún chưa được quy hoạch Một số tỉnh phía bắc có diện tích sản xuất ớt nhiều xuất khẩu sang các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan… như Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Lạng Sơn, Thanh Hóa… Đặc biệt, tại Lạng Sơn, những năm gần đây do điều kiện tự nhiên, địa

lý thuận lợi cho việc sản xuất, xuất khẩu ớt sang thị trường Trung Quốc vào các vụ Đông Xuân và Xuân Hè vì vậy số vùng trồng ớt ngày càng được mở rộng tại các huyện Chi Lăng, Tràng Định, Đình Lập, Hữu Lũng Năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ ớt xuất khẩu với doanh nghiệp liên doanh nước ngoài giai đoạn 2012-2018 với sản lượng tiêu thụ trên 3000 tấn/năm, đạt giá trị xuất khẩu 30 tỷ đồng Cây ớt được coi là cây trồng hàng hóa có giá trị kinh tế cao và đã bắt đầu hình thành các vùng sản xuất ớt tập trung như: xã Nhân Lý huyện Chi Lăng, xã Tân Liên huyện Cao Lộc… Tuy nhiên, diện tích, sản lượng ớt trồng còn khá khiêm tốn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh cũng như chưa đủ đáp ứng với nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu Nguyên nhân do tính tự phát, thị trường tiêu thụ bấp bênh, chưa có hợp đồng tiêu thụ, kỹ thuật canh tác theo kinh nghiệm cổ truyền, sử dụng giống chưa rõ nguồn gốc… làm ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và giá thành sản phẩm

Trang 31

2.3.4 Tình hình sản xuất ớt tại Hoằng Hóa - Thanh Hóa

Tại Thanh hóa : Mô hình trồng ớt tại tỉnh Thanh Hóa triển tại một số huyện như Hậu Lộc, Nga Sơn, Triệu Sơn, Hoằng Hóa…, trong đó huyện Hoằng Hóa trồng trên diện tích 70ha đất 2 vụ ớt Mô hình triển khai đã mang lại hiệu quả lớn trên địa bàn, đặc biệt là hiệu quả kinh tế, giúp người dân tăng thu nhập, đời sống người dân ngày càng được nâng lên So với trồng ngô thì hiệu quả kinh tế hơn

Kết quả trồng tại Thanh Hóa cho thấy, năng suất ớt làm đất tối thiểu đạt 1.100kg/sào, năng suất của trồng ngô là 300 kg/sào, năng suất của trồng ớt hơn ngô

là 800 kg/sào, mỗi sào ớt người dân thu lãi khoảng 4,9 triệu đồng (tương đương 98 triệu đồng/ha), cao hơn trồng ngô khoảng 4,3 triệu đồng/sào

Cây ớt là cây công nghiệp ngắn ngày được xem là cây có giá trị kinh tế cao Trong những năm gần đây nó góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp ở nhiều địa phương Cây ớt đã được đưa vào trồng thử nghiệm tại Thanh Hóa từ năm 2010, trong đó Huyện Hoằng Hóa từ năm 2010, cho đến nay được đánh giá là có triển vọng phát triển khá Song do loài cây mới, công trồng và chăm sóc cao do vậy chưa nhân rộng được diện tích, ngoài ra do nhân dân chưa quen trong việc trồng, chăm sóc nên còn rụt rè e ngại chưa dám đầu tư công sức thời gian vật chất để sản xuất Do vậy mà dù đã được thực hiện mô hình khá thành công tại huyện Hoằng Hóa - tỉnh Thanh Hóa

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ sản xuất Ớt ngọt tham gia vào các hoạt động khuyến nông tại xã Hoằng Thái - huyện Hoằng Hóa - tỉnh Thanh Hóa

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt tại xã Hoằng Thái - Hoằng Hóa - Thanh hóa

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Hoằng Thái - huyện Hoằng Hóa - tỉnh Thanh Hóa

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ 1/2015 đến 5/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại xã Hoằng Thái

