1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015

117 457 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã được cải tiến qua từng giai đoạn nhưng công tác tuyển/xét chọn vẫn tồn tại những vấn đề bất cập như: việc xác định nhiệm vụ để công bố tuyển/xét chọn chưa hợp lý; thời gian dàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ THU THỦY

NHẬN DIỆN NHỮNG BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH TUYỂN/XÉT CHỌN CÁC ĐỀ TÀI/DỰ ÁN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ THU THỦY

NHẬN DIỆN NHỮNG BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH TUYỂN/XÉT CHỌN CÁC ĐỀ TÀI/DỰ ÁN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thiện Thành

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền thụ, trang bị những kiến thức chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới

TS Nguyễn Thiện Thành đã khuyến khích, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc

và các đồng nghiệp tại Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp nhà nước,

Bộ Khoa học và Công nghệ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình đã ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu này

Xin trân trọng cảm ơn /

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Tác giả

Đào Thị Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt 4

Danh mục các bảng biểu 5

Phần mở đầu 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

3 Mục tiêu nghiên cứu 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18

5 Mẫu khảo sát 19

6 Vấn đề nghiên cứu 19

7 Giả thuyết nghiên cứu 19

8 Các luận cứ chứng minh giả thuyết 20

9 Phương pháp nghiên cứu 20

10 Nội dung và cấu trúc luận văn 21

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác tuyển/xét chọn

tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước 22

1.1 Hệ thống khái niệm có liên quan 22

1.1.1 Khái niệm “Nghiên cứu khoa học ” 22

1.1.2 Khái niệm “Hoạt động KH&CN” 25

1.1.3 Khái niệm “Nhiệm vụ KH&CN" 26

1.1.4 Khái niệm "Đề tài/Dự án" 26

1.1.5 Khái niệm "Chương trình KH&CN" 28

1.1.6 Khái niệm "Tuyển chọn" và "xét chọn" tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA cấp nhà nước 29

1.1.7 Hợp tác và cạnh tranh trong nghiên cứu khoa học 29

1.2 Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và quản lý các nhiệm vụ KH&CN 31

1.2.1 Tại Hoa Kỳ 31

1.2.2 Tại Cộng hòa liên bang Nga 37

1.2.3 Tại Australia và NewZealand 37

Trang 5

1.2.4 Kinh nghiệm thế giới trong việc xét chọn và đánh giá nhiệm

vụ KH&CN - Cộng hòa liên bang Đức 39

1.3 Tuyển/xét chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA cấp nhà nước - cơ chế tạo ra sự bình đẳng trong nghiên cứu khoa học 46

Chương II Nhận diện những vấn đề bất cập trong công tác tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các chương trình trọng điểm cấp nhà nước, trên cơ sở phân tích thực trạng từ năm 2001 đến nay 48

2.1 Quy trình chung của việc tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN thuộc các chương trình trọng điểm cấp nhà nước 48

2.2 Vấn đề bất cập trong việc xác định nhiệm vụ KH&CN (xây dựng đầu bài) để công bố tuyển/xét chọn 53

2.3 Vấn đề bất cập trong quy định thời gian để tổ chức, cá nhân chuẩn bị và xây dựng thuyết minh nghiên cứu, hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn 68

2.4 Vấn đề bất cập trong việc thành lập Hội đồng và lựa chọn chuyên gia để xem xét, đánh giá hồ sơ tuyển/xét chọn 75

2.5 Vấn đề bất cập trong việc đánh giá thuyết minh nghiên cứu và hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn 83

2.5.1 Tiêu chí đánh giá Hồ sơ và Thuyết minh nghiên cứu 83

2.5.2 Lựa chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA cấp nhà nước 92

Chương III: Giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA cấp nhà nước 102

3.1 Đổi mới phương thức xác định nhiệm vụ KH&CN (xây dựng đầu bài) để công bố tuyển/xét chọn 102

3.2 Giảm thiểu các thủ tục hành chính trong công tác tuyển/xét chọn 104

3.3 Đổi mới tiêu chí thành lập Hội đồng cũng như lựa chọn chuyên gia để xem xét đánh giá Hồ sơ tuyển/xét chọn 105

3.4 Đổi mới tiêu chí đánh giá Thuyết minh đề cương nghiên cứu và hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn 106

Kết luận 108

Tài liệu tham khảo 109

Phụ lục 113

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Chữ đƣợc viết tắt

Bộ KH&CN : Bộ Khoa học và Công nghệ

VPCT : Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp nhà nước

CT : Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước ĐT/DA : Đề tài/dự án

HĐ : Hội đồng khoa học và công nghệ cấp nhà nước tư vấn

tuyển/xét chọn KH&CN : Khoa học và công nghệ

KHXH&NV : Khoa học xã hội và nhân văn

KT-XH : Kinh tế - xã hội

NCKH : Nghiên cứu khoa học

NC&PT : Nghiên cứu và phát triển

NCCB : Nghiên cứu cơ bản

NCƯD : Nghiên cứu ứng dụng

NCTK : Nghiên cứu triển khai

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1: Số lượng đề xuất và nhiệm vụ KH&CN được xây

2 Bảng 2: Số lượng đề xuất và các nhiệm vụ KH&CN (đầu bài)

được xây dựng trong năm 2012 và năm 2013 57

3 Bảng 3: Số nhiệm vụ có nhiều hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn

Bảng 6: Số lượng điều chỉnh của các ĐT/DA thuộc các

Chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 –

2015

64

7

Bảng 7: Thời gian để tổ chức, cá nhân chuẩn bị hồ sơ đăng ký

tuyển/xét chọn ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp

nhà nước qua từng giai đoạn

69

8 Bảng 8: Một số hồ sơ bị loại do “lỗi hành chính” 72

9 Bảng 9: Số lượng hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn đáp ứng các

điều kiện sau rà soát trong năm 2013 – 2014 73

10 Bảng 10: Những yêu cầu đối với HĐ KH&CN cấp nhà nước

tư vấn tuyển/xét chọn qua từng giai đoạn 76

11 Bảng 11: Số lượng HĐ tuyển/xét chọn được thành lập qua

14 Bảng 14: Tiêu chí đánh giá hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn

Trang 8

15

Bảng 15: Tiêu chí đánh giá Thuyết minh đề tài giai đoạn

2006-2010 (tại Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày

11/5/2007)

86

16

Bảng 16: Tiêu chí đánh giá Dự án SXTN giai đoạn

2006-2010 (tại Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày

11/5/2007)

87

17 Bảng 17: Số nhiệm vụ được phê duyệt và số nhiệm vụ dừng

trong quá trình thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 88

18

Bảng 18: Tiêu chí đánh giá Thuyết minh Đề tài giai đoạn

2011-2015 (tại Thông tư số 08/2012/TT-BKHCN ngày

02/4/2012)

90

19 Bảng 19: Tiêu chí đánh giá Thuyết minh Dự án SXTN tại

Thông tư số 08/2012/TT-BKHCN ngày 02/4/2012 91

20 Bảng 20: Tiêu chí đánh giá năng lực của cá nhân đăng ký chủ

trì thực hiện đề tài giai đoạn 2006-2010 94

21 Bảng 21: Những số liệu về cá nhân chủ nhiệm ĐT/DA cấp nhà

22

Bảng 22: Những nhiệm vụ dừng thực hiện và nghiệm thu

“không đạt” của Chương trình KC.01/11-15 giai đoạn

23 Bảng 23: Số lượng các ĐT/DA cấp nhà nước do Doanh nghiệp

24 Bảng 24: Số liệu ĐT/DA có điều chỉnh, dừng thực hiện giai

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của mỗi quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hóa Bài học phát triển đất nước dựa trên nền tảng KH&CN của Nhật Bản trong những năm 80 của thế kỷ trước, Hàn Quốc, Đài Loan trong những năm 90 và Trung Quốc trong những năm gần đây đã và đang trở nên quý giá cho nhiều nước đang phát triển Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn luôn coi trọng việc phát triển KH&CN Trong quá trình dựng nước

và giữ nước KH&CN luôn luôn được coi là “then chốt” và quốc sách hàng đầu Nghị quyết mới nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Nghị quyết

số 20-NQ/TW) đã định quan điểm, tầm quan trọng và định hướng phát triển KH&CN của nước ta trong thời gian tới như sau: “phát triển và ứng dụng KH&CN là quốc sách hàng đầu, một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của

sự nghiệp phát triển KH&CN Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [18]

