Chương I CÔNG TÁC XÃ HỘI LÀ MỘT KHOA HỌC I. Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội cũng như bất kỳ môn khoa học nào, nó không xuất hiện ngay một lúc dưới dạng hoàn chỉnh với một hệ thống khái niệm, quy luật, nguyên lý và phương pháp của nó. Vì vậy để hiểu và trả lời được câu hỏi công tác xã hội là gì? Thì cho tới nay đã có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về nó. Theo F.LuLu Pablo Bộ trưởng bộ xã hội Philippin, chuyên gia tư vấn cho dự án “ Tư pháp vị thành niên” của Radda Barnen: công tác xã hội vừa là một nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, là một nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của cộng đồng và để đạt được những mối quan hệ thoả đáng về cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội như: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, tổ chức cộng đồng, quản lý xã hội và nghiên cứu. Theo Foundation of Social Work Practice ( Cơ sở thực hành công tác xã hội): công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn của họ và đạt được vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội. Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh, nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn cho công tác xã hội và xây dựng những kĩ năng chuyên môn hoá. Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh giảng viên trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh: công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ. Qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao bởi người làm công tác xã hội phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình…Công tác xã hội không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người. Đó là an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ, nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cho cộng đồng, xã hội. Theo Joanf Robertson – chủ nhiệm khoa công tác xã hội trường Đại học Wisconsin – Hoa Kỳ: công tác xã hội là một quá trình giải quyết vấn đề hợp lý nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội. Theo NASW tổ chức quốc tế phục vụ cộng đồng, gia đình và tổ chức tình nguyện Liên Hợp Quốc: công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp, nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân. Theo ISSWLiên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (tại đại hội Montrean tháng 72000): công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận dụng các lí thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề. Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc: công tác xã hội là 1 sự nghiệp và môn khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng với các chức năng xã hội. Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc đẩy sự phát triển ổn định của xã hội thông qua phục vụ xã hội và quản lí xã hội . Theo Crouch.R.C: Công tác xã hội là sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương tiện sinh tồn biết tiếp cận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thể được. Theo từ điển xã hội học: công tác xã hội là một dịch vụ đã chuyên môn hoámột việc giúp đỡ có tính cá nhân để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt. Với quan niệm phong phú về nội dung công tác xã hội như vậy mà việc nêu lên một định nghĩa thật hoàn chỉnh, chính xác về công tác xã hội không phải là đơn giản. Tuy nhiên, có thể tóm tắt nội dung khái niệm công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là một nghề, một dịch vụ xã hội cung ứng cho cá nhân, gia đình cá nhân ấy, cho 1 nhóm người, một cộng đồng khi gặp khó khăn mà tự họ không tìm ra lối giải quyết. Công tác xã hội với trọng tâm là làm giảm bớt các vấn đề trong quan hệ của con người, là làm phong phú thêm cho cuộc sống thông qua mối quan hệ tương tác đã được cải thiện. Nó tìm cách làm tăng chức năng xã hội của các cá nhân đơn lẻ hoặc trong các nhóm thông qua các hoạt động hướng vào mối quan hệ hình thành sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường. Dịch vụ xã hội này (công tác xã hội) cung ứng thông tin, tài liệu, sự hỗ trợ tinh thần và các kĩ năng chuyên môn thông qua sự quan tâm giữa người và người nhằm giúp đối tượng có thêm khả năng, điều kiện và hoàn cảnh để họ tự cải thiện cuộc sống của chính mình. Nhân viên công tác xã hội với các kĩ năng được đào tạo về chuyên môn và các kinh nghiệm nghề nghiệp là người trực tiếp làm việc để đạt được các mục đích được định rõ và do nghề công tác xã hội đặt ra bằng cách vận dụng các phương pháp, kĩ năng cơ bản trong công tác xã hội để làm cho đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu, giải quyết điều chỉnh những vấn đề đang đặt ra của mình cho phù hợp với sự thay đổi mô hình xã hội. Từ định nghĩa trên có thể thấy công tác xã hội chính là một khoa học, một nghề và đối tượng của nó chính là các hoạt động xã hội đặc thù nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái, đồng thời chính họ tự vươn lên để giải quyết các vấn đề đã và đang đặt ra của mình, từ đó hoà nhập với cộng đồng xã hội.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC- BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TS MAI THỊ KIM THANH
NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(SOCIAL WORK)
Trang 2Chương I CÔNG TÁC XÃ HỘI LÀ MỘT KHOA HỌC
I Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội cũng như bất kỳ môn khoa học nào, nó không xuất hiện ngay một lúc dưới dạng hoàn chỉnh với một hệ thống khái niệm, quy luật, nguyên lý và phương pháp của nó Vì vậy để hiểu và trả lời được câu hỏi công tác xã hội là gì? Thì cho tới nay đã có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về nó
Theo F.LuLu Pablo - Bộ trưởng bộ xã hội Philippin, chuyên gia tư vấn
cho dự án “ Tư pháp vị thành niên” của Radda Barnen: công tác xã hội vừa là
một nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, là một nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của cộng đồng và để đạt được những mối quan hệ thoả đáng về cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội như: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, tổ chức cộng đồng, quản lý xã hội và nghiên cứu
Theo Foundation of Social Work Practice ( Cơ sở thực hành công tác xã hội): công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn của họ và đạt được vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh, nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn cho công tác xã hội và xây dựng những kĩ năng chuyên môn hoá
Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh - giảng viên trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh: công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn
đề đời sống của họ Qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi,
Trang 3bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao bởi người làm công tác xã hội phải làm việc với nhiều vấn
đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình…Công tác xã hội không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Đó là
an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn
đề đời sống cụ thể của họ, nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cho cộng đồng, xã hội
Theo Joanf Robertson – chủ nhiệm khoa công tác xã hội trường Đại học Wisconsin – Hoa Kỳ: công tác xã hội là một quá trình giải quyết vấn đề hợp
lý nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội
Theo NASW - tổ chức quốc tế phục vụ cộng đồng, gia đình và tổ chức tình nguyện Liên Hợp Quốc: công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp, nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo
ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân
Theo ISSW-Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (tại đại hội Montrean tháng 7/2000): công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lí thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của
họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc: công tác xã hội là 1 sự nghiệp và môn khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết
và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng với các chức năng
xã hội Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã
Trang 4hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc đẩy sự phát triển ổn định của xã hội thông qua phục vụ xã hội và quản lí xã hội
Theo Crouch.R.C: Công tác xã hội là sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương tiện sinh tồn biết tiếp cận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thể được
Theo từ điển xã hội học: công tác xã hội là một dịch vụ đã chuyên môn hoá-một việc giúp đỡ có tính cá nhân để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt
Với quan niệm phong phú về nội dung công tác xã hội như vậy mà việc nêu lên một định nghĩa thật hoàn chỉnh, chính xác về công tác xã hội không phải là đơn giản Tuy nhiên, có thể tóm tắt nội dung khái niệm công tác xã hội như sau:
Công tác xã hội là một nghề, một dịch vụ xã hội cung ứng cho cá nhân, gia đình cá nhân ấy, cho 1 nhóm người, một cộng đồng khi gặp khó khăn mà
tự họ không tìm ra lối giải quyết.
Công tác xã hội với trọng tâm là làm giảm bớt các vấn đề trong quan hệ của con người, là làm phong phú thêm cho cuộc sống thông qua mối quan hệ tương tác đã được cải thiện Nó tìm cách làm tăng chức năng xã hội của các
cá nhân đơn lẻ hoặc trong các nhóm thông qua các hoạt động hướng vào mối quan hệ hình thành sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường
Dịch vụ xã hội này (công tác xã hội) cung ứng thông tin, tài liệu, sự hỗ trợ tinh thần và các kĩ năng chuyên môn thông qua sự quan tâm giữa người
và người nhằm giúp đối tượng có thêm khả năng, điều kiện và hoàn cảnh để
họ tự cải thiện cuộc sống của chính mình
Nhân viên công tác xã hội với các kĩ năng được đào tạo về chuyên môn và các kinh nghiệm nghề nghiệp là người trực tiếp làm việc để đạt được các mục đích được định rõ và do nghề công tác xã hội đặt ra bằng cách vận dụng các phương pháp, kĩ năng cơ bản trong công tác xã hội để làm cho đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu, giải quyết điều chỉnh những vấn đề
Trang 5Từ định nghĩa trên có thể thấy công tác xã hội chính là một khoa học, một nghề và đối tượng của nó chính là các hoạt động xã hội đặc thù nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái, đồng thời chính họ tự vươn lên để giải quyết các vấn đề đã và đang đặt
ra của mình, từ đó hoà nhập với cộng đồng xã hội
II Phân biệt công tác xã hội với công tác từ thiện, cứu trợ xã hội, bảo
đảm xã hội
II.1 Phân biệt Công tác xã hội với công tác từ thiện
Công tác xã hội với công tác từ thiện về mặt hình thức là hai hoạt động cùng có những khiá cạnh giống nhau đó là xuất phát từ lòng nhân đạo, lòng thương người và cùng giúp những người trong hoàn những cảnh đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, giữa chúng đều có những khác nhau về căn bản do xuất phát từ những mục đích, cách tiếp cận cũng như phương pháp làm việc
Về động cơ: Nếu như công tác từ thiện, động cơ của họ khi làm có thể
xuất phát từ cá nhân, từ nhu cầu tâm lý muốn tự khẳng định, bù đắp muốn tạo uy tín, cũng có thể là mang một màu sắc tôn giáo nào đó như làm phúc,