- Thực trạng sản xuất ớt ngọt trên địa bàn xã Hoằng Thái

- Vai trò của các hoạt động khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình trồng ớt ngọt tại xã Hoằng Thái

- Tác động của các hoạt động khuyến nông trong phát triển sản xuất ớt ngọt tại xã Hoằng Thái

- Định hướng và giải pháp hoạt động khuyến nông trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất mô hình trồng ớt ngọt tại xã Hoằng Thái

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện Trước tiên chọn 3 trong số 10 thôn trong toàn xã có

Trang 33

thực hiện mô hình sản xuất ớt ngọt Trong đó thôn 1, 2, 3 có diện tích thực hiện theo

mô hình là lớn nhất

Chọn 45 hộ đã tham gia thực hiện mô hình sản xuất ớt ngọt và tham gia các hoạt động khuyến nông của xã Từ danh sách các hộ tham gia mô hình và tham gia các hoạt động khuyến nông của từng thôn đã chọn Chọn ngẫu nhiên 45 hộ trong 3 thôn 1, 2,3 Chọn có điều kiện 45 hộ trong 3 thôn có tham gia 1 trong các hoạt động khuyến nông

3.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập thông tin thứ cấp

- Số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn từ UBND xã bao gồm: số liệu về điều kiện tự nhiên, các báo cáo về tình hình phát triển KT - XH của UBND xã Hoằng Thái, Đề án xây dựng NTM của xã Hoằng Thái

- Các thông tin được thu thập thông qua các văn bản , nghị định liên quan đến vấn đề khuyến nông, các báo cáo tổng kết hàng năm , các tài liệu thống kê của UBND xã, số liệu từ các cơ quan có liên quan, và một số tài liệu, sách báo, tài liệu qua mạng internet

* Thu thập thông tin sơ cấp

- Số liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu Cụ thể, số liệu sơ cấp được thu thập từ các hộ sản xuất ớt trên địa bàn xã Hoằng Thái Để thu thập được số liệu phải tiến hành phỏng vấn trực tiếp hộ bằng bảng phiếu điều tra được lập sẵn từ đó biết được tình hình sản xuất ớt của địa phương, vai trò của sản xuất ớt đối với phát triển kinh tế của hộ, ảnh hưởng của hoạt động khuyến nông đối với mô hình sản xuất ớt

- Sử dụng các công cụ chủ yếu của PRA: phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận với những người nông dân, kết hợp quan sát, thăm quan thực tế để thu thập thông tin

3.3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin

- Thông tin sau khi thu thập được cập nhật và xử lý bằng chương trình Excel, kết quả của việc xử lý ta được các bảng số liệu

- Công thức tính hiệu quả kinh tế

Trang 34

* Một số chỉ tiêu kinh tế:

+ Giá trị sản xuất: GO (Gross output) là toàn bộ giá trị của cải và dịch vụ được tạo ra trong một thời kì nhất định (thường là 1 năm), đây là tổng thu của hộ

n

i

i Q P

Trong đó: Pi là đơn giá sản phẩm loại i

Qi là khối lượng sản phẩm loại i

+ Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất thường

xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như: giống, phân bón, thuốc BVTV, dụng cụ rẻ tiền trong một vụ sản xuất

n

i

j G C

Trong đó: Cj là số lượng đầu tư của đầu vào thứ j

Gj là đơn giá đầu vào thứ j + Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của một quá trình sản xuất kinh doanh VA được tính theo công thức:

VA = GO - IC Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó

+ Thu nhập hỗn hợp: MI (Mixed Income) là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất 1 đơn

vị diện tích trong một vụ

MI = VA - A - T Trong đó: VA là giá trị tăng thêm (gia tăng)

A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ

T là thuế nông nghiệp + Lợi nhuận:

Pr = GO - TC Trong đó: GO là giá trị sản xuất

TC là tổng chi phí trong sản xuất

Trang 35

+ Giá trị sản xuất trên một đồng chi phí: GO/TC

+ Giá trị sản xuất trên một công lao động: GO/CLĐ

+ Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian: GO/IC

3.3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

* Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh (Thời gian, hiệu quả kinh

tế…) để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu, phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu

* Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương

đối, số bình quân để tính toán, mô tả thực trạng việc phát triển sản xuất, kinh doanh của sản xuất ớt ngọt

Trang 36

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại xã Hoằng Thái

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Hoằng Thái là xã thuần nông thuộc vùng đông nam huyện Hoằng Hoá với tổng diện tích tự nhiên 278,33 ha, cách huyện lỵ 2,5 km, cách thành phố Thanh Hoá 8 km

- Phía bắc giáp xã Hoằng Đồng;

- Phía nam giáp xã Hoằng Lộc, Hoằng Thành;

- Phía đông giáp xã Hoằng Thắng;

- Phía tây giáp xã Hoằng Thịnh

Với vị trí địa lý như trên, xã đã khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển kinh

tế - xã hội, giao lưu thông thương hàng hoá và nắm bắt tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách nhanh chóng; tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội

4.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình nhìn chung khá bằng phẳng, có độ chênh trong xã không đáng kể, độ nghiêng không lớn, thuận lợi cho việc thâm canh các loại cây trồng và nuôi trồng thủy sản, xây dựng các hệ thống kênh mương, giao thông và các công trình xây dựng khác cũng như việc bố trí các khu dân cư

C

b) Mưa: Tổng lượng mưa trong năm 1.700mm - 2.000mm, riêng vụ mùa

tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% - 90%, mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến

Trang 37

tháng 10 (tháng 8, 9 có lượng mưa lớn nhất trong năm, xấp xỉ 350mm/tháng) Tháng 12 đến tháng 2 năm sau lượng mưa chỉ đạt khoảng 20 - 30mm/tháng

c) Độ ẩm không khí: Trung bình trong năm 80 - 86%, các tháng 2; 3 và 4 có

độ ẩm không khí xấp xỉ 93%

d) Gió: Thông thường có 2 hướng gió chính đó là gió mùa đông nam và gió

mùa đông bắc, tốc độ gió trung bình từ 1,6 - 2,2m/s Ngoài hai hướng gió chính vào mùa hè thỉnh thoảng xuất hiện 8 - 10 đợt gió phơn tây nam khô nóng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe con người

e) Thiên tai: Những năm gần đây bão lụt, sương muối, sương giá ít xuất hiện,

thời tiết khí hậu nhìn chung thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây trồng và vật nuôi Đặc biệt tổng nhiệt độ trong năm lớn có thể trồng được nhiều loại cây trồng và trồng được nhiều vụ trong năm

4.1.1.4 Sông ngòi, thủy văn

Diện tích nuôi trồng thủy sản: Ao hồ trong khu dân cư Diện tích thùng đấu sâu trũng vùng sản xuất lúa, nuôi cá nước ngọt Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ 12,86 ha

4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

a) Tài nguyên đất: Đất đai được hình thành có nguồn gốc phù sa không được

bồi đắp thường xuyên của Sông mã, trong quá trình cải tạo canh tác trồng lúa nước đất đã thuần thục có nhiều đặc tính tốt, thành phần dinh dưỡng đất ở mức khá, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình

b) Tài nguyên nước:

- Nước ngầm: Có 2 lớp nước ngầm

+ Lớp 1: ở độ sâu từ 5-6 m được nhân dân khai thác qua hệ thống giếng khơi để lấy nước sinh hoạt, hiện tại có 256 hộ đang sử dụng giếng khơi bằng 89% tổng số hộ trong xã

+ Lớp 2: ở độ sâu >40m, nguồn nước trong, sạch, chất lượng đảm bảo, hiện

có khoảng 97% tổng số hộ sử dụng giếng khoan để khai thác nguồn nước này phục

vụ sinh hoạt

Trang 38

c) Tài nguyên nhân văn:

Hoằng Thái là một trong những xã đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, xã Hoằng Thái đã đưa hàng ngàn người con lên đường bảo vệ tổ quốc Hiện tại xã có 112 người liệt Sỹ, 19 người thương binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng 2 người

4.1.1.6 Tình hình sử dụng đất đai

Đối với xã Hoằng Thái với tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là: 278,33 ha.Việc sử dụng đất trong những năm gần đây được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Ủy, chính quyền và phòng Tài nguyên - Môi trường Nên công tác quản lý và sử dụng đất đai của địa phương nhìn chung ổn định, nhân dân ý thức được việc chấp hành pháp luật về đất đai sử dụng đất đúng mục đích có hiệu quả.Trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã chủ yếu là diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm phần lớn tổng diện tích đất, còn lại phần nhỏ là đất chưa sử dụng Để thấy rõ hiện trạng sử dụng đất đai xã Hoằng Thái

ta nghiên cứu bảng 4.1 (trang sau)

Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy hiện trạng sử dụng diện tích đất đai của toàn xã

có sự biến động lên xuống qua mỗi năm Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 278,33 ha, năm 2012 diện tích đất nông nghiệp chiếm 75,21%, năm 2013 chiếm 74,49%, năm 2014 chiếm 73,42% Như vậy, diện tích đất nông nghiệp qua ba năm

có tốc độ giảm bình quân là 1,21%

Diện tích trồng lúa giảm dần qua ba năm với tốc độ giảm bình quân là 0,28% Đặc biệt, diện tích đất trồng cây lâu năm giảm dần qua ba năm với tốc độ giảm bình quân là 12,55% và diện tích đất nuôi trồng thủy sản cũng giảm dần qua

ba năm với tốc độ giảm bình quân là 18,32% ; do sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng và theo xu hướng CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Tuy vậy, trong ba năm

2012 - 2014, diện tích đất trồng cây hàng năm khác có xu hướng tăng dần với tốc độ tăng bình quân là 8,41%, trong đó năm 2013 tăng dần với tốc độ bình quân là 9,14% so với năm 2012; năm 2014 tăng với tốc độ bình quân là 7,68% so với năm 2013

Trang 39

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014)

Chỉ tiêu

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%) 12/13 13/14

Bình quân

1 Đất nông nghiệp 209,35 75,21 207,35 74,49 204,35 73,42 99,04 98,55 98,79

1.1 Đất trồng lúa 178,24 64,03 179,25 64,40 177,25 63,68 100,56 98,88 99,72 1.2 Đất trồng cây hàng năm khác 13,12 4,71 14,32 5,14 15,42 5,54 109,14 107,68 108,41 1.3 Đất trồng cây lâu năm 4,13 1,48 3,12 1,12 3,10 1,11 75,54 99,35 87,45 1.4 Đất nuôi trồng thủy sản 12,86 4,62 10,66 3,82 8,58 3,08 82,89 80,48 81,68

2 Đất phi nông nghiệp 68,94 24,76 70,94 25,48 73,94 26,55 102,90 104,22 103,56

Trang 40

Qua ba năm quỹ đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng, với tốc độ tăng bình quân qua ba năm là 3,56% Năm 2012 chiếm 24,76%, năm 2013 chiếm 25,48%, năm 2014 chiếm 26,55% Diện tích đất phi nông nghiệp phần lớn là diện tích để phát triển hạ tầng nông thôn, đồng thời đây là một thuận lợi lớn đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương nói chung và phát triển ngành trồng trọt nói riêng

Diện tích đất chưa sử dụng qua các năm không có gì thay đổi chiếm 0,03% tổng diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là đất thầu ủy ban

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Cùng với đất đai, lao động là yếu tố cần thiết có vai trò đặc biệt trong mọi quá trình sản xuất Vai trò này càng được thể hiện rõ hơn trong sản xuất nông nghiệp khi mà trình độ cơ giới hoá còn ở mức hạn chế Dân số và lao động của

xã Hoằng Thái cũng có nhiều đặc điểm chung với các xã đồng bằng của huyện Hoằng Hóa