Với chức năng quản lý nhà nước về KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nỗ lực không ngừng đổi mới và ban hành nhiều chủ trương chính sách để đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, những chính sách mở đã tạo được môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Trang 10

Nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động KH&CN, công tác đổi mới quản

lý KH&CN luôn được Bộ KH&CN coi là trọng tâm hàng đầu Ngay từ khi Luật KH&CN năm 2000 có hiệu lực, công tác quản lý KH&CN đã có nhiều thay đổi Một trong những đổi mới quan trọng là việc xây dựng nhiệm vụ KH&CN và quy trình giao nhiệm vụ cho các tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện với nhiều cải tiến hơn so với cách thực hiện trước đây Kể từ đó đến nay công tác quản lý KH&CN được đổi mới liên tục qua nhiều giai đoạn Trong giai đoạn 2011-2015 thực hiện phương hướng mục tiêu nhiệm vụ 05 năm tại Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&CN tiếp tục đổi mới toàn diện cơ chế quản lý hoạt động KH&CN trong

đó đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ, tập trung xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển khoa học và công nghệ [26]

Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp nhà nước (VPCT) là một đơn vị thuộc Bộ KH&CN Hoạt động chính của VPCT là thực hiện quản lý các ĐT/DA thuộc các chương trình trọng điểm cấp nhà nước (gọi tắt là Chương trình) Một trong những hoạt động quan trọng của VPCT là tổ chức việc xác định ĐT/DA hàng năm và tuyển/xét chọn các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các CT

Quy trình tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện các nhiệm vụ KH&CN được áp dụng từ năm 2001 Kế thừa kinh nghiệm của nước ngoài, quy trình tuyển/xét chọn được coi là một trong những công cụ tiên tiến nhằm tạo ra cơ chế bình đẳng, minh bạch và mang tính cạnh tranh cao trong nghiên cứu khoa học, thay thế cho quy trình bổ nhiệm các chủ nhiệm ĐT/DA theo đề xuất đã được áp dụng trước đó Trong những năm đầu khi thực hiện quy trình này, do lần đầu được áp dụng nên quy trình này không tránh khỏi có những vấn đề bất cập, Bộ KH&CN đã chủ động rút kinh nghiệm bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam Đến nay quy trình này đã

Trang 11

được thay đổi bốn (04) lần Việc áp dụng quy trình tuyển/xét chọn đã có những thay đổi tích cực trong công tác quản lý các nhiệm vụ KH&CN, cơ hội

để được chủ trì các nhiệm vụ KH&CN đặc biệt là các ĐT/DA cấp nhà nước trở nên rộng rãi hơn cho các nhà khoa học đặc biệt là cho một số nhà khoa học trẻ có năng lực Tình trạng độc quyền, “cây đa, cây đề” trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN được hạn chế một cách cơ bản

Mục tiêu chính của việc tuyển/xét chọn là lựa chọn được tổ chức và cá nhân có đủ năng lực và kinh nghiệm chủ trì ĐT/DA, đảm bảo thực hiện thành công theo đề cương đề xuất đã được xem xét, đánh giá và phê duyệt Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các ĐT/DA còn có rất nhiều vấn đề bất cập, nhiều ĐT/DA phải điều chỉnh tiến độ, thậm chí không ít ĐT/DA phải điều chỉnh sản phẩm tạo ra do không đáp ứng được yêu cầu; sự phối hợp giữa chủ nhiệm và cơ quan chủ trì có nhiều trục trặc dẫn đến một số ĐT/DA phải dừng thực hiện do sự phối hợp không tốt; khó triển khai kết quả nghiên cứu vào sản xuất, đời sống…

Những bất cập nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Xem xét và đánh giá kỹ có thể thấy một trong những nguyên nhân phát sinh từ quy trình tuyển/xét chọn Mặc dù đã được cải tiến qua từng giai đoạn nhưng công tác tuyển/xét chọn vẫn tồn tại những vấn đề bất cập như: việc xác định nhiệm vụ

để công bố tuyển/xét chọn chưa hợp lý; thời gian dành tổ chức, cá nhân chuẩn

bị và xây dựng hồ sơ đăng ký tham gia tuyển/xét chọn chưa đủ; vấn đề bất cập trong thành lập Hội đồng (HĐ), lựa chọn chuyên gia xem xét đánh giá hồ

sơ tuyển/xét chọn lựa chọn tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA cấp nhà nước; vấn

đề bất cập trong xây dựng tiêu chí đánh giá thuyết minh nghiên cứu, hồ sơ tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà nước…

Là đơn vị trực tiếp thực hiện quy trình tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA, đồng thời theo dõi quản lý việc tổ chức thực hiện ĐT/DA nên Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp nhà nước đánh giá được kết quả của công tác tuyển/xét chọn các ĐT/DA cấp nhà nước Với mong muốn được

Trang 12

góp một số kiến nghị nhằm cải tiến công tác tuyển/xét chọn, dưới góc độ là

một luận văn thạc sỹ, tác giả đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nhận diện những bất cập và hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn các ĐT/DA thuộc Chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015”

Trên cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học, với hệ thống số liệu sẵn có tại VPCT, luận văn này tập trung phân tích một số vấn đề bất cập của quy trình tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà nước và đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những bất cập đó Hy vọng rằng những nghiên cứu và kiến nghị sau là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng các văn bản quy định về trình tự tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Để góp phần xây dựng và ban hành Luật KH&CN năm 2000, các cơ quan chức năng của Bộ KH&CN đã nghiên cứu một cách bài bản quy trình xét giao nhiệm vụ của nhiều quốc gia trên thế giới: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga… tuy nhiên Luật mới ban hành chỉ có quy định chung nhất các nhiệm vụ KH&CN đều phải được thực hiện theo phương thức tuyển chọn, xét chọn (giao trực tiếp) Khi xây dựng và ban hành Nghị định số 81/2002/NĐ-CP của Chính phủ, các đơn vị của Bộ KH&CN đã tiến hành thêm một loạt các nghiên cứu về phương pháp luận cũng như cơ sở thực tiễn để cụ thể hóa các yêu cầu của công tác tuyển/xét chọn Mặc dù đã có các yêu cầu cụ thể hơn so với Luật nhưng Nghị định chưa chỉ ra các bước cụ thể cho việc tuyển/xét chọn Với một loạt các nghiên cứu, Bộ KH&CN đã ban hành quy định về quy trình thủ tục của công tác tuyển/xét chọn thông qua các Quyết định hoặc Thông tư Kể

từ năm 2001 khi Nghị định số 81/2002/NĐ-CP có hiệu lực, các quy trình về tuyển/xét chọn đã qua 04 lần điều chỉnh, cụ thể là:

Giai đoạn 2001-2005, khi Luật KH&CN năm 2000 được ban hành, quy

định đầu tiên về tuyển chọn ĐT/DA là Quyết định số

Trang 13

15/2001/QĐ-đăng ký tham gia còn đơn giản, quy định về HĐ cũng như chuyên gia chưa cụ thể, các tiêu chí đánh giá thuyết minh nghiên cứu và hồ sơ tuyển/xét chọn còn khái quát, chưa đánh giá hết được những nội dung cần thiết đối với thuyết minh nghiên cứu…

Tháng 7/2003 Bộ KH&CN tiếp tục ban hành Quyết định số BKHCN về việc tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài KH&CN và dự án SXTN cấp nhà nước, Quyết định này nhằm thay thế cho các Quyết định về tuyển/xét chọn trước đó, với một số yêu cầu về hồ sơ đăng

16/2003/QĐ-ký tuyển/xét chọn đã được bổ sung như: các văn bản liên quan đến cam kết vốn đối ứng của dự án SXTN, yêu cầu về thành phần HĐ rút gọn hơn (9-11 thành viên)…

Qua quá trình thực hiện, công tác tuyển/xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các chương trình trọng điểm cấp nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005 đã cho thấy rõ một số những ưu nhược điểm sau:

Ưu điểm:

- Việc công bố thông tin tuyển/xét chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA, cũng như kết quả tuyển/xét chọn công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thay thế cho chế độ bổ nhiệm các chủ nhiệm ĐT/DA, là khâu đột phá trong việc đảm bảo sự công bằng, dân chủ, khách quan và công khai trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo theo đúng tinh thần của Luật KH&CN (năm 2001)

- Tập hợp được một lực lượng đông đảo các chuyên gia là các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân có trình độ và uy tín tham gia các hội đồng tư vấn tuyển/xét chọn

- Qua các kỳ tuyển/xét chọn, chất lượng của hồ sơ thuyết minh ĐT/DA tham gia đã tốt hơn rất nhiều so với trước đây Điều này thể hiện các nhà khoa học đã cập nhật kịp thời tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới, đáp

Trang 14

ứng yêu cầu thực tiễn cũng như làm quen dần với cách thức và yêu cầu của phương pháp quản lý tiên tiến đối với các ĐT/DA KH&CN

Tuy nhiên bên cạnh đó còn những tồn tại cần phải khắc phục:

- Một số nhiệm vụ đưa ra tuyển/xét chọn có quy mô quá rộng, quá chung chung nên khó tạo ra được kết quả cụ thể có thể ứng dụng ngay Một số

đề tài chỉ là sự tập hợp cơ học của các nội dung độc lập với nhau, thiếu sự gắn

bó trong việc thực hiện mục tiêu của đề tài

- Trong quá trình đánh giá, còn có trường hợp thành viên hội đồng chấm điểm thiên vị hoặc chấm điểm không phù hợp với ý kiến đánh giá khi phát biểu và nhận xét

- Phương thức đánh giá độc lập chưa được áp dụng

Giai đoạn 2006 - 2010 Bộ KH&CN đã triển khai thực hiện hệ thống 13

chương trình (gồm 10 chương trình KHCN, 03 chương trình KHXH&NV) và

01 chương trình nghiên cứu lý luận chính trị do Hội đồng lý luận trung ương phối hợp thực hiện

Để hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà nước, vào tháng 5/2007 Bộ KH&CN đã ban hành Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN và Quyết định số 11/2007/QĐ-BKHCN quy định tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA cấp nhà nước (ĐT/DA thuộc các Chương trình KH&CN và đề tài thuộc các Chương trình KHXH&NV Khác với những quy định trước đó về tuyển/xét chọn, tại Quyết định này, Bộ KH&CN đã có những quy định cụ thể hơn và yêu cầu chặt chẽ hơn trong việc tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà nước:

+ Điều kiện tổ chức, cá nhân tham gia tuyển/xét chọn được chi tiết và chặt chẽ hơn: cá nhân đăng ký chủ nhiệm không được đồng thời chủ trì 02 nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước; có chuyên môn, năng lực đáp ứng yêu cầu; đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ không được nợ nghiệm thu ĐT/DA, kinh phí thu hồi DA SXTN hoặc có chủ trì nhiệm vụ KH&CN nghiệm thu mức “không

Trang 15

đạt’… việc quy định cụ thể các yêu cầu đối với cá nhân đăng ký chủ nhiệm ĐT/DA cho thấy việc lựa chọn cá nhân chủ trì rất được coi trọng, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cũng như hoàn thành tốt nhiệm vụ KH&CN được giao; + Đối với hồ sơ đăng ký tham gia tuyển/xét chọn, ngoài lý lịch khoa học của cá nhân đăng ký chủ trì còn bổ sung thêm lý lịch khoa học của các cá nhân tham gia thực hiện ĐT/DA; bên cạnh đó văn bản pháp lý cam kết và giải trình khả năng huy động vốn từ các nguồn ngoài ngân sách sự nghiệp là điều kiện bắt buộc đối với hồ sơ đăng ký của Dự án SXTN;

+ Đối với thành phần HĐ trong trường hợp cần thiết cán bộ đang công tác tại tổ chức đăng ký chủ trì ĐT/DA có thể tham gia HĐ nhưng không quá

01 người và không được làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc chuyên gia phản biện Việc quy định có thể có 01 thành viên HĐ là cá nhân thuộc tổ chức đăng

ký chủ trì ĐT/DA nhằm giúp HĐ có đánh giá chính xác hơn về năng lực, hoạt động KH&CN của tổ chức chủ trì ĐT/DA, tuy nhiên việc này cũng có mặt chưa tích cực đó là có sự quen biết của thành viên HĐ mà dẫn tới việc chấm điểm còn thiên vị, nhân nhượng… điều này ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá của HĐ

+ Điểm đánh giá năng lực tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT tối đa 14 điểm và được đặt riêng không liên quan với phần đánh giá Thuyết minh ĐT

+ Đặc biệt các tiêu chí đánh giá Thuyết minh ĐT/DA và năng lực tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA chi tiết, cụ thể hơn rất nhiều so với các quy định trước đây Mức điểm đánh giá được tính từ 2, 3 đến 5 điểm và tổng điểm tối

đa cho Thuyết minh đề tài là 100 điểm Việc chi tiết hóa tiêu chí và mức điểm đánh giá giúp cho chuyên gia HĐ dễ dàng đối chiếu, xem xét và cho điểm phù hợp trong quá trình đánh giá hồ sơ

Qua quá trình thực hiện, công tác tuyển/xét chọn ĐT/DA trong giai đoạn

2006 - 2010 đã có những ưu nhược điểm như sau:

Trang 16

Ưu điểm:

- Việc áp dụng rộng rãi cơ chế cạnh tranh trong công tác tuyển/xét chọn các ĐT/DA cấp nhà nước đã tạo áp lực thúc đẩy các tổ chức KH&CN nâng cao năng lực và hiệu quả, giảm sức ì trong hoạt động

- Công tác xác định nhiệm vụ KH&CN, tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân

chủ trì ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước của Bộ KH&CN nhận được sự phối hợp tích cực của các Bộ, ngành có liên quan: các

Bộ, ngành xây dựng các đề xuất KH&CN để đặt hàng sau khi xem xét, tổng hợp các nhu cầu từ hoạt động thực tế của ngành; tích cực tham dự các hội đồng tuyển/xét chọn hoặc cung cấp bằng văn bản các thông tin liên quan để xác định danh mục các nhiệm vụ KH&CN đưa vào thực hiện… nhằm khẳng định tính cấp thiết, khả năng ứng dụng kết quả của nhiệm vụ KH&CN để đáp ứng nhu cầu cấp thiết từ thực tiễn sản xuất kinh doanh của Bộ, ngành

Tuy nhiên công tác tuyển/xét chọn trong giai đoạn này vẫn còn nhiều hạn chế: yêu cầu về số lượng hồ sơ đăng ký tham gia tuyển/xét chọn rất nhiều (16

bộ hồ sơ), các chỉ tiêu đánh giá tuyển/xét chọn vẫn còn nặng về định tính, tỷ trọng giữa các tiêu chí chưa hợp lý và chưa thực sự phù hợp với đặt thù của các loại hình nghiên cứu Chất lượng đánh giá của các hội đồng tư vấn tuyển/xét chọn còn hạn chế do số lượng chuyên gia chưa thực sự giỏi trong từng lĩnh vực không nhiều …

Giai đoạn 2011-2015 Bộ KH&CN vẫn từng bước hoàn thiện quy trình

tuyển/xét chọn các ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước Tháng 4/2012 Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BKHCN và Thông tư số 09/2012/TT-BKHCN về việc tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA cấp nhà nước giai đoạn 2011–2015 thay thế cho các quy định trước đó Tại Thông tư này Bộ KH&CN đã có những đổi mới, cải tiến nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi, kịp thời cho công tác tuyển/xét chọn các ĐT/DA cấp nhà nước:

Trang 17

+ Số lượng Hồ sơ nộp đăng ký tuyển/xét chọn: 01 bộ gốc và 01 bản điện

tử của hồ sơ được ghi trên đĩa quang (dạng PDF) Quy định này khác so với các quy định trước đó về số lượng Hồ sơ (01 bản gốc và 15 bản sao), giảm thiểu sự cồng kềnh, tạo sự gọn nhẹ cho tổ chức, cá nhân trong quá trình chuẩn

bị hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn

+ Trong thủ tục mở hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn có đại diện các đơn vị chức năng của Bộ KH&CN, đại diện tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia tuyển/xét chọn, đại diện các cơ quan liên quan (nếu cần), không còn đại diện Hội đồng tuyển/xét chọn tham gia mở hồ sơ như những quy định trước đó Việc mở hồ sơ là thủ tục hành chính nên thành viên HĐ tuyển/xét chọn tham gia là không phù hợp với vai trò và nhiệm vụ của HĐ, do đó Bộ KH&CN đã

có sự thay đổi trong quy định mới này

+ Đối với thành phần HĐ, khác với những quy định trước đó, thành viên BCN có thể tham gia HĐ nhưng không quá 01 người và không làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc chuyên gia phản biện; và đại diện của cơ quan chủ trì không còn được tham gia vào HĐ tuyển/xét chọn Điều này giảm thiểu việc đánh giá hồ sơ dựa trên sự quen biết, chấm điểm thiên vị nhân nhượng, việc đánh giá khách quan và công bằng hơn

+ Khác với quy định giai đoạn 2006-2010 điểm đánh giá năng lực tổ chức, cá nhân chủ trì được tính là một phần riêng, không liên quan với phần đánh giá Thuyết mình ĐT/DA Nhưng ở giai đoạn này, điểm tối đa đánh giá năng lực tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA là 20 điểm và là một phần thuộc nội dung đánh giá Thuyết minh ĐT/DA (điểm tối đa 100 điểm)

Tháng 6/2013 Luật KH&CN số 29/2013/QH13 mới được ban hành cũng quy định rất rõ về xác định nhiệm vụ KH&CN cũng như phương thức phương thức tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN, trong đó các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được xây dựng trên cơ sở đề xuất và đặt hàng của các Bộ ngành, tỉnh/thành phố, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước ở trung ương, là những nhiệm vụ KH&CN cấp bách, mới phát

Trang 18

sinh có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia… Đối với việc tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN, Bộ KH&CN tiếp tục hoàn thiện

và ban hành quy định mới với tinh thần đảm bảo công khai, công bằng, dân chủ, khách quan [22]

Ngoài các nghiên cứu của các đơn vị chức năng của Bộ KH&CN để ban hành các quy định trên dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật thì các nghiên cứu của một số nhà quản lý cũng đã cung cấp góc nhìn khác nhau về công tác

tuyển/xét chọn Nghiên cứu của “Bùi Thị Chiêm, Phạm Thị Bích Liên, Năm

thực hiện xác định nhiệm vụ và tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước,

Tạp chí KH&CN Quốc gia, 2003” đã đánh giá được một số những ưu điểm của công tác tuyển/xét chọn trong những năm đầu khi thực hiện cơ chế này Các tác giả cũng đã có một số kiến nghị cụ thể nhằm cải tiến quy trình

tuyển/xét chọn một cách khoa học hơn Tác giả “Vũ Cao Đàm, Về đánh giá

hiệu quả nghiên cứu, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2005” đã có cách nhìn

khoa học hơn dưới góc độ hiệu quả KH&CN gắn với việc lựa chọn và giao nhiệm vụ cho tổ chức và cá nhân thực hiện Trong khi đó tác giả “Nguyễn

Văn An, Một số vấn đề trong đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu

khoa học, Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 5-2005” có rất nhiều phân

tích sâu sắc khi lựa chọn thành viên hội đồng tư vấn về KH&CN Những phân

tích trong việc xác định nhiệm vụ của tác giả “Nguyễn Thiện Thành, đề án

“Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng xác định nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước theo yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, Hà Nội 2013” đã

cho thấy liên hệ mật thiết của việc xác định nhiệm vụ với công tác tuyển/xét chọn, đảm bảo hiệu quả khi thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia Trên cơ sở công tác tuyển chọn, xét chọn đề tài nghiên cứu tại tỉnh Thái

Bình, tác giả “Phạm Thị Quỳnh, Đổi mới quy trình xét duyệt đề tài nghiên cứu

khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm gắn kết nghiên cứu với thực tiễn tại Thái Bình, Luận văn thạc sỹ 2012” đã đề xuất được một số những giải pháp

Trang 19

để đổi mới quy trình giao nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu Tuy nhiên những vấn đề được nêu ra tại luận văn này mới đề cập đến các phương án tuyển chọn, xét giao nhiệm vụ ĐT/DA cấp tỉnh với quy trình xác định nhiệm vụ và quy trình tuyển/xét chọn không tách bạch

Dưới góc độ là một luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý KH&CN, đây

là nghiên cứu đầu tiên tập trung vào phân tích những thực trạng tồn tại từ đó

đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc Chương trình trọng điểm cấp nhà nước đến năm 2020

Trang 20

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Đánh giá và nhận diện những vấn đề bất cập trong quy trình tuyển/xét chọn các ĐT/DA thuộc Chương trình trọng điểm cấp nhà nước qua các giai đoạn thông qua các số liệu thực tế từ việc khai thác cơ sở dữ liệu đã có, qua

đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm tăng chất lượng và hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà nước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình tuyển/xét chọn thông qua các văn bản (Quyết định, Thông tư) đã được ban hành về công tác tuyển/xét chọn tổ chức,

cá nhân đăng ký tham gia chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quy trình tuyển/xét chọn ĐT/DA từ năm 2001 đến nay và các yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến quy trình

- Nghiên cứu tại Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp nhà nước,

+ Nhận diện được những vấn đề bất cập trong công tác tuyển/xét chọn thông qua việc phân tích các số liệu có trong các cơ sở dữ liệu của VPCT + Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước của Bộ KH&CN giai đoạn 2011 - 2015

Trang 21

5 Mẫu khảo sát:

- Các Quyết định phê duyệt nhiệm vụ KH&CN (hay còn gọi là các đơn hàng) qua các giai đoạn;

- Các mẫu Hồ sơ đăng ký tham gia tuyển/xét chọn ĐT/DA

- Các hồ sơ đăng ký tham gia tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước từ năm 2001 đến nay;

- Hồ sơ đánh giá của hội đồng tư vấn tuyển/xét chọn đối với ĐT/DA tuyển/xét chọn thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn

2011 – 2015

6 Vấn đề nghiên cứu:

- Có những vấn đề bất cập nào trong quy trình quy trình tuyển/xét chọn

tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước của Bộ KH&CN từ năm 2001 đến nay ảnh hưởng đến quá trình thưc hiện của các ĐT/DA?

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước đến năm 2020 theo hướng nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Xác định nhiệm vụ KH&CN (xây dựng đầu bài) chưa phù hợp;

- Thời gian để tổ chức, cá nhân chuẩn bị Hồ sơ đăng ký tham gia tuyển/xét chọn quá ngắn;

- Thành lập HĐ, lựa chọn chuyên gia xem xét, đánh giá hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn cũng như tư vấn lựa chọn tổ chức, cá nhân chủ trì ĐT/DA cấp nhà nước chưa phù hợp

- Các tiêu chí đánh giá Hồ sơ, thuyết minh đề cương nghiên cứu chưa thực sự logic và khoa học;

Trang 22

8 Các luận cứ chứng minh giả thuyết:

+ Luận cứ về nhân tố ảnh hưởng tới quy trình tuyển/xét chọn ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy trình trong thời gian tới

9 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích tài liệu về hoạt động KH&CN, quản lý nghiên cứu và triển khai, các chính sách trong lĩnh vực KH&CN, qua sách báo, internet

Trang 23

Phân tích tài liệu, biểu mẫu, biểu bảng trong các quy định đã được Bộ KH&CN ban hành

Phân tích tài liệu qua hồ sơ, số liệu thu thập được để đánh giá thực trạng cũng như bất cập trong công tác tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia chủ trì thực hiện ĐT/DA thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước của Bộ KH&CN qua các giai đoạn (từ năm 2001 đến nay)

- Phương pháp phân tích thống kê: sử dụng để thống kê các số liệu về công tác tuyển/xét chọn của Bộ KH&CN phục vụ cho luận văn

10 Nội dung và cấu trúc luận văn:

Luận văn gồm các phần: mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo và mục lục Trong đó:

Nội dung bao gồm:

- Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước

- Chương II Nhận diện những vấn đề bất cập trong công tác tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN thuộc các chương trình trọng điểm cấp nhà nước trên cơ sở phân tích thực trạng từ năm 2001 đến nay

- Chương III Giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển/xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN thuộc các chương trình trọng điểm cấp nhà nước

Kết luận và khuyến nghị

Trang 24

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC TUYỂN/XÉT CHỌN TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CHỦ TRÌ NHIỆM VỤ KH&CN CẤP NHÀ NƯỚC 1.1 Hệ thống khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm: “Nghiên cứu khoa học”

* NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học

về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới

để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người [36] Theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13: NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội

và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn

* Đặc điểm của NCKH:

Đặc điểm chung nhất của NCKH là tìm tòi những sự vật, hiện tượng mà người nghiên cứu chưa hề biết Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm khác nhau của NCKH, mà người nghiên cứu cũng như người quản lý nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu

- Tính mới: Vì NCKH là quá trình khám phá thế giới của những sự vật,

hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của nghiên cứu khoa học, nó luôn có khả năng dẫn tới những xung đột xã hội với các kết luận cũ, bất kể trong khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội

- Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp

nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thư được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả

Trang 25

thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng

- Tính thông tin: Sản phẩm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dạng

như: một báo cáo khoa học, một tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm, giải pháp mới… Tuy nhiên trong tất cả các dạng thể hiện trên sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình xã hội hoặc quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho quy trình đó

- Tính khách quan vừa là đặc điểm của NCKH, vừa là một tiêu chuẩn về

phẩm chất của người NCKH Trong xã hội học khoa học (sociology of science), người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng

Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các loại câu hỏi ngược lại những kết luận đã được xác nhận Ví dụ: kết quả có thể khác không? Nếu kết quả là đúng, thì đúng trong những điều kiện nào? Còn phương pháp nào cho kết quả tốt hơn?

- Tính rủi ro: Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới

hoàn toàn có thể gặp phải thất bại Đó là tính rủi ro của nghiên cứu Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân… ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng, trong khoa học thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả

ấy cũng mang ý nghĩa là kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong

sự vật không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến Xét về ý nghĩa khoa học, đây là một kết quả quan trọng, nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu

Trang 26

- Tính kế thừa: Ngày nay hầu như không còn một công trình nghiên cứu

khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Mỗi nghiên cứu thường phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thậm chí trong những lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu: một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửa cố thủ trong những lý luận và phương pháp luận “riêng có” “của mình” mà bài xích sự thâm nhập về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất xa khác nhau Hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả

kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học

- Tính cá nhân: Dù là một công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì

vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân Phân loại nghiên cứu khoa học: Theo các giai đoạn của nghiên cứu người

ta phân chia nghiên cứu khoa học thành 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là nghiên cứu triển khai (R&D)

- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu

trúc, động thái các sự vật Kết quả của nghiên cứu cơ bản có thể là khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới

- Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ trong

nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới

về các giải pháp

- Triển khai: Triển khai thực nghiệm (gọi tắt là triển khai) là sự vận

dụng các lý thuyết để đưa ra các vật mẫu (prototype) và công nghệ sản xuất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật

Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn:

+ Tạo mẫu (prototype): là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu, chưa quan tâm đến quy trình hình thành mẫu đó

Trang 27

+ Tạo quy trình: còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm

và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu vừa thành công trong giai đoạn thứ nhất (giai đoạn tạo mẫu)

+ Làm thí điểm loạt nhỏ: còn gọi là làm “serie 0” (loạt 0) Đây là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của quy trình trên quy mô nhỏ

Khái niệm triển khai được áp dụng cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xã hội: trong nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai được áp dụng khi chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong nghiên cứu xã hội như thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ở các lớp thí điểm, chỉ đạo thí điểm một mô hình quản lý mới tại một cơ sở được lựa chọn

Sự phân chia loại hình nghiên cứu trên đây được áp dụng phổ biến trên thế giới Phân chia là để nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, để

có cơ sở lập kế hoạch nghiên cứu, cụ thể hóa các cam kết trong hợp đồng nghiên cứu giữa các đối tác Tuy nhiên, trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại hình nghiên cứu, hoặc tồn tại một, hoặc hai trong ba loại hình nghiên cứu [36]

1.1.2 Khái niệm: “Hoạt động khoa học và công nghệ”

* Theo định nghĩa của UNESCO, hoạt động KH&CN (scientific and technological activities) là các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của KH&CN, là các khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội

và nhân văn

Hoạt động KH&CN bao gồm:

- Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) Trong nền kinh tế thị trường loại hoạt động này được thực hiện trước hết trong các trường đại học, trong các doanh nghiệp và cũng có cả các viện nghiên cứu độc lập;

Trang 28

- Hoạt động phát triển công nghệ, bao gồm mở rộng công nghệ, nâng cấp công nghệ và đổi mới công nghệ;

- Hoạt động dịch vụ KH&CN

Xã hội càng phát triển thì hoạt động KH&CN càng phát triển đa dạng và phong phú

* Theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13, “Hoạt động KH&CN” là hoạt

động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển

công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN

Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN là nâng cao năng lực KH&CN để làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, sức khỏe con người… Nguyên tắc hoạt động KH&CN xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ; xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc thành tựu KH&CN của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; bảo đảm quyền tự do sáng tạo, phát huy dân chủ trong hoạt động KH&CN vì sự phát triển của đất nước…

1.1.3 Khái niệm “Nhiệm vụ KH&CN”

Luật KH&CN số 29/2013/QH13 quy định rõ: Nhiệm vụ KH&CN là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, phát triển KH&CN Nhiệm

vụ KH&CN được tổ chức dưới hình thức Chương trình, Đề tài, Dự án, Nhiệm

vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức KH&CN hoặc các Đề án…

1.1.4 Khái niệm “Đề tài/Dự án (ĐT/DA)”

Theo PGS.TS Vũ Cao Đàm, “Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên

cứu khoa học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ

Trang 29

nghiên cứu Nhóm nghiên cứu có thể là một (01) người hoặc nhiều hơn một (01) người Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, có thể chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế”

Theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13, đề tài KH&CN là nhiệm vụ

KH&CN có nội dung chủ yếu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn, bao gồm đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp nghiên cứu

cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm Dự án sản xuất thử

nghiệm là nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và

triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện

công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh

tế và xã hội Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu

đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn lực

Một dự án là một chuỗi những hành động nhằm thực hiện được những mục tiêu rõ ràng đã được xác định trước trong một khoảng thời gian xác định

và với một nguồn ngân sách xác định

Một dự án phải có:

+ Các bên liên quan phải xác định rõ ràng, bao gồm các nhóm mục tiêu

cơ bản và những lợi ích tài chính;

+ Có sự điều phối, quản lý và sắp xếp tài chính rõ ràng;

+ Một hệ thống đánh giá và kiểm tra (để hỗ trợ việc quản lý);

+ Một cấp độ phân tích kinh tế và tài chính thích hợp, để từ đó xác định được lợi nhuận thu được sẽ vượt quá chi phí ban đầu

Trang 30

ĐT/DA khoa học hướng kết quả của nó vào việc nghiên cứu, triển khai

và áp dụng Đề tài khoa học hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, còn dự án thiên về cách hiểu là sự hiện thực hóa trong hoạt động thực tế

Một ĐT/DA khoa học nói chung phải đặc trưng ở những đặc điểm sau: + Có tính cấp thiết

+ ĐT/DA phải có ý nghĩa khoa học thể hiện ở những đóng góp vào nội dung lý thuyết khoa học nhằm bổ sung, nhận thức về một vấn đề khoa học, phát hiện ra các quy luật đang tồn tại

+ Có ý nghĩa thực tiễn, tính khả thi, tính ứng dụng và tính phù hợp

1.1.5 Khái niệm “Chương trình KH&CN”

Theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13, Chương trình KH&CN là nhiệm

vụ KH&CN có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề KH&CN phục vụ phát triển và ứng dụng KH&CN trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài KH&CN, dự án SXTN, dự án KH&CN

Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước

Bộ KH&CN đã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thông qua các Chương trình KH&CN cấp nhà nước qua các kỳ kế hoạch 05

năm Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước là hệ thống đồng bộ

các nhiệm vụ KH&CN (ĐT/DA cấp nhà nước ) và các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu và giải quyết những vấn đề KH&CN quan trọng nhất trong các lĩnh vực KH&CN ưu tiên của chiến lược phát triển KH&CN đất nước [32]

(Danh mục các Chương trình KH&CN từ năm 2001 đến nay - Phụ lục kèm theo)

Trang 31

1.1.6 Khái niệm “Tuyển chọn” và “xét chọn” tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện ĐT/DA

Theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13, Tuyển cho ̣n thực hiện nhiệm vụ

KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước là việc xác định tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN va phải bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, hiệu quả Việc tuyển chọn phải đảm bảo công khai, công bằng, dân chủ, khách quan

“Xét chọn (giao trực tiếp) là việc chỉ định tổ chức, cá nhân có đủ năng

lực, phẩm chất, điều kiện và chuyên môn phù hợp để thực hiện ĐT/DA đặc thù theo đặt hàng của nhà nước Xét chọn (giao trực tiếp) áp dụng đối với ĐT/DA thuô ̣c bí mâ ̣t quốc gia , đă ̣c thù của an ninh , quốc phòng; ĐT/DA cấp bách phục vụ phát triển KT-XH, bảo đảm an sinh xã hội; ĐT/DA mà nội dung chỉ có một tổ chức hoặc cá nhân có đủ điều kiện về chuyên môn, trang thiết bi ̣

để thực hiện” [10]

1.1.7 Hợp tác và cạnh tranh trong nghiên cứu khoa học:

Hợp tác và cạnh tranh trong NCKH vừa là nguyên nhân vừa là động lực thúc đẩy khoa học phát triển Sự hợp tác trong NCKH tạo điều kiện thu hút được trí tuệ của nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức trong quá trình nghiên cứu, vì thế có thể đem lại kết quả nhanh chóng và hiệu quả hơn; điều này có lợi cho toàn xã hội cả về thời gian và tiền bạc… Cạnh tranh trong NCKH một cách lành mạnh cũng tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của sản phẩm khoa học Ngược lại sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong NCKH có thể dẫn tới sự đố kỵ, bất hợp tác hoặc phá hoại thành quả nghiên cứu của người khác, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học Đây là điều cần được pháp luật ngăn cấm và dư luận xã hội lên án

Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay, việc hợp tác và cạnh tranh trong NCKH không chỉ diễn

ra trong phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trong phạm vi quốc tế Điều này có

Trang 32

ý nghĩa hết sức quan trọng thúc đẩy khoa học phát triển, đồng thời cũng làm cho sự cạnh tranh trong NCKH ngày càng trở nên gay gắt Mặt khác sự phát triển của thế giới hiện nay cũng đòi hỏi trên nhiều lĩnh vực phải thực hiện hợp tác, liên kết khả năng NCKH của nhiều nước mới có thể giải quyết có hiệu quả như giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, thiên tai… trên toàn thế giới

Trang 33

1.2 Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng, xét chọn và quản lý các nhiệm vụ KH&CN

1.2.1 Tại Hoa Kỳ

a Quản lý nhà nước về KH&CN:

Hoa Kỳ không có Bộ chuyên biệt quản lý nhà nước về KH&CN mà chỉ

có Văn phòng Chính sách KH&CN trực thuộc Tổng thống được thành lập năm 1976 Văn phòng này, đứng đầu bởi Trợ lý Tổng thống về KH&CN, có vai trò tư vấn cho Nội các về chính sách phát triển KH&CN, đồng thời điều phối hoạt động giữa các cơ quan chính phủ trong việc triển khai chính sách và ngân sách KH&CN

b Ngân sách nhà nước dành cho KH&CN hàng năm:

Hoạt động và ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu và phát triển được thực hiện và phân bổ trực tiếp đến 24 Bộ hoặc cơ quan độc lập của Chính phủ, lớn nhất là Bộ Quốc phòng (chiếm gần 50% tổng kinh phí), sau đó

là Viện Y tế Quốc gia, Bộ Năng lượng, NASA, Quỹ Khoa học Quốc gia, Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp,…

Việc phân bổ kinh phí cho các cơ quan này được Quốc hội thực hiện trực tiếp căn cứ trên tình hình chung của Ngân sách Liên bang, các ưu tiên của Chính phủ và báo cáo hoạt động của từng cơ quan (được gửi trực tiếp lên Quốc hội)

Cụ thể kinh phí được cấp cho từng cơ quan trong năm 2014 như sau:

Trang 34

Biểu đồ 1: Kinh phí được cấp cho từng cơ quan tại Hoa Kỳ trong năm 2014

c Xác định, xét chọn nhiệm vụ KH&CN:

Hàng năm, dựa trên thông báo về các định hướng nghiên cứu ưu tiên của ngân sách do Giám đốc Văn phòng Chính sách KH&CN và Giám đốc Văn phòng Quản lý và Ngân sách của Tổng thống cùng ký, các Bộ và cơ quan chính phủ liên quan xác định các lĩnh vực và nhiệm vụ nghiên cứu ưu tiên để mời các tổ chức, cá nhân đăng ký nhiệm vụ Để xác định lựa chọn ưu tiên cụ thể mời các tổ chức cá nhân đăng ký, các Bộ và cơ quan chinh phủ ngoài việc căn cứ vào các định hướng nghiên cứu ưu tiên quốc gia nêu trên căn cứ vào chức năng nghiên cứu chuyên ngành đước đảm nhận căn cứ vào nhu cầu thực

tế để hình thành các chương trình nghiên cứu ưu tiên cụ thể, ví dụ trong nông nghiệp để xác định và lựa chọn đề xuất các chương trình nghiên cứu ưu tiên đều phải căn cứ các ý kiến tư vấn, tích hợp phân tích từ các đề xuất từ: nhu cầu đặt hàng của xã hội, của các đối tác, các cổ đông, các đề xuất của cộng đồng các nhà khoa học, các đề xuất của các tổ chức của các nhà khoa học và nhà quản lý

Trang 35

Có một điểm đáng lưu ý là ở Hoa Kỳ, các nhiệm vụ KH&CN không được phê duyệt liên tục trong năm mà được chia thành 03 chu kỳ (với hạn cuối nộp đề xuất là tháng 4, tháng 8 và tháng 12) Thông thường, mất khoảng

10 tháng từ khi các cơ quan tài trợ mời gửi đề xuất đến khi nhiệm vụ được cấp kinh phí

Trong trường hợp cần thực hiện nhiệm vụ KH&CN để giải quyết các vấn

đề đột xuất phát sinh (như trường hợp dịch SARS hay siêu bão Sandy), đại diện Viện Y tế Quốc gia (NIH) cho biết, khi đó NIH sẽ liên hệ với những cá nhân đang thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có nội dung tương tự, khuyến khích và cho phép họ điều chỉnh nội dung và kinh phí nghiên cứu để giải quyết vấn đề vừa mới phát sinh

d Phân loại nhiệm vụ:

Tất cả các nhiệm vụ KH&CN của Hoa Kỳ được đánh giá dựa trên giá trị học thuật (intellectual merit) và tác động xã hội (broader impacts), chứ không được phân loại thành các nhiệm vụ KH&CN các cấp như ở Việt Nam Việc coi các nhiệm vụ KH&CN đều bình đẳng với nhau về cấp hành chính giúp giảm thiểu được nhiều công việc liên quan (định nghĩa, phân loại và xây dựng các quy định quản lý riêng cho từng loại hình nhiệm vụ), đồng thời các quy định cũng đơn giản, dễ hiểu đối với cả nhà quản lý và các nhà khoa học Hồ

sơ thuyết minh nhiệm vụ đăng ký kèm theo dự toán (đề cương) đều có quy định cụ thể về số trang tổng thể và số trang cho từng phần (nội dung) của thuyết minh, nếu quá số trang thì từ trang vượt quá quy định sẽ không được xem xét

e Xây dựng dự toán:

* Các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ không cho phép đưa tiền lương của những người tham gia nghiên cứu vào dự toán nhiệm vụ KH&CN nếu những người này đang được hưởng lương của một cơ quan khác Trong trường hợp

cá nhân tham gia nghiên cứu không được hưởng đủ 12 tháng lương tại cơ

Trang 36

quan nơi mình công tác (ví dụ giảng viên của các trường đại học chỉ được nhận lương cho 9 tháng giảng dạy tại trường), họ có thể đề xuất được hưởng lương những tháng còn lại từ việc thực hiện nhiệm vụ, nhưng không được quá

3 tháng lương/năm Quy định này dựa trên nguyên tắc một người không thể làm nhiều hơn 100% năng lực của mình Tức là mỗi nhà khoa học chỉ được trả tối đa 12 tháng lương cho tất cả các hoạt động chuyên môn, bao gồm cả giảng dạy và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu

Nếu được đưa vào dự toán kinh phí, chi phí cho tiền lương sẽ bằng số tháng (tối đa 3) nhân với tiền lương thực tế mà cá nhân hiện được hưởng

* Các cơ quan tài trợ cho việc nghiên cứu KH&CN Hoa Kỳ không đưa

ra định mức tài chính hoặc định mức kinh tế - kỹ thuật nào đối với các loại hình nhiệm vụ KH&CN Nhà khoa học được quyền chủ động đề xuất những khoản chi để thực hiện nhiệm vụ (lương, thiết bị, nguyên vật liệu, chi phí đi lại dự hội nghị, hội thảo,…) mà không phải tuân thủ một định mức cố định nào Hội đồng tư vấn xét chọn nhiệm vụ có trách nhiệm xem xét sự phù hợp của các nội dung và định mức chi này Trong trường hợp nhận thấy những chi phí này là không hợp lý, hội đồng sẽ bác bỏ đề xuất thực hiện nhiệm vụ Khi đó, cá nhân đề xuất nhiệm vụ sẽ phải đợi 1 đợt xét chọn khác để nộp lại

hồ sơ (một nhiệm vụ được đề xuất tối đa 3 lần, nhưng không được cùng một chu kỳ xét chọn)

* Một tỉ lệ nhất định của kinh phí được dành để trả cho tổ chức chủ trì: Nếu đề xuất nhiệm vụ được xét chọn, tổ chức nơi cá nhân chủ trì nhiệm

vụ đang công tác sẽ đứng ra ký hợp đồng với cơ quan tài trợ, đồng thời sẽ tiếp nhận và quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ, bao gồm toàn bộ công tác tài chính (kế toán, quyết toán, kiểm toán) Một tỉ lệ nhất định kinh phí sẽ được trả cho tổ chức chủ trì để chi trả cho các hoạt động quản lý hành chính, cho việc

sử dụng cơ sở vật chất và lợi nhuận của tổ chức Tỉ lệ này do tổ chức chủ trì thoả thuận và thống nhất với cơ quan tài trợ, thông thường khoảng 20-30%

Trang 37

cơ sở dữ liệu về chuyên gia KH&CN cũng như cơ sở dữ liệu của các nhiệm

vụ KH&CN đã được thực hiện

Các thành viên hội đồng phải cam kết không có mối liên hệ cá nhân nào với tất cả chủ trì nhiệm vụ được đề xuất Nếu có phải thông báo cho cơ quan quản lý để thay thế bằng người khác Các thành viên hội đồng cũng phải cam kết giữ kín toàn bộ nội dung và kết quả phiên họp sau khi ra khỏi phòng họp

g Thẩm quyền phê duyệt và điều chỉnh nhiệm vụ:

Sau khi xem xét, hội đồng tư vấn xét chọn sẽ xếp thứ tự ưu tiên và trình danh sách để Vụ trưởng hoặc Trưởng ban phụ trách lĩnh vực của cơ quan tài trợ phê duyệt, căn cứ vào lượng kinh phí còn lại được phân bổ cho từng Vụ/Ban

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu cần điều chỉnh nội dung chi theo tình hình thực tế, cá nhân chủ trì nhiệm vụ trao đổi và thống nhất với

Trang 38

chuyên viên quản lý chương trình, đồng thời thể hiện trong báo cáo kết quả hàng năm gửi về cơ quan tài trợ Chuyên viên phụ trách chương trình là người duy nhất có thẩm quyền phê duyệt các thay đổi liên quan đến nội dung và kinh phí của nhiệm vụ (với điều kiện không làm thay đổi tổng kinh phí)

h Quản lý thực hiện nhiệm vụ:

Thông thường, chủ trì đề tài được yêu cầu gửi báo cáo mỗi năm một lần

về cơ quan tài trợ Đây là cơ sở để các nhà quản lý nắm được tiến độ và kết quả của nhiệm vụ Các báo cáo này cũng được sử dụng trong quá trình xem xét các hồ sơ xin tài trợ trong tương lai của chủ nhiệm đề tài

i Trong việc sử dụng hạ tầng nghiên cứu quốc gia:

Để được sử dụng cơ sở hạ tầng nghiên cứu quốc gia (các phòng thí nghiệm lớn, các siêu máy tính, máy gia tốc, ), các nhà nghiên cứu phải nộp

hồ sơ cho cơ quan quản lý cơ sở nghiên cứu đó để được xem xét, tương tự như đối với quá trình nộp hồ sơ xin tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN

k Về Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia (NAS):

Có một điểm đáng lưu ý là hệ thống Viện Hàn lâm Hoa Kỳ, bao gồm Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia (NAS), Viện Hàn lâm công nghệ quốc gia (NAE), Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC) và Viện Y học (IOM), đều không nhận được kinh phí hoạt động từ Chính phủ, kể cả thông qua các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng Mặc dù được thành lập từ cách đây đúng 150 năm bởi Tổng thống Lincoln với điều lệ ghi rõ “tư vấn cho quốc gia về khoa học, kỹ thuật và y học”, nhưng toàn bộ kinh phí hoạt động của Viện Hàn lâm phải do Viên tự đảm bảo thông qua các hợp đồng nghiên cứu với các cơ quan của Chính phủ và các cơ quan độc lập khác Tổng cộng có gần 500 nhà khoa học được giải Nobel là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa

học Quốc gia [Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước, Báo

cáo công tác đoàn ra Mỹ, 2013]

Trang 39

1.2.2 Tại Cộng hòa liên bang Nga:

Hiện tại các nhiệm vụ KH&CN tại Nga không được xây dựng một cách

cụ thể với tên gọi, mục tiêu và các yêu cầu cụ thể như ở Việt Nam Những định hướng cho các vấn đề nghiên cứu được nhà nước xây dựng dựa trên

một số lĩnh vực ưu tiên như: công nghệ Nano, công nghệ thông tin, sử dụng

hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, khoa học sự sống… Các nhiệm vụ KH&CN được thực hiện từ nghiên cứu cơ bản đến triển khai ứng dụng qua 05 giai đoạn:

- Tổng quan kiến thức

- Sản xuất thử nghiệm

- Thương mại hóa công nghệ

- Huy động vốn đầu tư cho các đơn vị triển khai ứng dụng

- Giới thiệu, quảng bá sản phẩm, công nghệ

Mục tiêu, nội dung và các kết quả đạt được do các chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì tự đề xuất và được xem xét đánh giá thông qua quy trình tuyển/xét chọn

Bộ Khoa học và Giáo dục phê duyệt danh mục các nhiệm vụ theo đề xuất của Hội đồng tư vấn KH&CN quốc gia, sau đó thành lập các Ủy ban điều phối theo những lĩnh vực ưu tiên trên

Tổng cục khoa học là cơ quan tiếp nhận danh mục đặt hàng, thông báo nhận hồ sơ… Các Ủy ban điều phối cung cấp tiêu chí đánh giá và triển khai tuyển/xét chọn các ĐT/DA

1.2.3 Tại Australia và New Zealand:

Kinh phí cho nghiên cứu được cấp từ hai nguồn: nhà nước và tư nhân, kinh phí này được giao cho các Quỹ nghiên cứu KH&CN quản lý

Quỹ nghiên cứu KH&CN là cơ quan hoạt động độc lập chuyên làm nhiệm vụ “đặt hàng” và “mua” kết quả nghiên cứu của các viện, trường, Quỹ

Trang 40

được tổ chức dưới hình thức như một quỹ đầu tư do Ban quản lý quỹ bao gồm đại diện của nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ KH&CN) và đại diện của tổ chức ứng dụng tiến bộ KH&CN (các doanh nghiệp đóng thuế KH&CN)

Dưới Ban quản lý quỹ là Tổng giám đốc điều hành (CEO) chịu trách nhiệm quản lý, điều hành quỹ và chịu trách nhiệm tổ chức đấu thầu tuyển chọn, đặt hàng nghiên cứu, xét chọn các ĐT/DA… các đơn đặt hàng không triển khai dưới dạng ĐT/DA như ở Việt Nam mà được xây dựng thành các Chương trình dài hạn từ 03 năm đến 05 năm, xây dựng từ ý tưởng ban đầu đến sản phẩm cuối cùng để đưa vào ứng dụng sản xuất

Chính phủ theo định kỳ đưa ra định hướng phát triển kinh tế - xã hội, theo

đó các Bộ xây dựng mục tiêu, chiến lược cho ngành, các cơ quan cấp vốn có trách nhiệm xây dựng các Chương trình nghiên cứu triển khai cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực, sắp xếp thứ tự ưu tiên cho cả nước, từng địa phương

Các tổ chức KH&CN (các viện, trường…) theo định hướng và yêu cầu của Bộ, ngành; so sánh với lợi thế của mình chủ động đề xuất, xây dựng thuyết minh nghiên cứu và tham gia đấu thầu cạnh tranh

Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thường kéo dài 3-5 năm với mục tiêu, giải pháp và sản phẩm cụ thể Thuyết minh được Ban Quản lý quỹ thông qua và hàng năm có báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện

Phương thức xác định và lựa chọn đề tài nghiên cứu ở trên giúp tránh được sự chồng chéo giữa các cơ quan cấp vốn, đảm bảo sự chủ động và thích ứng của các tổ chức KH&CN, định hướng được các hoạt động nghiên cứu theo chương trình lớn từ trên xuống dưới và tạo ra những sản phẩm cụ thể

* Qua kinh nghiệm quốc tế về việc xây dựng, xét chọn và quản lý các nhiệm vụ KH&CN cho thấy phương thức xác định, xét chọn các nhiệm vụ KH&CN theo các hướng nghiên cứu ưu tiên được thực hiện ở nhiều quốc gia, tiến hành rất công phu bài bản theo quy trình và phương pháp khoa học, với

sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học, các tổ chức, các cơ quan quản lý

Ngày đăng: 20/08/2015, 10:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Số lượng đề xuất và nhiệm vụ KH&CN được xây dựng - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 1 Số lượng đề xuất và nhiệm vụ KH&CN được xây dựng (Trang 56)
Bảng 2: Số lượng đề xuất và các nhiệm vụ KH&CN (đầu bài) được xây - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 2 Số lượng đề xuất và các nhiệm vụ KH&CN (đầu bài) được xây (Trang 59)
Bảng 3 : Số nhiệm vụ có nhiều hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn, năm 2002. - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 3 Số nhiệm vụ có nhiều hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn, năm 2002 (Trang 61)
Bảng 5: Một số nhiệm vụ KH&CN (đầu bài) được công bố tuyển/xét chọn trong giai đoạn 2011-2015 - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 5 Một số nhiệm vụ KH&CN (đầu bài) được công bố tuyển/xét chọn trong giai đoạn 2011-2015 (Trang 65)
Bảng 6: Số lượng điều chỉnh của các ĐT/DA thuộc các Chương trình - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 6 Số lượng điều chỉnh của các ĐT/DA thuộc các Chương trình (Trang 66)
Bảng 7 : Thời gian để tổ chức, cá nhân chuẩn bị hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn ĐT/DA - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 7 Thời gian để tổ chức, cá nhân chuẩn bị hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn ĐT/DA (Trang 71)
Bảng 8: Một số hồ sơ bị loại do “lỗi hành chính” - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 8 Một số hồ sơ bị loại do “lỗi hành chính” (Trang 74)
Bảng 9: Số lượng hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn đáp ứng các điều kiện - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 9 Số lượng hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn đáp ứng các điều kiện (Trang 75)
Bảng 11: Số lượng HĐ tuyển/xét chọn được thành lập qua từng giai đoạn - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 11 Số lượng HĐ tuyển/xét chọn được thành lập qua từng giai đoạn (Trang 80)
Bảng 12: Số lượng HĐ có cùng một (01) Chủ tịch HĐ và Chủ tịch HĐ đã về hưu - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 12 Số lượng HĐ có cùng một (01) Chủ tịch HĐ và Chủ tịch HĐ đã về hưu (Trang 82)
Bảng 13: Định mức chi cho các thành viên HĐ tư vấn tuyển/xét chọn - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 13 Định mức chi cho các thành viên HĐ tư vấn tuyển/xét chọn (Trang 83)
Bảng 14 : Tiêu chí đánh giá hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 14 Tiêu chí đánh giá hồ sơ đăng ký tuyển/xét chọn ĐT/DA cấp nhà (Trang 86)
Bảng 15: Tiêu chí đánh giá Thuyết minh đề tài giai đoạn 2006-2010                                                                     (tại Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày 11/5/2007 - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 15 Tiêu chí đánh giá Thuyết minh đề tài giai đoạn 2006-2010 (tại Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày 11/5/2007 (Trang 88)
Bảng 17: Số nhiệm vụ được phê duyệt và số nhiệm vụ dừng trong quá - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 17 Số nhiệm vụ được phê duyệt và số nhiệm vụ dừng trong quá (Trang 90)
Bảng 18: Tiêu chí đánh giá Thuyết minh Đề tài tại Thông tư số 08/2012/TT- - Nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình tuyển xét chọn các đề tài dự án thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 2015
Bảng 18 Tiêu chí đánh giá Thuyết minh Đề tài tại Thông tư số 08/2012/TT- (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w