để đức cho con cháu, hoặc cũng có thể là muốn che giấu một điều gì đó… thì
ở công tác xã hội, động cơ của nó khác hẳn, vơi quan niệm cho rằng đây là một nghề phi lợi nhuận nên ở đây đối tượng và lợi ích của họ chính là mối quan tâm hàng đầu duy nhất
Về mục đích: Do xuất phát từ động cơ cho rằng đối tượng và lợi ích của họ
chính là mối quan tâm hàng đầu duy nhất nên mục đích của công tác xã hội chính là giúp đối tượng có vấn đề phát huy tiềm năng của chính họ để họ tự vươn lên ở đây, vấn đề của đối tượng sẽ được giải quyết tận gốc và toàn diện Trong khi đó hoạt động của công tác từ thiện chỉ là phân phối viện trợ của một cá nhân hay tổ chức nào đó, đấy là một hoạt động thường để giải quyết những vấn đề mang tính cấp bách như lũ lụt, thiên tai, hoả hoạn… vì thế nó không đáo tứng được nhu cầu của đối tượng
Trang 6Về phương pháp: do công tác xã hội là một khoa học nên phương pháp
được thực hiện trong công tác xã hội chính là dựa vào những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã học được từ trường lớp và từ thực tiễn, mà nhân viên
xã hội thực thi để giúp đỡ đối tượng, trong khi ở công tác từ thiện chỉ là những hoạt động phân bổ mang tính chu kỳ
Về mối quan hệ: Với quan điểm nghề nghiệp của ngành là những quan
điểm về con người, về mục đích cho sự an sinh cỉa họ và những biện pháp đi đến mục đích đó mà trong quan hệ vớu đối tượng, mối quan hệ của người nhân viên xã hội với đối tượng trong công tác xã hội là mối quan hệ bình đẳng, mật thiết, tôn trọng ở đây nhân viên xã hội tìm hiểu nhu cầu của đối tượng, dùng những kiến thức, kỹ năng của mình phát huy tiềm năng của đối tượng Làm cùng và làm với họ Tôn trọng và khuyến khích đối tượng tự chủ động tham gia cũng như tự quyết lấy những vấn đề của chính mình Trong khi đó ở hoạt động từ thiện, mối quan hệ này khác hẳn, nó là mối quan hệ nhất thời, từ trên xuống, thậm chí có khi mang tính ban ơn ở đây người giúp
đỡ chủ động quyết định, áp đặt có khi làm thay cho đối tượng, còn đối tượng thụ động ngồi chờ
Về kết quả: Xuất phát từ động cơ, mục đích, phương pháp và mối quan hệ
khác nhau mà kết quả của hai hoạt động này khác hẳn nhau Trong khi ở hoạt động công tác xã hội, vấn đề cốt lõi được giải quyết Đối tượng có thể tự đứng vững trên đôi chân của chính mình sau khi được giúp thì ở hoạt động
từ thiện việc giúp đỡ này chỉ mang tính chất xoa dịu nhất thời, nhu cầu chính vẫn chưa giải quyết được,thậm chí đối tượng còn mang tính ỉ lại, chờ đợi
II.2 Phân biệt Công tác xã hội với Cứu trợ xã hội
Nếu như công tác xã hội là một nghề, một dịch vụ xã hội cung ứng cho cá nhân, gia đình cá nhân ấy, cho một nhóm người, một cộng đồng khi gặp khó khăn mà tự họ không tìm ra lối giải quyết thì cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của
Trang 7hình thức khác nhau cho các thành viên của xã hội khi họ gặp những khó khăn, rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống hoặc do những nguyên nhân khác nhau dẫn đến mất một phần hoặc toàn bộ thu nhập, tài sản… nhằm tạo điều kiện để
họ có thể vuợt qua khó khăn, đảm bảo cho cuộc sống, sinh hoạt, tự mình vươn lên hoà nhập trở lại với cộng đồng và xã hội
Cứu trợ xã hội bao gồm: cứu tế xã hội và trợ giúp xã hội
Cứu tế xã hội: là cứu giúp cho các thành viên của xã hội khi họ gặp những
rủi ro, bất hạnh mà cuộc sống bị đe doạ nghiêm trọng Nếu không có sự cứu
tế thì họ và gia đình có thể bị nguy hại đến cuộc sống, có thể dẫn đến cái chết ở đây, tính chất của cứu tế là mang tính tức thời, cấp cứu, đôi khi mang tính chất thường xuyên, lâu dài đặc biệt là những trường hợp như: người già
cô đơn không nơi nương tựa, người nghèo, người tàn tật - những người không có khả năng lao động, không có nguồn thu nhập để trang trải cho cuộc sống hàng ngày
Trợ giúp xã hội: là sự hỗ trợ thêm bằng tiền, hiện vật hoặc các điều kiện
vật chất, tinh thần khác của cộng đồng và xã hội cho các đối tượng khi gặp phải những khó khăn hoặc sa sút nào đó Họ có thể vẫn cố gắng để tự lo liệu cuộc sống nhưng nếu không có sự giúp đỡ thì cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn và dễ rơi vào tình cảnh bần cùng ở đây, tính chất của trợ giúp xã hội khác với cứu tế xã hội ở chỗ đối tượng có cơ hội khắc phục hoặc giảm bớt hậu quả, rủi ro, tự vươn lên đảm bảo cuộc sống của mình, sớm hoà nhập trở lại với đối tượng chung của cộng đồng Trợ giúp vừa có tính tức thời, vừa
có tính lâu dài, nhưng lâu dài là chủ yếu Trợ giúp có phạm vi hoạt động lớn hơn cứu tế xã hội
II.3 Phân biệt Công tác xã hội với Bảo đảm xã hội
Nếu như công tác xã hội với trọng tâm là làm giảm bớt các vấn đề trong quan hệ của con người, là làm phong phú thêm cho cuộc sống thông qua mối quan hệ tương tác đã được cải thiện Nó tìm cách làm tăng chức năng xã hội của
Trang 8quan hệ hình thành sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường, thì bảo đảm
xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Đây là một chính sách xã hội vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm những điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì,
ổn định và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội, mà trước hết là người lao động
Bảo đảm xã hội tập trung ở 3 lĩnh vực chủ yếu là: ưu đãi xã hội, bảo hiểm
xã hội và cứu trợ xã hội
Ưu đãi xã hội: là một chính sách có tính đặc thù của Nhà nước dành cho
các đối tượng là những người có công với đất nước như: gia đình có công với cách mạng, thương bệnh binh, liệt sĩ và thân nhân của họ…
Bảo hiểm xã hội: là một hệ thống chính sách, chế độ nhằm đảm bảo khoản
thu nhập thay thế cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn tới tình trạng bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập
từ lao động và việc làm sau khi người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trong một thời gian nhất định
Cứu trợ xã hội: là một chính sách đang được áp dụng ở các địa phương và
các nước phát triển nhằm phòng ngừa và bảo vệ những khó khăn có thể xảy ra đối với các cá nhân trong xã hội Hoạt động này bao gồm: cứu trợ tại gia, bảo vệ trẻ em bị ngược đãi, trẻ em không nơi nương tựa do Nhà nước giám hộ…
III Quan hệ giữa công tác xã hội với một số ngành khoa học xã hội khác III.1 Quan hệ Giữa Công tác xã hội với Xã hội học
Khi xem xét mối quan hệ giữa Xã hội học với Công tác xã hội, thì việc tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của mỗi ngành khoa học là cần thiết, để từ đó tìm hiểu sự giống, khác nhau giữa hai ngành khoa học này và những quan hệ giữa chúng
Xã hội học là một khoa học nghiên cứu về các quy luật và tính quy luật xã hội chung, đặc thù của sự phát triển, sự vận hành của các hệ thống xã hội xác
Trang 9biểu hiện của các quy luật đó trong hoạt động của các cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp và các dân tộc Nói cách khác, Xã hội học là một bộ môn nghiên cứu các mối quan hệ của các sự kiện, các quá trình, cơ cấu và thiết chế xã hội nhằm tìm ra logic của thực tại xã hội và sự vận động của tồn tại đó Đối tượng của Xã hội học được chia ra làm 2 cấp độ: cấp độ vi mô và cấp độ vĩ
mô Cấp độ vi mô nghiên cứu mối quan hệ của các cá nhân trong các nhóm
xã hội, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, cũng như mối quan hệ giữa các nhóm, các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng Còn cấp độ vĩ mô nghiên cứu các quy luật chung và sự đặc thù vận hành của hệ thống xã hội
Công tác xã hội cũng là một khoa học, một nghề, một hoạt động xã hội đặc thù giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng nhằm ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái và giúp họ tự vươn lên giải quyết các vấn đề đã và đang đặt ra của mình, từ đó hoà nhập với cộng đồng xã hội
Như vậy, xã hội học và công tác xã hội đều giống nhau ở chỗ: cùng quan tâm và giúp đỡ con người, nhóm, cộng đồng xã hôi, nhưng khác nhau ở chỗ: trong khi xã hội học nghiên cứu lĩnh vực xã hội của xã hội, nghiên cứu các hiện tượng xã hội, các mối quan hệ giữa các cộng đồng, giai cấp, tầng lớp xã hội và giữa các cá nhân, hay nói cách khác nó nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và xã hội( sự ảnh hưởng của con người tới xã hội và ngược lại), sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, với các cộng đồng trong các tổ chức xã hội và thông qua các tương tác, quan hệ xã hội đó tìm ra những nguyên nhân, hậu quả từ những quan hệ, tương tác trên, dự báo xu hướng những vấn đề này sẽ xảy ra trong tương lai ra sao và đưa ra các giải pháp ngăn chặn… thì công tác xã hội lại chú ý tìm hiểu những mối quan hệ tương tác của con người với nhau trong các tổ chức xã hội như thế nào? Trong những mối quan hệ tương tác đó con người bị mất mát những chức năng nào? từ đó cùng đối tượng đưa ra hướng giải quyết và khắc phục Ở đây, những cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng mà công tác xã hội quan tâm không rộng như trong xã hội học, nó chủ yếu nhằm vào những người dễ bị
Trang 10trái pháp luật, người nghèo, người hồi hương, di cư, những người bị tổn thương về mặt xã hội, người già, phụ nữ, trẻ em, người tàn tật…
Rõ ràng tính chất tổng hợp, đa diện của công tác xã hội đã làm cho nó rất gần với xã hội học về đối tượng và nội dung cùng quan tâm Tuy nhiên ở mức độ phương pháp luận cùng với hệ thống lý luận của nó như: lý thuyết vị trí, vai trò xã hội, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết giá trị - chuẩn mực… thì xã hội học được coi như nền tảng lý luận, là
cơ sở cho những thực hành công tác xã hội Về vấn đề này Giáo sư, Viện sĩ, Tiến sĩ Triết học Nga P.U Pavlenok và A.A.Akamalova cũng đã khẳng định:
“ Xã hội học trên lý thuyết là phương pháp luận đối với công tác xã hội” ở
đây, xã hội học giúp cho những người làm công tác xã hội nắm được những khái niệm trọn vẹn về xã hội con người như nó vốn có, về những đặc tính của
xã hội trong giai đoạn phát triển và chức năng hoá cụ thể của nó, về các quá trình xã hội riêng lẻ, cá biệt, các hình thức hoạt động xã hội riêng lẻ, các cộng đồng xã hội, các nhóm dân cư… Nó còn giúp những người làm công tác xã hội nắm được những kĩ năng thực tế về tổ chức, nghiên cứu, lập chương trình, các phương pháp như: phỏng vấn, tham vấn… khi thực hành nghề và giúp định hướng sự hoạt động xã hội diễn ra trong một môi trường xã hội với những thể chế, cấu trúc xã hội và những nhóm xã hội cần được bảo vệ về mặt
xã hội Ngược lại, những kiến thức và kết quả trong hoạt động công tác xã hội cũng là những minh chứng cụ thể hoá và làm sáng tỏ hơn những khái niệm hệ thống những lý thuyết trong xã hội học, những phát hiện mới mà các nhà xã hội học nghiên cứu
III.2 Quan hệ giữa Công tác xã hội với Tâm lý học
Công tác xã hội là một nghề, một dịch vụ xã hội cung ứng cho cá nhân, gia đình cá nhân ấy, cho một nhóm người, một cộng đồng khi gặp khó khăn
mà họ không tìm ra lối giải quyết Trọng tâm của nó là làm giảm bớt các vấn
đề trong quan hệ của con người, là làm phong phú thêm cho cuộc sống thông
Trang 11năng xã hội của các cá nhân đơn lẻ hoặc trong các nhóm thông qua các hoạt động hướng vào mối quan hệ hình thành sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường.
Tâm lý học là khoa học nghiên cứu về các cá nhân, về hành vi xã hội của các cá nhân, về các quy luật hình thành tâm lý( xúc cảm, tình cảm…) của con người Trong tâm lý học, người ta xem các cá thể học những kĩ năng như thế nào, nghiên cứu sự phát triển của các tâm thế ra sao?
Trong quan hệ với công tác xã hội, tâm lý học giúp những nhà làm công tác xã hội có những kiến thức trong mô tả, chuẩn đoán và dự báo tâm lý cá nhân, nhóm người, những lý thuyết như lý thuyết tâm lý học nhóm, tâm lý học giao tiếp, lý thuyết cá nhân hoá và phân hoá, lý thuyết xung đột xã hội về
cá nhân - cá nhân, cá nhân – nhóm, nhóm với nhóm và một số phương pháp trong tâm lý học như: phương pháp chuẩn đoán, tâm lý học hướng nghiệp, phương pháp hiệu chỉnh hành vi, mô típ giao tiếp, tự đánh giá…
ở đây chức năng chuẩn đoán của tâm lý học giúp những người làm công tác xã hội chuẩn đoán cá tính và phẩm chất của nó về mặt xã hội, chuẩn đoán các nhóm người va sự phát triển của họ
Trong chức năng mô tả, tâm lý học giúp những nhà làm công tác xã hội cách thức mô tả những tình tiết tâm lý – xã hội, từ đó phát hiện những vấn đề về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của công tác xã hội cũng có liên quan đến những tình tiết đã được mô tả
Trong chức năng mô tả, tâm lý học giúp những nhà làm công tác xã hội xác định được các yếu tố hình thành cá tính tương lai cũng từ các yếu tố này có thể giải quyết được nhiệm vụ phát triển cá tính về mặt xã hội, nâng con người lên mức tự bảo vệ về mặt xã hội
Trong lý thuyết tâm lý học nhóm, tâm lý học giúp những nhà làm công tác
xã hội nắm được cấu trúc của nhóm người thông qua địa vị lãnh đạo, trách nhiệm, triển vọng, hoạt động nghề nghiệp, kinh nghiệm xã hội Việc xác định cấu trúc nhóm về tâm lý học sẽ giúp những nhà làm công tác xã hội tổ chức tốt
Trang 12học giúp những nhà làm công tác xã hội nắm được kĩ năng giao tiếp để giáo dục
và phát triển cá tính Việc này tạo nên các mối quan hệ sư phạm xã hội thuận lợi cho công tác xã hội
Đóng vai trò quan trọng với công tác xã hội còn là lý thuyết xung đột xã hội về cá nhân – cá nhân, cá nhân – nhóm , nhóm với nhóm Việc phân tích tâm
lý xã hội với xung đột ( tình tiết xung đột, thái độ thái quá gây mất ổn định xã hội), việc giải quyết xung đột ( bảo đảm được tính hiệu lực trong công tác xã hội ở lý thuyết cá nhân hoá và phân hoá, những lý thuyết này giúp những nhà làm công tác xã hội nghiên cứu cá nhân với những hiện tượng tâm lý như: khí chất, tính tình, tư duy, lời nói, những phẩm chất đạo đức… và trong lý thuyết nghiên cứu về sự phân hoá có nghĩa nghiên cứu sự phân chia các nhóm xã hội khác nhau theo tiêu chí độ tuổi, học vấn, tính chất công việc( lao động nặng hay giản đơn, chân tay hay trí óc), sức khoẻ hoặc nghề nghiệp…
Trong phương pháp, tâm lý học giúp những nhà làm công tác xã hội phương pháp tâm lý hướng nghiệp ( giúp các cá nhân trong việc tự quyết lấy nghề nghiệp và phục vụ cho việc xác định lĩnh vực đào tạo lại cán bộ bổ xung vào các nhóm xã hội…), phương pháp thúch ứng tâm lý( giúp các đối tượng được bảo trợ hoà đồng vào hoạt động xã hội từ đó giúp họ hiểu rõ hơn xã hội, tự đánh giá được mình, tự thích ứng được với hoàn cảnh luôn luôn thay đổi…), phương pháp tư vấn tâm lý( giúp các kĩ năng tư vấn theo từng nhóm xã hội theo ngành nghề), phương pháp hiệu chỉnh hành vi, mô típ giao tiếp, tự đánh giá( giúp đối tượng cần được bảo trợ hiểu rõ được những thiếu sót trong cấu trúc
cá tính của bản thân, đề ra được những mâu thuẫn hành vi mới, luyện tập ứng dụng chúng rồi tổng hợp chuyển thành những thành quả tâm lý xã hội vào điều kiện sinh hoạt mới của mình…)
IV Chức năng của công tác xã hội
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về chức năng của công tác xã hội
Trang 13Theo Giáo sư, Tiến sĩ P.U.Pavlenok và các nhà khoa học Nga công tác xã hội có 13 chức năng, đó là: chức năng chuẩn đoán, dự báo, cảnh báo, phòng ngừa, bảo vệ pháp quyền, sư phạm xã hội, tâm lý, y tế xã hội, sinh hoạt xã hội, giao tiếp, tuyên truyền quảng cáo, nhân văn, tổ chức.
Theo các nhà khoa học Trung Quốc, công tác xã hội có 3 chức năng cơ bản, đó là: chức năng phục hồi, chức năng điều hoà và chức năng ổn định.Theo chúng tôi, công tác xã hội có 3 chức năng cơ bản sau: chức năng phòng ngừa, chức năng phục hồi xã hội, chức năng trị liệu và chức năng phát triển
IV.1 Chức năng phòng ngừa
Là chức năng mang tính hướng dẫn giúp đỡ mọi cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương có những chuẩn bị trước nhằm đề phòng những hậu quả, rủi ro và bất hạnh có thể xảy ra cho chính họ, gia đình họ và cộng đồng của họ
Những hình thức phòng ngừa rất đa dạng Nhân viên xã hội có thể vận dụng những cơ cấu về mặt pháp chế xã hội, cơ sỏ pháp lý, tâm lý, sư phạm, y
tế và những cơ sở khác để phòng ngừa như: trong y tế là hoạt động tiêm phòng, khám sức khoẻ định kì; trong sư phạm là các hoạt động tập huấn trang
bị kiến thức về sức khoẻ, về sức khoẻ sinh sản, về pháp luật, về trồng trọt, chăn nuôi, về các kỹ năng trong giao tiếp ứng xử…
IV.2 Chức năng chữa trị( trị liệu)
Với chức năng này, các nhân viên xã hội bằng những kiến thức, kĩ năng
và kinh nghiệm của mình giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng đã bị tổn thương tự vươn lên giải quyết những vấn đề của chính họ Chức năng này không chỉ đơn thuần là việc giúp họ tự vươn lên giải quyết các vấn đề của chính họ Chức năng này không chỉ đơn thuần là việc giúp họ tự vươn lên trong cuộc sống, mà còn ở khía cạnh khác tích cực hơn đó là tìm kiếm và khuyến khích nhằm giúp đối tượng phát huy hết khả năng vốn có của mình như: sức khoẻ, ý chí, tay nghề, phẩm chất,…- những điều mà họ không nhận
Trang 14IV.3 Chức năng phục hồi
Đây cũng là một trong những chức năng không kém phần quan trọng của công tác xã hội trong hoạt động giúp đỡ đối tượng ở đây, những người làm công tác xã hội không chỉ giúp các đối tượng phục hồi những chức năng về thể chất, mà còn phục hồi cả những chức năng về tâm lý và xã hội Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đánh tan mặc cảm, tự ti của chính họ và giúp họ nhanh chóng hoà nhập vào với cuộc sống sôi động của cộng đồng
IV.4 Chức năng phát triển
Là chức năng triển khai những tiềm năng của các cá nhân, nhóm, cộng đồng nhằm nâng cao đời sống, tăng thêm năng lực cho chính họ Trong các
xã hội phát triển, chức năng này luôn luôn được coi trọng thông qua các chương trình dạy nghề, tập huấn những kiến thức cơ bản về tâm lý học như: giao tiếp, nghe tích cực, hợp tác, quản lý… bởi đây là cách nhanh nhất để giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu
V Vài nét về sự ra đời của công tác xã hội
Công tác xã hội chuyên nghiệp( mang tính tổ chức quốc tế) ra đời tới nay chưa đầy 100 năm, song nó đã bắt nguồn từ trong lòng các xã hội cổ xưa
do trong cuộc sống con người luôn phải sống trong sự đe doạ của thiên nhiên, của chiến tranh, của nghèo đói và của bệnh tật… Với tinh thần “ lá lành đùm lá rách” con người luôn sẵn lòng giúp đỡ nhau bất kể đó là đất nước hay châu lục nào
ở Nga, Hiệp ước năm 911 do Công tước Ôlếc - đại diện nước Nga lúc bấy giờ ký kết với người Hy Lạp có nêu lên việc nuôi dưỡng người già, cứu giúp người nghèo, chăm sóc người thương tật… “ chính là văn kiện sớm nhất trên thế giới nói chung và của nước Nga nói riêng, là bằng chứng chính thức đầu tiên về sự quan tâm của Nhà nước với những công dân cần được sự trợ giúp của mình Cùng với sự tan rã của chế độ phong kiến là sự phát triển mạnh mẽ của chế độ Tư bản và Xã hội học, chính
Trang 15sách xã hội, công tác xã hội cũng chính là con đẻ cỉa quá trình vận động
về vật chất, tinh thần trong các xã hội Tây Âu và Mỹ này ở thế ký 19
ở những nước này ( Anh, Pháp, Mỹ, Đức) di ảnh hưởng của các cuộc Cách mạng Công nghiệp nên đã phải đối đầu với những vấn đề xã hội trầm trọng Sự thất nghiệp của hàng vạn công nhân khi các xí nghiệp, công xưởng, hầm mỏ bị phá sản, người lao động tại các đô thị bị thiếu ăn, nghèo đói, bệnh tật, nhà ở tồi tàn, các tệ nạn cac hội, bóc lột lao động ở trẻ
em và phụ nữ dã man, trong khi đó ở các vùng nông thôn, tình trạng này cũng không khấm khá hơn Nhiều gia đình thiếu đất canh tác do chính sách phát triển công nghiệp đã bỏ làng mạc lên những khi đô thị lớn để kiếm sống vớu đó lượng ngày càng tăng dẫn tới tình trạng quá tải ở những nơi này về cơ sở hạ tầng lẫn mức sống Tệ nạn xã hội đã nhiều lại càng gia tăng một cách nhanh chóng, mâu thuẫn giai cấp ( tư sản và vô sản) tăng lên, các cuộc xung đột vũ trang xảy ra - một tất yếu của xã hội Tư bản Trước tình trạng như vậy, nhiều chính phủ đã có cách giải quyết khác nhau thông qua các chính sách, luật lệ và đạo luật Elidabét của Anh quốc năm 1601 ra đời ( tạo công ăn việc làm cho người nghèo, người còn sức lao động, mở nhà dưỡng lão cho người già, người tàn tật, bảo trợ trẻ em
mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi bằng cách đào tạo nghề, quy định nguônf tài chính, trách nhiệm của người quản lý và đối tượng được cứu giúp…) chính là một dấu hiệu quan trọng trong lịch sử hình thành công tác xã hội như một nghề do lần đầu tiên nó là hành động cứu giúp có tính tổ chức mang tính Nhà nước bên cạnh những cải cách tôn giáo (đạo Tin lành) trong việc thúc đẩy sự quan tâm về tình trạng bần cùng hoá, về việc tiếp tục viện trợ, cứu giúp và ngăn chặn sự phụ thuộc lâu dài của người nghèo
Năm 1788, một chế độ cứu tế xã hội mới – “ chế độ Hăm- Buốc” đã được thực hiện rộng rãi ở thành phố Hăm - Buốc (Đức) Theo chế độ này, cấp thành phố có cơ cấu quản lý trung tâm, phân loại các vùng tiến hành
Trang 16Đầu thế kỉ 19 ở Mỹ, dạng công tác xã hội sơ khai được thực hiện bởi các nhà truyền giáo và tình nguyện viên - những người được gọi là “ những vị khách thân thiện – Visitors) Họ thường xuyên tuyển chọn và phân công giúp đỡ những người nghèo đói, ốm yếu, bệnh tật, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa Thông qua các “ Uỷ ban cải thiện hình thức vệ sinh” và “ Vụ giải phóng nô lệ”, các tình nguyện viên còn giúp
đỡ, chăm sóc những nô lệ vừa được giải phóng nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng xã hội
Những năm 1850-1865, thông qua các uỷ ban như : “ Uỷ ban từ
thiện quốc gia”, “ Uỷ ban từ thiện cộng đồng”, “ Uỷ ban quốc gia”…
những hoạt động khởi nguồn của công tác xã hội đã được triển khai Chẳng hạn tại Thụy Điển, công tác xã hội đã được hình thành như một nghề nghiệp từ năm 1851 khi một loạt các trại cải tạo, nhà tù, viện tâm thần, trại tế bần, trại mồ côi được xây dựng và các uỷ ban đều hoạt động nhằm hướng tới mục đích xây dựng những thiết chế duy trì trật tự, ổn định
xã hội
Những năm 1869, “ Hiệp hội các tổ chức cứu tế từ thiện và ngăn chặn ăn xin ở Luân Đôn ( Anh)” được thành lập thường gọi là “ Hiệp hội
tổ chức từ thiện Luân Đôn” ở đây, các nhà lãnh đạo đã vận dụng các triết
lý khoa học để hình thành một dạng quản lý từ thiện mới: khoa học từ thiện Có thể coi đây là bước chuyển quan trọng về nhận thức và hành động của những người tham gia công tác xã hội Về vấn đề này, James Leiby có nhận xét như sau: “ Trần tục, duy lý, thực nghiệm, đối lập với tính tôn giáo, duy cảm và giáo điều” Như vậy, hướng tiếp cận công tác xã hội đã dần dần mang tính hệ thống và duy lý, tách các hoạt động của nó khỏi quan hệ mang màu sắc tôn giáo, xây dựng mô hình công tác từ thiện thành một hoạt động độc lập
Những năm 1870, khủng hoảng kinh tế Tư bản chủ nghĩa koé dài trong nhiều thập kỷ đẩy con người vào cảnh sống nghèo khổ, bần cùng, xã
Trang 17nghiệp, phong trào bãi công, biểu tình diễn ra tại nhiều đô thị lớn ở châu
Âu và Mỹ, thậm chí nhiều cuộc bãi công còn mang tính bạo lực Các hoạt động từ thiện dường như không hoàn thành mục đích mang tính “ cách mạng” ban đầu Nhiều người nhận ra rằng các chương trình cứu trợ thực chất là hoang phí, thậm chí dẫn tới sự sa sút về tinh thần cho người nghèo
do nó chỉ làm tăng sự phụ thuộc, ỷ lại của họ Về vấn đề này Herbert
Spencer – nhà xã hội học người Anh cho rằng: “ Cứu trợ là phá hoại xã
hội, làm hỏng người nghèo vì nó gây ra những phụ thuộc và làm mất động cơ hành động” Điều này cho thấy các hoạt động cứu giúp muốn có
hiệu quả đòi hỏi phải có nhiều yếu tố mà một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt đó là: phải có một đội ngũ được đào tạo và trả lương một cách chuyên nghiệp bên cạnh một trái tim nhân từ
Năm 1877, “ Tổ chức từ thiện xã hội” được thành lập ở Mỹ ra đời
đã quan tâm tới vấn đề đào tạo một đội ngũ làm công tác xã hội Cũng từ đây, các “tình nguyện viên” ( Visitors) của những năm 1880-1890 đã trở thành các nhân viên xã hội Giờ đây họ không chỉ coi đối tượng như những người bạn để cảm thông, chia xẻ, mà còn là những người cần được giúp đỡ để vươn lên - một hoạt động mang tính chuyên nghiệp hơn và năm 1884 tại Anh, lần đầu tiên đã xuất hiện “ Trung tâm phúc lợi cộng đồng” Vào cuối nhứng năm 1890, “Phong trào định cư” với những “ ngôi nhà định cư” ở Luân Đôn ( Anh) được thành lập đã thành công trong việc xây dựng cầu nối giữa người giàu và người nghèo, nhất là những người mới nhập cư
Năm 1898 “ Hiệp hội các tổ chức từ thiện” ( Charity Organization Society – COS) ở Mỹ đầu tiên được thành lập đã nâng hoạt động này lên một bước Bởi đây là sự tiếp nối hoạt động của Uỷ ban quốc gia nhằm phat triển khoa học từ thiện ( vay mượn mô hình từ thiện của Anh) với mục đích: tái tổ chức các hoạt động từ thiện cũng như cá nhân ( vốn phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 1870), tiếp tục ứng dụng các nguyên tắc
Trang 18đó: sự phụ thuộc và duy trì sự bần cùng Hoạt động của hiệp hội đã vượt
ra khỏi mục tiêu quản lý, tổ chức và mang những đặc trưng sau:
- Hoạt động từ thiện tránh sự phân phối và cứu trợ trực tiếp
- Cố gắng lặp lại trật tự cho tình trạng hỗn loạn trong các hoạt động từ thiện tại các địa phương
- Áp dụng công nghệ mới vào các hoạt động của Hiệp hội bao gồm sự can thiệp hoặc phương pháp trị liệu có kế hoạch với sự tham gia của “ những vị khách thân thiện” ( The Friendly Visitor)
- Ngăn chặn việc từ bỏ tín ngưỡng hoặc việc phân biệt đối xử do những khác biệt về chính trị, tôn giáo hoặc dân tộc
Có thể nói đây chính là thời điểm đánh dấu bước chuyển từ những việc làm từ thiện, tình nguyện, bắt nguồn từ những niềm tin và đạo đức, tôn giáo sang một lĩnh vực mới đó là: Công tác xã hội - một hoạt động mang tính khoa học, một nghề nghiệp
Sau khi hiệp hội ra đời, cũng trong năm này ( 1898) lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đầu tiên đã được tổ chức tại Trường Summer, New York ( Mỹ) Lớp học kéo dài tronmg 6 tuần với 27 sinh viên Năm 1901, cũng tại Summer, Trường công tác xã hội đầu tiên ( nay là trường Đại học công tác
xã hội Colombia) đã ra đời Tại đây, sinh viên được đào tạo trong 8 tháng Đến năm 1919 cả Châu Âu và Mỹ đã có 15 trường và năm 1939 các trường này đã thống nhất chương trình đào tạo chung ở trình độ thạc sỹ Đây cũng chính là những bằng chứng xác định tính chuyên nghiệp của công tác xã hội Năm 1925, Chi Lê là nước đầu tiên ở Châu Mỹ La Tinh xuất hiện công tác xã hội, năm 1936, ở Châu Á, trường công tác xã hội được thành lập ở Ấn Độ Ở Philippin, nhiều phong trào xã hội, đặc biệt là các tổ chức xã hội như: “ Hội đồng điều phối phúc lợi thanh niên”, “Hội đồng chăm sóc sức khoẻ tinh thần nhằm giáo dục, ngăn ngừa tội phạm
Trang 19trong thanh thiếu niên”… sự lần lượt ra đời vào những năm 1950-1960 Đến năm 1955, “Hiệp hội quốc gia những người làm công tác xã hội” ( NASW) đã thành lập từ 7 tổ chức xã hội chuyên nghiệp sâu sát nhập lại Năm 1956, “ Liên đoàn quốc tế những người làm công tác xã hội” ra đời Năm 1988, ngành công tác xã hội mở khoa đầu tiên tại khoa xã hội học trường Đại học Bắc Kinh ( Trung Quốc) Sau này, với sự phát triển của ngành, công tác xã hội đã xuất hiện thêm ở nhiều nước khác ở Châu Á như: Thái Lan, Inđônêxia, Việt Nam…
Ở Việt Nam, bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) do vua Lê Thánh Tông ban hành cũng chứa đựng những tư tưởng nhân đạo, nhân quyền sâu sắc như: quy định ràng buộc trách nhiệm của các quan lại địa phương trong việc giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, éo le trong
đó có trẻ em tàn tật, nghèo khổ, mồ côi không nơi nương tựa, trách nhiệm của dân chúng trong bảo vệ, chăm sóc trẻ lạc, đưa ra những quy định nhằm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giảm hoặc hoãn thi hành án đối với phụ nữ đang mang thai nuôi con nhỏ, quy định quyền kế thừa tài sản của con
nuôi… Chẳng hạn ở chương Hộ môn, điều 11,12 có ghi: “ Những kẻ
không ai nuôi dưỡng, quan sở tại có nhiệm vụ dựng lều, nuôi dưỡng Nếu
ai không làm hoặc không làm tròn thì bị trừng trị bằng roi” Triều Gia
Long vào thế kỷ 18,19 đã thành lập các “ Dương tế sở” Tại đây, người già, trẻ em không nơi nương tựa được nuôi dưỡng thông qua những sản phẩm thu được từ một số ruộng công và những lãi tức thu được cũng từ những ruộng công này giao cho người sở tại cày cấy Về sau những nơi
này được gọi là “ Cô nhi viện” Trong thời gian từ năm 1862-1945, một cô
nhi viện tại gò thị Bình Định theo hình mẫu của Pháp do các sơ đồ dạy dỗ, trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trường câm điếc Lái Thiêu được thành lập, ở đây trong khi người Pháp phát triển mô hình công tác xã hội tập trung thì những người Việt Nam yêu nước lại nhằm vào những dịch vụ
Trang 20Năm 1949 do ảnh hưởng của Pháp nên Trường Công tác xã hội đầu tiên có tên là Caritas ở miền Nam được thành lập dưới sự hỗ trợ của Hồng thập tự Pháp, gần 20 năm sau ( năm 1968) có thêm trường công tác xã hội
do Bộ xã hội cũ lập ra dưới sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc (UNDP) Cho tới ngày giải phóng miền Nam, trường đã đào tạo được 300 cán sự xã hội (đến nay số cán sự xã hội này chỉ còn khoảng 40 người hiện đang công tác tại các đoàn thể, quỹ bảo trợ, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế) Cũng trong khoảng thời gian đó và cho tới nay, ở miền Bắc, công tác xã hội được quan niệm là công tác phong trào của các đoàn thể
và cán bộ là những học viên của các trường: Trường Đoàn, Trường Đội, Trường cán bộ phụ nữ TW, Trường Công đoàn, Trường lao động xã hội… Tuy nhiên hoạt động đào tạo dưới góc độ công tác xã hội vẫn còn nhiều hạn chế Năm 1992, lớp cử nhân về cán sự xã hội đầu tiên ( sau ngày giải phóng) được mở tại khoa Phụ nữ học của trường Đại học Mở Bán công
TO Hồ Chí Minh, năm 1995, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ( nay là Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội)
đã phối hợp với Uỷ ban bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam ( nay là Uỷ ban Dân số - gia đình và trẻ em Việt Nam) mở lớp cử nhân chuyên ngành đầu tiên về công tác xã hội với trẻ em Từ năm 1996 đến nay, khoa xã hội học của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ( nay là trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội) đã đưa công tác xã hội vào chương trình đào tạo của khoa và giảng dạy cho sinh viên trong trường
Có thể nói, công tác xã hội đã được hình thành như một khoa học bắt đầu từ thế kỷ XX tại nước Mỹ và ở một số nước châu Âu, đến nay nó
đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Sự ra đời của công tác xã hội đã kịp thời góp phần giải quyết những vấn đề xã hội
đã và đang đặt ra và dần có tiếng nói chung trên phạm vi quốc tế
Trang 21Chương II NỀN TẢNG KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
I Nền tảng lý thuyết của công tác xã hội
Cơ sở lý thuyết dùng trong các hoạt động của ngành công tác xã hội chủ yếu dựa trên sự tổng hợp của nhiều lý thuyết khác nhau, không theo một phương thức nhất định nào Các nước khác nhau thì phương thúc thực hiện trong ngành công tác xã hội cũng khác nhau
Ở Mỹ, cũng như nhiều ngành khoa học khác, công tác xã hội sử dụng một số lý thuyết khoa học về xã hội, về sự phát triển con người, về các hành vi, về giao tiếp ứng xử giữa con người với nhau Chẳng hạn: trong các lý thuyết về con người , các nhà công tác xã hội thường sử dụng những lý thuyết trong tâm lý học như: thuyết hiện sinh, thuyết phát triển con người, thuyết giao tiếp xã hội, thuyết hệ thống…
Trong quá trình phát triển công tác xã hội, mỗi lý thuyết đều có những mảng được những nhà làm công tác xã hội quan tâm và nghiên cứu tạo thành các phương thức thực hành của công tác xã hội Tuy nhiên trong
số những lý thuyết đó, có một số lý thuyết không thể không nói tới đó là:
Lý thuyết sinh thái học (Ecologycal Theory), lý thuyết hành động xã hội,
lý thuyết vị trí, vai trò xã hội và một số kiến thức cơ bản về sự phát triển con người như các nhu cầu cơ baen về sự phát triển cin người như các nhu cầu căn bản của con người, quá trình phát triển con người, rối nhiễu tâm trí
I.1 Lý thuyết phân tâm học về cấu trúc của nhân cách
Trang 22Lí thuyết phân tâm học do S.Freud (1856-1939) sáng lập Lý thuyết này nhấn mạnh đến hành vi xuất phát từ những động thái (suy nghĩ, tình cảm), những tương tác trong ý thức và sau này là những cách thức mà ý trí thúc đẩy hành vi của con người Ở đây, ý thức, hành vi đều ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi môi trường xã hội Đây là một cách nhìn nhiều chiều và mang tính biện chứng Yếu tố “dynamic” (động năng) được bổ sung vào psycho- analyis Vì thế, thuyết phân tâm học phát triển và trở thành thuyết động năng tâm lý (psycho dynamic).Nó được coi là lí thuyết nền tảng, then chốt trong Công tác xã hội nhằm giúp nhân viên xã hội vận dụng để lí giải những hiện tượng thường gặp khi làm việc với thân chủ.
Lí thuyết phân tâm học có 3 phần- lí thuyết về sự phát triển con người,
lí thuyết về nhân cách và tâm lí học nhân cách khác thường và lí thuyết về cách điều trị với 2 tư tưởng cơ bản quan trọng làm cơ sở cho lí thuyết trên: Quyết định luận siêu linh (hành động, hành vi xuất phát từ các quá trình tư duy của con người) và Cái vô thức (hành động tư duy, tinh thần còn ẩn giấu)
Lí thuyết về sự phát triển con người cho rằng trẻ em trải qua các giai đoạn phát triển Ở mỗi giai đoạn sẽ có những hành vi đặc thù phù hợp với tâm sinh lí của con người trong từng giai đoạn ấy Trong từng giai đoạn hành vi của con người sẽ có sự kế thừa những trải nghiệm về mặt hành vi và nhận thức mà mỗi người có được trong giai đoạn trước.Trong từng giai đoạn khác nhau, sự chú ý của con người sẽ hướng đến những nhu cầu khác nhau Theo lí thuyết nhân cách, con người là phức hợp của các xung năng hình thành cái ấy (“cái đó”) thúc đẩy con người hoạt động thoả mãn nhu cầu
Sự phát triển của bản ngã là bước tiếp theo sau hoạt động của cái ấy Cái tôi điều khiển cái ấy Cái siêu tôi phát triển những nguyên tắc đạo đức để chỉ dẫn cái tôi Lí thuyết cũng chỉ ra rằng những đặc điểm quan trọng của nhân cách là cách thức cái tôi điều khiển những xung đột, cách thức nhu cầu về cái tôi, cái siêu tôi tìm cách điều khiển cái ấy trong những vấn đề xã hội đã tạo ra xung đột nhiều hơn như thế nào.Sự lo lắng chính là kết quả từ những
Trang 23xung đột đó Cái tôi giải toả sự lo lắng bằng cách áp dụng cơ chế phòng vệ
đa dạng như: sự dồn nén, trấn áp, phóng chiếu, thăng hoa, duy lí hoá
Ưu điểm: + Là cơ sở để ra đời của nhiều lý thuyết khác như thuyết nhận thức + Quan tâm nhiều đến vấn đề xúc cảm- cơ sở để xuất phát hành vi Từ
đó ta óc thể nhận biết hành vi của thân chủ
Hạn chế: + Chưa nhận rõ các nguyên nhân từ môi trường, hoàn cảnh tác động
đến hành vi của cá nhân
+ Nhấn mạnh đến trật tự xã hội, nhằm giải quyết những hậu quả xã
hội, những vấn đề của cá nhân mà không hướng đến sự thay đổi làm biến đổi nó (transfomation)
Phương pháp tiếp cận các vấn đề trong phân tâm học của Freud và sau này là Anna Freud, Hartmanddax là nền tảng cho việc thực hành công tác xã hội hoàn thiện và phát triển Phân tâm học có những ảnh hưởng khá phức tạp
và gián tiếp đến công tác xã hội qua một số khía cạnh sau:
• Nhiều tư tưởng của Freud thể hiện qua văn hoá, từ đó áp dụng trực tiếp vào CTXH
• Tư tưởng tâm lí động học trong phân tâm học là lí thuyết kiến giải mạnh đầu tiên trong CTXH
• Ảnh hưởng liệu pháp phân tâm học làm nảy sinh cách trị liệu thoáng, cởi mở, lắng nghe nhằm kiếm tìm cách lí giải và hiểu thấu nhân cách
• Nhiều thuật ngữ như: cái vô thức, sự thấu cảm, sự hung hăng, xung đột, sự lo âu, những quan hệ mẫu tử, sự chuyển dịch tình cảm xuôi : được nhân viên trị liệu sử dụng nhiều và thường xuyên trong CTXH
• Nhiều quan điểm của Freud được sử dụng để trị liệu: bệnh tâm thần, hành vi có vấn đề, mối quan hệ thời thơ ấu và thời trẻ cũng như tình trạng bị tước bỏ tình mẫu tử trong Công tác xã hội
Đại diện cho những người sử dụng lý thuyết phân tâm học về cấu trúc
nhân cách vào can thiệp trong CTXH là Bowlby (1951), Rutter (1981) với
nghiên cứu về quan hệ mẹ - con (việc tước bỏ tình mẫu tử); Salzberger-
Trang 24Wittenberg (1970), Parkes (1972), C.Smith ( 1982) với nghiên cứu về việc mất người thân bằng những phương pháp khác nhau như: “những màn hình trống”, “dịch chuyển”
I 2 Thuyết hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là một phong trào tiến bộ phát xuất từ Pháp và Công tác xã hội cũng chịu ảnh hưởng từ thuyết này Những ý tưởng chính yếu:
• Con người không chỉ là một thực thể tồn tại mà còn có khả năng ý thức ý thức về sự tồn tại của mình và ý nghĩa về sự tồn tại ấy
• Nhấn mạnh đến khả năng của các cá nhân nhằm đạt được quyền lực kiểm soát về cuộc sống của mình
• Cá nhân được chấp nhận như “chủ thể”, “khách thể” ( họ hành động theo, bị ảnh hưởng bởi môi trường)
• Nhấn mạnh đến việc con người sẽ thay đổi như thế nào để hướng tới
xã hội tốt đẹp hơn
• Hướng đến tìm kiếm việc tái tạo toàn bộ tổ chức xã hội, tái tạo “xã hội hoá” Vì thế, con người tự do dựa vào nhu cầu và mong muốn của mình để tham gia vào một tiến trình tái tạo liên tục của xã hội
• Nhấn mạnh đến giá trị về “chính thể luận” Xem xét các cá nhân và các hệ thống xã hội như một tổng thể
• Tồn tại trong mỗi con người là một quá trình 2 mặt: mặt động và mặt tĩnh Để hiểu được phải có một quá trình tìm hiểu, quan sát, tưởng tượng và tư duy về những khía cạnh tĩnh tại và năng động của người khác trong bối cảnh sống hiện tại của người ấy (phải đặt một người khác vào cuộc sống của họ để tư duy)
Nội dung của thuyết hiện sinh gồm 2 nội dung chính: Sự tồn tại của con người và bản chất xã hội của con người
Sự tồn tại của con người:
+ Thuyết hiện sinh phản đối mọi sự kỳ vọng, ưu tiên về việc con người hoặc xã hội sống ra sao
Trang 25+ Thuyết hiện sinh hướng sự chú ý của mình đến hiện tại, những gì đang diễn ra có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của con người hiện tại.+ Đề cao tính chủ động của cá nhân: Cá nhân tự do hành động theo mục tiêu mà tự bản thân họ đặt ra và mong muốn.
+ Cá nhân có thể thông qua tự do của minh nhằm kiến tạo, xác định chính minh -> hình thành nhân cách, cấu trúc xã hội Ở đây sự tự do không phải là mình được phép làm bất kỳ điều gì mình muốn mà là quyền được sử dụng có ý thức và trách nhiệm Điều này có liên quan đến việc thực hiện chức năng xã hội của chính cá nhân đó
Bản chất xã hội của con người:.
+ Mỗi con người trong xã hội đều chịu những áp lực khác nhau, có những mục đích khác nhau, vì thế có những hành động khac nhau để đạt được mục đích
+ Cá nhân thông qua sự tự do của mình để kiến tạo và xác định về chính bản thân và nhân cách riêng cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sống trong môi trường riêng của mình
+ Trong xã hội, mỗi cá nhân chịu sự chi phối, tác động của những yếu tố như: sự kỳ vọng của xã hội ( những cái nhãn mà xã hội gán cho) Cái nhãn này có thể phù hợp hoặc không phù hợp với từng người Vì thế
nó có tác động tới hành động tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân trong việc thực hiện mục tiêu Ở đây các cá nhân tự do hành động nhưng không tự do từ trách nhiệm của mình Đó là thực tế của “sự tồn tại”
Một khia cạnh quan trọng khác về các quy điều đạo đức hiện sinh là một giá trị về sự cam kết đối với sự đoàn kết với những cá nhân khác Ở đây, tư tưởng hiện sinh nhấn mạnh đến giá trị về “chính thể luận”, xem xét các cá nhân và các hệ thống xã hội là một tổng thể Quan điểm tổng thể nhấn mạnh đến việc cố gắng tạo dựng được một hình thức tổng hợp về cách hiểu của chúng ta về các tình huống xã hội và những câu chuyện lịch sử của họ
Đại diện cho những người sử dụng thuyết hiện sinh vào các biện pháp
Trang 26Những nguyên tắc thực hành về cách tiếp cận hiện sinh trong CTXH :
• Tự do, trách nhiệm là hạn chế cơ bản về trải nghiệm của mọi người
I.3 Lý thuyết trị liệu nhận thức
Trị liệu nhận thức là một trường phái tư tưởng với chủ đề chính tập trung xung quanh khái niệm tư duy Sự tư duy của một cá nhân được định hình bởi xã hội và hoàn cảnh trực tiếp của người ấy Trên chiều cạnh này, tư duy quyết định cảm xúc và hành vi Thông qua tư duy, con người đặt ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn cho hành động của mình trong cuộc sống Điều này
có nghĩa, nếu như việc thực hiện chức năng xã hội của một cá nhân bị khiếm khuyết thìcó nghĩa là tư duy của người ấy không hoàn hảo Chính vì vậy, hành vi con người thay đổi thì phương thức tư duy cũng phải thay đổi theo
Đại biểu là Albert Ellis, nhà tâm lý trị liệu với cái nhãn “trị liệu xúc cảm có lý trí”và Sheldon(1995), Beck
Trong công tác xã hội, Nếu như nhận thức:là cách nhìn nhận của một người về một vấn đề nào đó theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực thì trị liệu nhận thức là phương pháp tác động vào thân chủ làm thay đổi nhận
Trang 27thức tiêu cực của họ Phương thức này sử dụng kỹ thuật “chuyển cơ cấu tư duy” trong hoạt động giúp đối tượng.Kỹ thuật này gồm các yếu tố:
• Giúp thân chủ nhận thức được các suy nghĩ sai lầm đã có ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng của thân chủ
• Xóa bỏ những suy nghĩ sai lầm và thay vào đó là những tư duy xác thực và các hành động có tính chất tích cực để tăng cường các hoạt động chức năng của thân chủ
Đại diện tiêu biểu: Watson, Sheldon, Gambrill, Fischer và Gochros,
Bandura với những mô hình trị liệu và đặc điểm cơ bản trong nghiên cứu về
Trang 28• Củng cố gián đoạn hành vi không được thường xuyên củng cố.
• Lịch trình theo tỷ lệ về củng cố gián đoạn được thực hiện khi có một loạt vấn đề với những hành vi mong muốn
• Lịch trình tạm ngưng hướng đến sự củng cố sau một loạt giai đoạn hành vi được mong muốn
2.Lượng giá
• Đạt được sự mô tả những vấn đề từ những quan điểm khác nhau
• Đưa ra những ví dụ về ai bị tác động và bị tác động như thế nào
• Tìm kiếm những hình thức khởi đầu,biến đổi,tác động của vấn đề
• Xác định các khía cạnh của vấn đề và mối quan hệ giữa chúng
• Lượng giá về động cơ cho sự biến đổi
• Xác định mô hình tư duy, cảm xúc trước, trong và sau những biến
cố về hành vi
• Xác định những điểm mạnh trong và xung quanh thân chủ
3 Đưa vấn đề vào hệ thống thẻ chế
Tạo nên sự thay đổi của thân chủ thông qua việc xem xét một số vấn đề
ưu thế các cơ sở hoạt động xã hội các quan điểm của thân chủ năng lực của
họ đưa ra và động cơ tạo ra sự thay đổi
4 Đánh giá sự thay đổi
Trang 29Đưa ra những vấn đề nảy sinh về hành vi trong và sau quá trình đo lường can thiệp.
1.5 Lý thuyết học tập xã hội
Thuyết học tập xã hội còn gọi thuyết thay đổi hành vi là nhóm nguyên tắc chung thứ 3 trong công tác hành vi và có xuất xứ từ công trình của Bandura Trọng tâm của thuyết học tập xã hội là xã hội hoá Theo thuyết này, phần lớn việc học tập đạt được do sự nhận thức của con người và sự suy nghĩ về những điều họ trải nghiệm Họ học bằng cách sao chép những ví dụ
về người khác xung quanh họ Đối với trẻ em, đây là một quá trình mà trong
đó xã hội cố gắng dạy trẻ cách ứng xử như những người lớn- một hệ thống dạy trẻ dựa trên các quy luật học tập có thể có hiệu quả mạnh mẽ
Quy trình chính này được Hudson và Macdonald mô tả như sau:
• Nhìn thấy ai đó thực hiện một hành động và chú ý tới hành động đó
• Người quan sát “ hình thành một ý niệm” hay mã hoá trong đầu óc mình về cách mà hành vi đó được tiến hành
• Người quan sát xác định tình huống trong đó hành vi diễn ra và kết quả của nó
• Khi một tình huống thích hợp nảy sinh, người quan sát nhắc lại hành
vi theo ý niệm về nó mà họ đã hình thành
Thuyết học tập xã hội theo Goldstien gồm 3 phần liên quan với nhau: triết lý xã hội (đạo dức), học thuyết về nhân cách và các kỹ thuật ảnh hưởng tới hành vi Có thể tóm tắt chúng trong 4 điểm:
Trang 30•Con người xây dựng những phân bản của chính mình thông qua những điều họ đã học.
•Con người đạt được sự chắc chắn trong cuộc sống bằng cách thích nghi - quá trình giúp họ quản lý thế giới bên ngoài
•Sự thích nghi của con người bị ảnh hưởng bởi sự nhận biết về cái tôi,
về bản thân và cách tác động của nó lên nhận thức
Nghiên cứu về sự nhận biết và học tập của con người, thuyết học tập cho rằng cần phải xem xét sự năng động của cái tôi (cái tôi tác động đến việc
họ làm và bị tác động bởi điều xảy ra với họ) Có 3 tác động chính khi tác động đến thế giới bên ngoài của cái tôi:
• Sự thích nghi: thích nghi với thế giới bên ngoài nhằm đạt các mục tiêu và sự cố gắng của môi người
• Sự ổn định: Giữ cho hệ thống của con người ở trạng thái cân bằng khi thu nhận những sự kiện mới
• Lập các ý định: Tìm cách thay đổi để phù hợp mục tiêu bên trong
Theo Goldstien có 3 loại học tập:
• Học tập có chiến lược: nhận thông tin, kĩ năng dựa trên mục tiêu đặt ra
• Học tập có chiến thuật: có liên quan đến thích nghi với những áp lực của cuộc sống hàng ngày
• Học tập thích nghi: thay đổi bản thân và những cơ cấu của nó về thế giới như một phần của quá trình đối mặt với cuộc đời theo một cách khác
Tất cả các kiểu học tập của con người khi diễn ra thường bị ảnh hưởng bởi chính họ hoặc môi trường nơi họ sinh sống
Goldstein đã đặt ra 4 giai đoạn học tập, mỗi giai đoạn phải được hoàn tất trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo Đó là:
•Học tập phân biệt để thân chủ tăng thêm nhận biết và có những nhạy cảm với các vấn đề xảy ra trong thế giới của họ
•Học tập khái niệm để thân chủ học các biểu tượng, các ý niệm mà họ sử dụng theo quy ước trong xử lí thông tin
Trang 31•Học tập nguyên tắc có liên quan đến các giá trị và khái niệm về bản thân
•Giải quyết một cách khái quát những vấn đề thân chủ gặp khó khăn trong môi trường của họ
Tóm lại: theo lý thuyết học tập, học tập được coi như một sự nhận thức thông qua quá trình nhận thức thông tin Nó nhấn mạnh đến hành vi đã được học, đến sự kiểm soát của môi trường đối với hành vi, phá vỡ hành vi thành những đơn vị đơn giản và tập trung vào hành vi có thể quan sát được
Mặt mạnh: Nó chỉ ra được những kinh nghiệm xã hội có tác động tới
nhận thức của thân chủ bằng cách “mô hình hoá” chỉ dẫn do người khác
truyền dẫn thông tin và cung cấp thông tin Đây còn là thuyết có khả năng
trác nghiệm cao nhất trong tâm lí học Thông qua lịch sử của thuyết những nhà nghiên cứu về học tập đã định nghĩa rõ ràng các từ ngữ, các giả thuyết
có tác động đến đối tượng nghiên cứu
Mặt hạn chế: Những mô tả của lý thuyết còn chưa phù hợp về phát
triển nhận thức và chưa phù hợp với môi trường tự nhiên.
I.6 Lý thuyết hệ thống
Thuyết Hệ thống là một trong những lí thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ những gì họ thiếu và những hệ thống trợ giúp nào họ có thể tiếp cận và tham gia bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến những cái tổng thể và mang tính hoà nhập
Khái niệm hệ thống theo Theo từ điển tiếng Việt là tập hợp nhiều yếu
tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất Dưới góc độ công tác xã hội, hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau
để hoạt động thống nhất Một hệ thống là một chỉnh thể với các đưòng biên
mà các năng lượng thể chất và tinh thần được trao đổi nhiều hơn trong
Trang 32đường biên so với ngoài đường biên Hệ thống còn có những khái niệm cơ bản khác như:
• Hệ thống đóng là khi không có sự trao đổi lẫn nhau qua đường biên
• Hệ thống mở là khi có các năng lượng thẩm thấu qua đường biên
Theo lý thuyết hệ thống, trạng thái của hệ thống tại bất kì thời điểm nào cũng được xác định bởi 5 đặc tính:
• Trạng thái vững, ổn định (steady state): khả năng duy trì bản thân thông qua việc nhận đầu vào sử dụng nó
• Sự điều bình hay cân bằng: khả năng duy trì các bản chất cơ bản
• Sự phân biệt: qua thời gian, các hệ thống sẽ trở nên phức tạp hơn với càng lúc càng thêm nhiều loại thành phần cấu tạo khác nhau
• Tính phi tập hợp: Hệ thống thiên về tính tổng thể nhiều hơn là sự tổng cộng của các bộ phận
• Sự trao đổi lẫn nhau: Nếu một phần của hệ thống thay đổi, thì sự thay đổi tác động tới tất cả các phần khác, và các phần khác đó cũng thay đổi
Đại diện cho những người đi theo lý thuyết hệ thống : Bertalanffy (1901-1972), Hanson, Mancoske, Siporin, Germain, Giterman và đặc biệt Hearn là người có những đóng góp sớm nhất trong việc áp dụng lí thuyết hệ thống trong công tác xã hội Tuy nhiên, tác động lớn nhất của lí thuyết hệ thống tới công tác xã hội phải kể đến sự xuất hiện của hai tác phẩm được dịch thuật cùng lúc về ứng dụng những quan điểm hệ thống trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus và Minahan
Thuyết hệ thống tác động lớn đến công tác xã hội kể từ thập niên 1970 theo nguyên tắc: con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống Các tư tưởng lí thuyết về hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ hệ thống khái quát của von Bertalanffy Đây là một thuyết sinh học trong đó đề xuất rằng mọi tổ chức đều là các hệ thống Một ngươì là một phần của xã hội và được làm nên bởi các hệ thống chu kì Các tế bào và hệ thống này đến lượt
Trang 33mình được làm nên bởi các nguyên tử vốn được tạo ra bởi các phần tử nhở hơn Thuyết hệ thống được áp dụng cho các hệ thống xã hội, như các nhóm, các gia đình, các xã hội cũng như các hệ thống sinh học Có ba loại hệ thống
có thể giúp con người:
• Hệ thống thân tình/ tự nhiên như: gia đình, bạn bè, người đưa thư
• Hệ thống chính quy như: các nhóm cộng đồng, công đoàn
• Hệ thống tập trung của tổ chức xã hội như: bệnh viện hay trường học Những người có vấn đề có thể không sử dụng hệ thống trợ giúp vì:
• Những hệ thống đó không tồn tại trong cuộc sống của họ, không có những nguồn hỗ trợ cần thiết hay thích hợp với vấn đề của họ
• Con người không biết, không thích sử dụng những hệ thống như vậy
• Các chính sách của hệ thống tạo ra vấn đề mới cho người sử dụng
• Các hệ thống có những mâu thuẫn lẫn nhau
Công tác xã hội cố gắng tìm ra những chỗ mà thân chủ và môi trưòng của họ đang có những vấn đề khó khăn trong tương tác từ đó giúp họ thực hiện các công việc trong cuộc sống Vì thế nhiệm vụ của công tác xã hội là:
• Giúp con người sử dụng và nâng cao khả năng của bản thân nhằm giải quyết vấn đề
• Xây dựng mối quan hệ mới giữa người và các hệ thống nguồn lực
• Giúp, chỉnh sửa tương tác giữa mọi người với các hệ thống nguồn lực
• Giúp phát triển và thay đổi chính sách xã hội
• Đưa ra sự trợ giúp thực tế
• Hoạt động như một tác nhân kiểm soát xã hôi
Pincus và Minahan (1973) đã đưa ra một cách tiếp cận đến công tác xã hội trong đó họ áp dụng các tư tưởng hệ thống Nguyên tắc của những đường hướng của họ là con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ để có cuộc sống thoả mãn, do đó công tác xã hội phải tập trung vào làm việc với những hệ thống như vậy Dưới đây là
Trang 34Hệ thống Mô tả Thông tin thêm
Hệ thống tác
nhân thay đổi
Nhân viên CTXH và cơ sở nơi họ làm việc
Khách hàng thực sự đã đồng ý nhận sự trợ giúp và đã tự gắn kết vào, các khách hàng tiềm năng là những người mà nhân viên CTXH đang cố gắng làm việc với
Hệ thống mục
tiêu
Những người mà hệ thống tác nhân thay đổi đang cố thay đổi
để đạt được mục tiêu của họ
Hệ thống khách hàng có thể là hoặc không phải là hệ thống mục tiêu
Hệ thống
hành động
Những người mag hệ thống tác nhân thay đổi làm việc với
để đạt được các mục tiêu của họ
Các hệ thống khách hàng, mục tiêu hoặc hành động có thể hoặc là không phải là một
Các mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội và người khác có thể là:
• Hợp tác- có chung mục đích
• Thương lượng- cần đạt được một thoả thuận
• Mâu thuẫn- Các mục tiêu của họ đối ngược nhau
Một lần nữa việc phân tách bản chất các mối quan hệ với mỗi hệ thống giúp nhân viên CTXH làm sáng tỏ vấn đề và giúp thân chủ tham gia vào các mối quan hệ một cách phù hợp và chân thành
I.7 Lý thuyết về vị trí – vai trò xã hội
Mỗi xã hội có cơ câu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau Lý thuyết về vị trí – vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vị trí
xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác Vị thế xã hội là vị
Trang 35trí xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm theo Vị thế chính
“ là bất kỳ vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nghĩa vụ đặc thù” Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau Phạm vi quyền và nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ Nhưng khi xem xét
vị trí với những quyền và nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực
Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng: “ hành vi con người thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí xã hội của người hành động”, rằng: “ hành vi phần nào được tạo ra bởi những mong đợi của người hành động và những người khác Như vậy, vai trò xã hội: “ là sự tập hợp hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế
xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó”
Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Trong các xã hội khác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau
Trang 36Theo thuyết này, trong công tác xã hội, việc tìm hiểu những nhận thức cũng như hành động của cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng phụ thuộc nhiều vào chính vị trí mà họ được thừa nhận trong gia đình và xã hội Nếu như họ được coi trọng, được có tiếng nói riêng của mình, được bình đẳng như mọi người trong gia đình và ngoài xã hội thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò của mình, đáp ứng được nhiều hơn những mong đợi của mọi người và ngược lại.
I.8 Lý thuyết hành động xã hội của M.Weber
Coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ người – xã hội, là cơ sở của đời sống xã hội của con người Nó là hành vi được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định và cái mà weber gọi là “ý nghĩa chủ quan” chính là ý thức, là những hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình định thực hiện hành động gì, và sẽ thực hiện nó như thế nào? Khác hẳn những hành động bản năng sinh học hay là hành động có sự tham gia của ý thức
Với nhãn quan của thuyết hành động xã hội, những quan niệm nhu cầu và nhu cầu mong muốn của các cá nhân, nhóm, cộng đồng được nhìn nhận như là nguồn gốc sâu sa của các hành động của họ
Vận dụng lý luận quan điểm của Weber, cần phải nghiên cứu hành động của các cá nhân, nhóm, cộng đồng theo hướng tiếp cận văn hoá Mỗi con người vừa là chủ thể sáng tạo của văn hoá, vừa là sản phẩm của văn hoá cộng đồng và tiểu văn hoá gia đình Bằng quá trình xã hội hoá, con người tiếp nhận hệ giá trị, chuẩn mực của cộng đồng và các khuôn mẫu ứng xử để trở thành con người xã hội Họ được nhào nặn khuôn theo văn hoá của cộng đồng, khiến cho những đặc trưng cơ bản của văn hoá đó luôn hiện diện trong họ, chi phối từ nhận thức tới hành vi và tư duy của họ Trong điều kiện đó, mỗi hành động của con người đều không thể vượt ra ngoài sự chi phối của khuôn mẫu văn hoá ấy Trong thuyết hành động của mình, Weber đã từng nhấn mạnh vai trò của “ hệ thống mẫu” này chỉ với 4 định hướng hành động: hành động thuần lý đối chiếu với một giá trị,
Trang 37với cảm xúc, hành động truyền thống Rõ ràng văn hoá cộng đồng, tiểu văn hoá gia đình là yếu tố vô cùng quan trọng không thể xem nhẹ khi nghiên cứu về hành động của các cá nhân trong các gia đình, của cá nhân, nhóm ngoài xã hội Tất cả luôn ghi đậm dấu ấn văn hoá của cộng đồng và tiểu văn hoá gia đình đã được thẩm thấu vào cá nhân thông qua quá trình xã hội hoá.
Vì vậy, trong công tác xã hội, khi nghiên cứu tìm hiểu về hành động của các cá nhân, nhóm, cộng đồng, không được tách chủ thể khỏi môi trường văn hoá nơi họ sinh sống Hiểu biết về phong tục tập quán, về thói quen và tâm lý cộng đồng, về tín ngưỡng, niềm tin và những quan hệ xã hội của chủ thể, là cơ
sở đáng tin cậy để lý giải các hành động của họ
I.9 Một số kiến thức cơ bản về sự phát triển con người
Công tác xã hội là hoạt động hướng tới giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng thoả mãn nhu cầu cần thiết, để giúp họ hoạt động có hiệu quả hơn Vì vậy muốn giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng đòi hỏi Nhân viên công tác xã hội phải có những hiểu biết nhất định về đặc điểm tậm lý xã hội của con người và các hành
vi của họ Tại sao họ lại có những hành vi như vậy? Hành vi đó nhằm đáp ứng nhu cầu gì?
I.4.1 Nhu cầu của con người
Con người vừa là một thực thể sinh vật vì nó là cơ thể sống, vừa là một
thực thể xã hội vì nó chứa đựng “ tổng hoà các mối quan hệ xã hôi” với một cơ
chế tâm lý đặc thù Vì thế ba mặt: sinh lý, tâm lý và xã hội thường xuyên biến đổi và tác động qua lại lẫn nhau trong suốt quá trình phát triển con người nói chung, nhân cách nói riêng và nói tới phát triển của con người là nói tới sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tình cảm, xã hội Để đảm bảo các yếu tố trên được phát triển một cách hoàn thiện, con người cần có các điều kiện cần thiết, có nghĩa là các nhu cầu cơ bản của con người cần được đáp ứng, thoả mãn
Trang 38Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân Nếu nhu cầu được thoả mãn thù sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và
an toàn cho sự phát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên
sự căng thẳng và có thể dẫn tới những hậu quả nhất định Vì thế nhu cầu là động lực bên trong kích thích cá nhân hoạt động, quyết định mọi hoạt động của con người, nhưng thực chất nhu cầu là gì? đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi Khi nói đến nhu cầu, người ta thường nói đến hoạt động Thông qua các hoạt động
mà cá nhân nảy sinh những nhu cầu khác nhau Nhu cầu là động lực kích thích hoạt động và ngược lại, hoạt động là điều kiện nảy sinh nhu cầu
Theo định nghĩa, Nhu là cần thiết, Cầu là đòi hỏi, mong muốn Như vậy, “
Nhu cầu là một yếu tố cần thiết, tất yếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân” Nếu nhu cầu được thoả mãn thì sẽ tạo ra cảm giác thoải mái và an
toàn cho sự phát triển và ngược lại, nếu không đáp ứng được nhu cầu thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn tới những hậu quả nhất định
Theo từ điển tiếng Việt (2002 của Nhà xuất bản Đà Nẵng): “ Nhu cầu là
điều đòi hỏi của đời sống tự nhiên và xã hội”
Theo Loenter ( 1971): “ Nhu cầu là trạng thái thiếu hụt cái gì đó, trạng
thái hướng hoạt động của cá nhân đến sự bù đắp, thoả mãn cái thiếu hụt đó”.
Theo các nhà kinh tế học, nhu cầu chia làm hai loại: nhu cầu tuyệt đối và nhu cầu tương đối Nhu cầu tuyệt đối là nhu cầu mà bất cứ thành viên nào của xã hội cũng được thoả mãn ở một mức độ khuôn khổ tối thiểu Còn nhu cầu tương đối là nhu cầu mà sự thoả mãn chúng đem đến cho con người niềm ao ước, ấp ủ
Về phương diện tâm lý học - xã hội, nhu cầu tương đối đem lại cho con người ta niềm kiêu hãnh rằng mình cao hơn đồng loại Sự phát triển nhu cầu tuyệt đối tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế xã hội thoả mãn nhu cầu tương đối
Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự bậc thang
từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn
Trang 39Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng thưo các bậc thang đó ( hình dưới) Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn
Chẳng hạn: con người thoả mãn nhu cầu ăn no rồi mới nghĩ tới thoả mãn nhu cầu ăn ngon, thẩm mỹ
Theo Charlotte Towle nhu cầu về tâm linh, tôn giáo giúp người ta tin vào một sức mạnh tồn tại bên ngoài con người nó giúp người ta các giá trị tinh thần, đặc biệt là các giá trị văn hoá dân tộc
Như vậy, có nhiều cách phân loại về nhu cầu và về cơ bản con người có những nhu cầu chính sau đây:
- Nhu cầu vật chất sinh lý: thức ăn, không khí, nước uống
- Nhu cầu an toàn (được đảm bảo trên nhiều phương diện khác nhau): nhà
ở, việc làm, sức khoẻ
- Nhu cầu tình thương: nhu cầu được thuộc về ai đó, nhóm nào đó ( cha
mẹ, bạn bè, họ hàng…)
- Nhu cầu được tôn trọng: được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người
- Nhu cầu được hoàn thiện: nhu cầu phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình
- Nhu cầu về tâm linh tôn giáo
Các nhu cầu trên luôn tồn tại, thay đổi và phát triển, chúng đan xen nhau, phụ thuộc lẫn nhau, quan hệ qua lại nhau Sự thay đổi trong đáp ứng nhu cầu này sẽ ảnh hưởng tới sự thay đổi trong đáp ứng nhu cầu khác ( nhu cầu tình thường được đáp ứng thì nhu cầu về vật chất sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu an toàn, nhu cầu hoàn thiện cũng có những ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực) Nhu cầu khác với ý muốn Nếu như nhu cầu là cái
gì đó mà khi thiếu thì sẽ dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển của con người thì ý muốn là điều ta mong muốn có
Trang 40Đặc điểm của nhu cầu:
- Các nhu cầu có tầm quan trọng lớn và cần thiết vì chúng là những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Vì vậy con người luôn thực hiện các hoạt động để thoả mãn nhu cầu của mình
- Nếu được thoả mãn, nó sẽ đem lại cảm giác thoải mái, an toàn, đảm bảo cho sự phát triển của cá nhân
- Nếu không được thoả mãn gây ra những căng thẳng dẫn đến đe doạ sự an toàn và tồn tại của con người
+ Trạng thái hụt hẫng: khi nhu cầu không được đáp ứng làm nảy sinh tình trạng mất thăng bằng ngay trong bản thân cá nhân hay với quan hệ bên ngoài, khiến cá nhân phải làm cái gì đó hoặc là đấu tranh hoặc là bỏ chạy Chẳng hạn trẻ bỏ gia đình theo bạn bè do bầu không khí gia đình căng thẳng, cha mẹ xung đột vì thế nhu cầu được yêu thương không được thoả mãn dẫn tới tình trạng trẻ bị hụt hẫng
+ Trạng thái bị tước đoạt: khi sự thoả mãn nhu cầu bị cản trở và kéo dài
sẽ đe doạ nghiêm trọng sự tồn tại và an toàn của cá nhân dẫn tới nhiễu loạn trong ứng xử Chẳng hạn: trẻ bị tước đoạt mối quan hệ tình yêu thương của mẹ khu bố mẹ chia tay nhau, khi đó trong trẻ xuất hiện cảm giác không an toàn vì thế luôn có mối lo sợ ám ảnh ( Theo Freud, đó sẽ là một trong những nguyên nhân của các rối nhiễu tâm lý sau này) và sẽ mất đi cơ hội học hỏi cách cho và nhận tình thương từ người khác Đây cũng chính là nguyên nhân của những khó khăn tạo lập mối quan hệ xã hội về sau này ở trẻ
- Quá trình thoả mãn nhu cầu con người thường gặp phải trạng thái mâu thuẫn tâm lý – đó là sự trái ngược giữa các rung động ham muốn bên trong, hoặc bên ngoài, mâu thuẫn giữa nhu cầu cá nhân và nhu cầu nhóm