Năm 2012 dân số toàn xã có: 968 hộ; 4009 nhân khẩu, trong đó: toàn xã là dân tộc kinh Toàn xã có 1936 lao động chiếm 48.3% dân số, trong đó: Lao động nông nghiệp 1250 người chiếm 64.5%, lao động phi nông nghiệp 686 người chiếm 35.5% Cụ thể qua bảng 4.2 (trang bên) ta thấy:

Dân số toàn xã năm 2012 có 4.009 nhân khẩu, năm 2013 có 4.123 nhân khẩu, năm 2014 có 4.150 nhân khẩu, đạt tốc độ tăng bình quân qua ba năm là 1,7% Tổng số hộ của xã qua ba năm 2012 - 2014 có tốc độ tăng bình quân là 0,85%, trong đó bình quân hộ nông nghiệp tăng 2,1%, hộ phi nông nghiệp tăng bình quân 0,6%

Tổng số lao động toàn xã có tốc độ tăng bình quân qua ba năm 2012 - 2014

là 1,85%, trong đó lao động nông nghiệp giảm bình quân là 0,8%, chất lượng lao động còn thấp chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động được đào tạo có

kỹ thuật còn rất thấp; lao động phi nông nghiệp tăng bình quân là 6,6% trong đó chủ yếu là cán bộ viên chức, giáo viên, hộ sản xuất công nghiệp và hộ kinh doanh

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2012 - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 2.2. Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới trong giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 28)
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014) - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014) (Trang 39)
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014) - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động xã Hoằng Thái qua 3 năm (2012 - 2014) (Trang 41)
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất và sản lƣợng ớt của xã Hoằng Thái - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất và sản lƣợng ớt của xã Hoằng Thái (Trang 48)
Bảng 4.7. Thông tin về các hộ điều tra - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.7. Thông tin về các hộ điều tra (Trang 51)
Bảng 4.8. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình ớt - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.8. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình ớt (Trang 52)
Bảng 4.9. Hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình ớt - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.9. Hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình ớt (Trang 54)
Bảng 4.10. Kết quả thông tin tuyên truyền khuyến nông về mô hình sản xuất ớt - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.10. Kết quả thông tin tuyên truyền khuyến nông về mô hình sản xuất ớt (Trang 55)
Bảng 4.11. Mức độ theo dõi của hộ trồng về công tác thông tin, tuyên truyền - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.11. Mức độ theo dõi của hộ trồng về công tác thông tin, tuyên truyền (Trang 56)
Bảng 4.12. Kết quả đào tạo, tập huấn về mô hình ớt ngọt qua 3 năm - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.12. Kết quả đào tạo, tập huấn về mô hình ớt ngọt qua 3 năm (Trang 58)
Bảng 4.13. Đánh giá công tác đào tạo tập huấn trên địa bàn xã Hoằng Thái - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.13. Đánh giá công tác đào tạo tập huấn trên địa bàn xã Hoằng Thái (Trang 59)
Bảng 4.14. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn ớt tại xã qua 3 - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.14. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn ớt tại xã qua 3 (Trang 61)
Bảng 4.15. Đánh giá của nông dân về hiệu quả mô hình trình diễn về ớt - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.15. Đánh giá của nông dân về hiệu quả mô hình trình diễn về ớt (Trang 62)
Bảng 4.16. Đánh giá của người dân về công tác đi tham quan trên địa bàn xã - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.16. Đánh giá của người dân về công tác đi tham quan trên địa bàn xã (Trang 64)
Bảng 4.17. Yếu tố giúp hộ trồng nâng cao thu nhập và mức sống của hộ so với - Đánh giá vai trò của hoạt động khuyến nông trong việc phát triển mô hình trồng ớt ngọt trên địa bàn xã hoằng thái   huyện hoằng hóa   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.17. Yếu tố giúp hộ trồng nâng cao thu nhập và mức sống của hộ so với (Trang 65)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm