Nhóm công nghiệp sợi-dệt-nhuộm: thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm sunfua, thuốc nhuộm hoàn nguyên, thuốc nhuộm hoạt tính, một số hóa chất sử dụng trong các đơn nhuộm như NaCl, Na2SO4, Sandoclean PC-tẩy dầu, Cotoclarin KD, Securon, Invalin, Univadin, các chất tẩy trắng như: Blancophor, Mikephor, Tinopal,Whitex…
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đang đứng trước những thách thức to lớn về sự tăng trưởng kinh tế và đấu tranh bảo vệ môi trường
Hơn một thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế Những thành tựu đạt được trong mọi lĩnh vực kinh tế quốc dân đều có sự đóng góp to lớn của của ngành hóa chất Các ngành công nghiệp nặng như: chế tạo máy, khai khoáng, điện than; các ngành công nghiệp nhẹ như dệt, may, in, nhuộm, giấy, chế biến lương thực thực phẩm, mỹ phẩm, các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công, và nhất là trong sản xuất nông nghiệp, tất cả đều sử dụng hóa chất các loại, như một vật tư sản xuất khôngthể thiếu được trong cơ cấu sản xuất kinh doanh của mọi ngành Chính trong quá trình này đã làm sản sinh ra các chất thải nguy hại.Và đây chính là vấn đề nan giải mà Việt Nam đang phải đối mặt, là một trong những vấn đề thời sự bức xúc của xã hội, của các nhà quản lý, sản xuất và người tiêu dùng Việt Nam
Trung bình mỗi ngày, TPHCM tiếp nhận khoảng 300 tấn chất thải nguy hại
(CTNH) Tuy nhiên, công suất xử lý loại chất thải này chỉ đạt 20% Vậycâu hỏi đặt ra
khối lượng chất thải không xử lý hết được đổ ở đâu? Thời gian qua, vẫn tồn tại tình trạng
lén đổ chất thải ra môi trường Nhiều trường hợp đã bị lực lượng Cảnh sát Môi trường TPphát hiện và xử lý Tuy nhiên, tình trạng này khó khắc phục do TP đang thiếu nhà đầu tư
xử lý CTNH đủ lớn để tiếp nhận và xử lý loại chất thải này với giá thành hợp Vì vậy dẫnđến chất thải không được xử lý đến nơi đến chốn hoặc chôn vô tội vạ, đe dọa nghiêm trọng môi trường sống
GS-TS Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý môi trườngTPHCM, cho rằng việc chôn lấp hàng đống chất thải nguy hại là cực kỳ nguy hại cho môitrường “Những chất thải nguy hại, đặc biệt là kim loại nặng và thủy ngân trong bóng đèn, bị chôn lấp sẽ phát tán gây ô nhiễm nguồn nước Người dân uống phải nguồn nước ônhiễm này sẽ rất dễ mắc bệnh ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác Vì thế phải nhanh
Trang 2chóng đào những đống chất thải nguy hại này lên đưa đi xử lý hoặc lưu chứa an toàn”- GS-TS Lê Huy Bá nhấn mạnh Về việc đốt chất thải lộ thiên, GS-TS Lê Huy Bá cũng chobiết là hết sức nguy hiểm vì khí thải của chúng rất độc hại.
Chính vì nhận thức được vấn đề nan giải trên, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài ‘’Sự
cố nguy cơ tiếp xúc với chất thải nguy hại’’ nhằm bổ sung thêm kiến thức về sự nhận biếtcác chất thải nguy hại và tác động, hậu quả để lại của nó đối với con người và hệ sinh thái Qua đó chúng ta có thể dự đoán và hạn chế được đến mức tối đa các sự cố có nguy
cơ xảy ra
Trang 3và nước ngầm CTNH có thể ảnh hưởng trực tiếp qua con người thông qua các tuyến hôhấp, tiêu hóa hay qua da, mắt
Một số ngành công nghiệp chính phát sinh chất thải nguy hại:
Nhóm công nghiệp sợi-dệt-nhuộm: thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm phân tán,thuốc nhuộm sunfua, thuốc nhuộm hoàn nguyên, thuốc nhuộm hoạt tính, một số hóa chất
sử dụng trong các đơn nhuộm như NaCl, Na2SO4, Sandoclean PC-tẩy dầu, Cotoclarin
KD, Securon, Invalin, Univadin, các chất tẩy trắng như: Blancophor, Mikephor,Tinopal,Whitex…chúng có thể chuyển hóa giữa các dạng tồn tại khác nhau trong môitrường và gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con gnười khi tiếp xúc phải
Ngành công nghiệp hóa chất: là nhóm ngành thải ra nhiều chất độc hại do sự dụngcác hóa chất trong qui trình công nghệ, gây ô nhiễm môi trường đáng kể Đó là các hóachất còn dư thừa trong các quá trình lắng-lọc, cặn bã hóa chất, chai lọ vỡ, bùn cặn, baobì…
Ngành công nghiệp điện tử: thải ra môi trường các chất độc hại như các chất trongdung dịch mạ, các chất bán dẫn và nhiều hợp kim khác
Trang 4Công nghiệp sản xuất giày da: chất nguy hại thải ra môi trường chủ yếu là các hóachất sử dụng trong quá trình xử lý da như lưu huỳnh, Cr³+.
Công nghiệp sản xuất sơn: chất thải rắn độc hại chủ yếu sản sinh ra trong quá trìnhsau sản xuất như các chất rắn ở đường cống
Công nghiệp thực phẩm, đồ hộp, thuốc lá: Trong nhóm ngành này có các ngành côngnghiệp chủ yếu sau đây:
Công nghiệp sản xuất bia
Sản xuất và chế biến đồ hộp
Sản xuất bánh kẹo
Sản xuất và chế biến thuốc lá
Rác thải nguy hại trong ngành công nghiệp này thải ra môi trường chủ yếu là men,
bã, chất hữu cơ, vải sợi thuốc lá…khi phân hủy là môi trường truyền bệnh cho con ngườinhất là trong những ngày thời tiết nóng ẩm, thúc đẩy phát sinh các lọai bệnh về đườngruột và tăng khả năng lây nhiễm và lan truyền chúng
Công nhiệp sản xuất văn hóa phẩm: gồm các nhà máy in, cơ sở sản xuất vănphòng phẩm, mỹ phẩm, các hãng và cơ sở in tráng phim ảnh…Chất thải rắn độc hại sinh
ra từ nguồn này chủ yếu là các phim nhựa tráng hỏng, các loại giấy ảnh cùng với nướcthải chứa một tỉ lệ tương đối lớn các chất độc hại như hydroquynol, các thuốc ảnh vàthuốc màu khác được lẫn vào trong pha rắn
Công nghiệp luyện kim: trong ngành công nghiệp luyện kim, công nghiệp mạ cókhả năng gây ô nhiễm môi trường nước bởi các hóa chất và các kim loại nặng tương đốilớn, từ đó chúng tác động đến các chất lơ lửng trong cống rãnh và chất thải rắn độc hạithường phát sinh trong quá trình vệ sinh môi trường khu vực nhà máy (moi móc cốngrãnh)
1.1 Thải vào môi trường đất
Trang 5Hiện nay, vấn đề quản lý CTNH đang gặp không ít khó khăn, trước tiên là sự vô ýthức của một số cá nhân, doanh nghiệp Đổ rác thải một cách bừa bãi làm anh hưởng tới
mỹ quan môi trường Khi CTNH thải trực tiếp vào môi trường đất, vô tình làm hủy đi hệsinh thái của khu vực thải rác
1.2 Chôn lấp tại chỗ - Lưu giữ lâu dài
Việc chôn lấp, lưu giữ CTNH là một việc làm cần thiết tại các nhà máy quản lýCTNH hay đôi khi tại nơi phát sinh chất thải nguy hại Trong quá trình lưu giữ, các vấn
đề cần quan tâm là phân khu lưu giữ và các điều kiện thích hợp liên quan đến kho lưugiữ Những vấn đề tác động môi trường cơ bản liên quan đến việc chôn lấp các chất thảinguy hại không đúng qui cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với nước mặt vànước ngầm Ở Việt Nam những nguồn này thường được dùng làm nguồn nước uống, sinhhoạt gia đình, phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Bất cứ sự ô nhiễm nào đối vớicác nguồn này đều có thể gây tiềm tàng về sức khoẻ đối với nhân dân địa phương hay gây
ra các tác động môi trường nghiêm trọng
Ở một số công ty được tham quan trong quá trình khảo sát, các chất thải bị chônlấp hoặc dồn đống tại chổ hoặc ở khu đất bên cạnh bởi vì không có một giải pháp nào phùhợp với các chất thải này, hoặc là được tích luỹ trước khi được chuyển đi Trong một sốtrường hợp, chất thải này được lưu giữ theo kiểu như vậy có thể tạo ra rủi ro đến môitrường và sức khoẻ cho khu vực xung quanh Việc lưu giữ chất thải và vệ sinh côngnghiệp kém, và lượng rò rỉ lớn của các nguyên liệu độc, bao gồm cả cặn nhựa mang tínhaxit và dầu thải, ở một số địa điểm Sự lưu giữ lâu dài một số chất thải không thể tái sửdụng lại trong dây chuyền, ví dụ như những mẻ sơn tồi khá phổ biến, nhưng nói chungnhững nơi chứa chất thải không được che, đậy kĩ và thấy rõ sự ăn mòn vật liệu bao bì đãxảy ra Khả năng rò rỉ vào lớp đất tầng dưới và gây nhiễm bẩn nước ngầm có thể đượcxem như một nguy cơ lâu dài
1.3 Nhiễm bẩn nguồn nước mặt
Trang 6Khả năng ô nhiễm nước mặt do việc thải các chất lỏng độc hại không được xử lýđầy đủ, hoặc là do hậu quả của việc làm vệ sinh công nghiệp kém, hay do việc thải vàokhí quyển những hoá chất độc hại từ quá trình cháy, đốt các vật liệu nguy hại Địa hìnhcủa Việt Nam được đặc trưng bởi đồi núi che phủ hầu hết phía Bắc, Tây, và miền Trungcủa Việt Nam Diện tích còn lại là đồng bằng từ đất bồi và lưu vực với một mạng lướikhá dày đặc các sông ngòi Nước mặt bao gồm sông, hồ chứa, kênh, hồ ao được sử dụngrất nhiều ở Việt Nam như là một nguồn nước ăn uống, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
và công nghiệp Chúng cũng được sử dụng như là nguồn nhận nước thải công nghiệp vàsinh hoạt, đặc biệt là ở khu vực đô thị, nơi chưa có đủ hệ thống xử lý nước thải đô thị
Nước thải từ khu vực công nghiệp ở cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đượcthải hầu như không hề được xử lý vào rất nhiều kênh rạch sông ngòi là những hệ thốngthoát nước chung của thành phố Tất cả những nguồn nước này do đó đã bị nhiễm donước thải công nghiệp, cũng như chất lỏnh thải từ sinh hoạt Ơ Hà Nội hiện chưa có hệ
Trang 7thống xử lý chất thải lỏng công nghiệp và sinh hoạt, trong khi đó thành phố có những cơ
sở công nghiệp lớn, nên chất thải công nghiệp chính là nguồn ô nhiễm đáng kể Cục môitrường đã ước tính rằng nước thải công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 20– 30% tổng lưu lượng dòng chảy trong các sông và đóng góp chủ yếu là từ công nghiệptinh chế, hoá chất và chế biến thực phẩm
1.4 Nhiễm bẩn nước ngầm
Ô nhiễm nước ngầm hoặc là do việc lâu dài không được kiểm soát, chôn lấp tạichỗ, chôn lấp ở nơi chôn rác không có kĩ thuật cụ thể, hoặc dùng để lấp các bãi đất trũng
Nói chung chất lượng nước ngầm ở Việt Nam vẫn tốt trừ một số nơi bị nhiễm sắt
và mangan cao, và nhiễm nước biển ảnh hưởng ở một số vùng ven biển Hiện nay, chỉ cókhoảng 15% nước ngầm khai thác được cấp vào hệ thống cấp nước máy do nước mặt cósẵn và rẻ Tuy nhiên, nhu cầu đang tăng lên ở những nơi thiếu nguồn nước mặt như ĐồngNai và đồng bằng sông Mêkông, và đã có những dấu hiệu nhiễm bẩn cục bộ do chôn chấtthải hay nước mặt bị ô nhiễm
Ơ Việt Nam trừ các nhà máy nước ở thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt, đa số các
hệ thống thoát nước đô thị không đủ và cấp nước chất lượng kém Khoảng 30% nhu cầunước đô thị được cấp bởi nước ngầm, lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, và HảiPhòng Nhiễm bẩn nước ngầm ở khu đô thị, đặc biệt là Hà Nội ngày càng nghiêm trọng,nơi mà toàn bộ dân cư phải dựa vào nước ngầm đối với nước ăn uống và sinh hoạt
1.5 Ô nhiễm bẩn không khí
Có những trường hợp ô nhiễm không khí rất nghiêm trọng do quản lý chất thảinguy hại kém Dung môi, nói chung, được thải bằng cách cho bay hơi Một cơ sở sảnxuất tấm lợp ximăng amiăng ở Đồng Nai đã thải một tấn bùn ngay trong cơ sở trong vòngmột ngày mà không có một biện pháp kiểm soát nào Hàng ngàn tấn bùn đã được đổtrong nhà máy theo kiểu như vậy sẽ tạo ra nguy cơ đối với sức khoẻ của công nhân trongnhà máy Những ví dụ như vậy sẽ có thể gặp nhiều nơi ở nước ta
Trang 8Điển hình như Nhà máy luyện đồng Lào Cai (thuộc Tổng công ty Than và Khoángsản Việt Nam) Nhà máy thành lập từ năm 2008, với ngành nghề kinh doanh chính làluyện và chế biến kim loại đồng, vàng, bạc, H2SO4…Với dây chuyền được nhập về từTrung Quốc, trong quá trình sàng lọc để lấy các kim loại có giá trị cao này, trung bìnhmột tháng, công ty thải ra hơn 16 tấn xỉ (bao gồm axít, asen, kim loại nặng khác và mộthàm lượng đồng (từ 1 - 2%) - gọi chung là chất thải nguy hại.
Trang 9• Chất nguy hại được phát thải vào môi trường và con người hoạt động trong môitrường đó bị tiếp xúc với chất nguy hại Ví dụ, con người sử dụng bao bì nhiễmbẩn chất nguy hại co các mục đích sinh hoạt
• Chất nguy hại xâm nhập vào bên trong cơ thể như qua đường hô hấp, qua da haytiêu hoá Chất độc hại xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá do tiêu thụ thựcphẩm bị nhiễm bẩn hay do sử dụng những dụng cụ nhà bếp không sạch Taynhiễm bẩn có thể giúp hấp thụ chất độc qua việc làm bếp làm nhiễm bẩn thức ăn,qua động tác ăn uống hay hút thuốc…
Chất thải nguy hại có tác động đến an toàn và sức khoẻ con người.
Vấn đề an toàn: do tính chất dễ cháy, nổ, hoạt tính hoá học cao, gây ăn mòn, cácchất nguy hại có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người Đồng thời khidiễn ra quá trình cháy nổ còn phát sinh thêm nhiều chất độc hại thứ cấp khác, gâyngạt do mất oxy có thể dẫn đến tử vong Ngoài ra, chất thải nguy hại còn phá hủyvật liệu nhanh chóng Do đó chúng gián tiếp có ảnh hưởng đến sự an toàn và sứckhoẻ của con người
Vấn đề sức khoẻ con người: Chất nguy hại gây tổn thương cho các cơ quan trong
cơ thể, kích thích, dị ứng, gây độc cấp tính và mạn tính có thể gây đột biến gen,lây nhiễm, rối loạn chức năng tế bào… dẫn đến các tác động nghiêm trọng cho conngười và động vật như gây ung thư, ảnh hưởng đến sự di truyền
2.1 Các triệu chứng lâm sàng và rối loạn chức năng
Con người khi tiếp xúc với chất nguy hại có thể biểu hiện nhiễm độc qua các triệuchứng lâm sàng và rối loạn chức năng như sau:
Biểu hiện ở đường tiêu hoá: tăng tiết nước bọt, kích thích đường tiêu hoá,nôn, tiêu chảy, chảy máu đường tiêu hoá, vàng da
Biểu hiện ở đường hô hấp: tím tái, thở nông, ngừng thở, phù phổi
Trang 10 Biểu hiện rối loạn tim mạch: mạch chậm, mạch nhanh, trụy mạch, ngừngtim.
Các rối loạn thần kinh, cảm giác và điều nhiệt: hôn mê, kích thích và vật vã,nhức đầu nặng, chóng mặt, điếc, hoa mắt, co giãn đồng tử, tăng giảm thânnhiệt
Rối loạn bài tiết: vô niệu
Các loại này khi
ở thể rắn khicháy có thể sinh
ra các sản phẩmcháy độc hại
phỏng, hủy hoại
cơ thể khi tiếpxúc
Ô nhiễm khôngkhí và nước gây
hư hại vật liệu
3 Chất thải dễ nổ Gấy tổn thương
đến sức khỏe dosức ép, gây bỏngdẫn đến tử vong
Phá hủy côngtrình
Sinh ra các chất
ô nhiễm môitrường đất, nước,không khí
4 Chất thải dễ oxy hóa Gây cháy nổ khi
xảy ra phản ứnghóa học
Gây ô nhiễmnước, đất
Trang 11Ảnh hưởng đến
da, sức khỏe
tính và cấp tínhđến sức khỏe
Gây ô nhiễmnước, đất
Trang 12• Các dung môi thân mỡ khi tan trong môi trường sẽ tích tụ trong mỡ bao gồm cả hệthần kinh
• Hơi của dung môi rất dễ được hấp thu qua phổi
• có nhiều loại dung môi hữu cơ gây độc tính cấp và mãn tính cho con người vàđộng vật khi tiếp xúc
• Một số dung môi hữu cơ thường gặp là benzen, toluen, xylen, etylbenzen,xyclohexan
• Các dung môi này có thể hấp thụ qua phổi và qua da
• Khi tiếp xúc ở liều cao gây độc tính cấp suy giảm thần kinh trung ương, gây chóngmặt, nhức đầu, ngộp thở dẫn đến rối loạn tiêu hóa
• Benzen tích lũy trong các mô mỡ và tủy xương gây bệnh bạch cầu, xáo trộn AND
• Triclometan,tetraclorocacbon,tricloroetylen…các hợp chất phức tạp còn cókhuynh hướng tích tụ trong cơ thể động thực vật khi hấp thu chúng như PCBs,DDT
Các Kim loại nặng
• Các kim loại nặng gây hại đáng kể cho môi trường Với hàm lượng cao chúng gâyrối loạn, ức chế hoạt động của sinh vật
Trang 13• Tác động nguy hại đáng quan tâm của chúng là lên sức khỏe con người Sự xâmnhập của chúng vào cơ thể diễn ra trong thời gian dài nên khó có thể phát hiện vàngăn ngừa.
• Một số kim loại nặng tiêu biểu là Cr (VI), Hg, As, Cd…
Các chất có độc tính cao
• Chất lỏng :thủy ngân, dung dịch các chất rắn ở trên, hợp chất vòng thơm…
• Chất rắn : antimon, cadmi, chì, bery, asen, selen, muối cyanua và các hợp chất củachúng
• Chất khí : hydrocyanua, photgen, khí halogen, dẫn xuất của halogen…
• chất gây đột biến : carcinogens, asbetos PCBs…
CHƯƠNG II SỰ LAN TRUYỀN, TÍCH LŨY VÀ PHÂN HỦY CỦA CTNH
TRONG MÔI TRƯỜNG
Có thể nhận thấy rằng sự lan truyền, tích lũy và phân hủy của chất trong môi trường nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào bản chất của chất thải, cách thức xâm nhập vào môi trường, bản chất của môi trường tiếp nhận, điều kiện môi trừng…Vì vậy để hiểu rõ các vấn đề cần xem xét đến các yếu tố liên quan trên
Trang 14động giao thông…Tùy theo mức độ phát tán, phạm vi ảnh hưởng, độ cố định hay
di động để phân biệt được người ta có thể phân ra như sau:
Nguồn điểm: ống khói từ lò đốt, khí bãi chon lấp…(khối lượng/thời gian)
Đường: bụi từ đường phố, khói xe (khối lượng/thời gian.chiều dài)
Vùng (diện tích): chất bay hơi từ ao hồ, đầm chứa (khối lượng/thời gian.diện tích)
Thể tích: các trường hợp của các ngôi nhà (khối lượng/thời gian.thể tích)
Nhất thời (không thường xuyên) do các sự cố về tràn, rơi vãi của chất thải (khối lượng của tổng thải)
Ở những nơi cơ chế phát thải chủ yếu là sự hóa hơi, khí ô nhiễm cơ bản bao gồm
là những hợp chất hữu cơ Khí ô nhiễm có thể sinh ra do quá trình sản xuất hoặc do quá trình xử lý chất thải Sự ô nhiễm của bụi và các thành phần khí khác chủ yếu là do quá trình đốt và do sự xói mòn của gió liên quan chủ yếu đến những hạt nhỏ và có những tínhchất ô nhiễm khác nhau ví dụ như chất hữu cơ, kim loại, PCB, dioxin Chất bay hơi: chủ yếu từ bồn chứa, hệ thống ống, bề mặt ao hồ Chất hữu cơ và chất vô cơ bay chủ yếu có nguồn gốc từ các bồn chứa, hệ thống ống, đường ống, bề mặt ao hồ Chất hữu cơ có thể bay hơi từ nước rò rỉ và di chuyên đến nước bề mặt Tốc độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt
dộ, áp suất bay hơi của chất, sự chênh lệch giữa nồng độ trong pha long và pha khí Các chất bay hơi trong môi trường có thể dịch chuyển trực tiếp vào khí quyển, đôi khi các chất này cũng trãi qua quá trình biến đổi pha mới đến khí quyển theo sơ đồ tổng quát sau:
Hình sự phân bố của chất hữu cơ bay hơi trong môi trường đất – nước – không khí
Trang 15Sự di chuyển của chất ô nhiễm từ đất và nước ngầm cho phép chúng thoát vào khí quyển không được kiểm soát từ con đường chuyển đổi cơ bản (đơn giản) Về cơ bản có thể dụng định luật Henry cân bằng hóa học, yếu tố riêng như loại đất, độ ẩm, tốc độ gió, diện tích hồ nước để ước tính sự thoát ra nguồn và xử lý chúng.
Phát tán ở dạng rắn: chủ yếu từ hai nguồn: quá trình đốt và nguồn tức thời
(fugitive) từ bốc dỡ vật liệu, bề mặt: đường công trường xây dựng, bến đỗ,
chuồng trại (impoundment), bãi chôn lấp, công trường xử lý đất, bể ổn định chất thải Nguyên nhân chính gây nên phát tán do tác động của gió và hoạt động của con người Lượng bụi phát tán từ quá trình đốt có thể ước tính theo nguyên liệu đốt có thể tham khảo tính toán trong tài liệu xử lý ô nhiễm không khí Trong nội dung phần này chỉ đề cập đến một số phát tán do hoạt động giao thông và bốc dỡ Lượng bụi do hoạt động giao thông và bốc dỡ Lượng bụi do hoạt động giao thông
có thể ước tính bằng công thức sau:
EVT hệ số phát tán (lb/mi xe di chuyển) (lb/mi=0.423kg/km)
SP hàm lượng bùn của bề mặt đường %
Vv tốc độ xe trung bình (mi/h) (mi/h=1.609km/h)
MV trọng lượng trung bình của xe (tấn)
WV số bánh xe trung bình
DP số ngày trong năm có lượng mưa tối thiểu là 0.254mm
Để tính toán lượng bụi thất thoát do hoạt động bốc dỡ (bốc dỡ đất) có thể dùng phương trình sau:
Trang 16E=0.0032 k(U5)1.3
(M2 )1.4
E = hệ số phát tán (lb bụi đi vào không khí/ tấn đất được lấy đi) (lb=0.4535kg)
U = tốc độ gió trung bình (mi/h) (mi/h=1.609km/h)
M = hàm lượng ẩm của vật liệu (%)
K hệ số liên quan đến kích thước hạt có thể lấy trong bảng sau:
Trang 17Ngoài ra, còn có những nguồn phát thải vào nước mặt va nước ngầm mà không thể kiểm soát được Những nguồn này có thể là nước mưa chảy tràn và nước rò rỉ trong bãi rác cũng như hoạt động của con người (làm đỗ, tràn, gây rơi vãi)
Bảng 2: các nguồn phát thải, lượng thải, mức độ ô nhiễm và nguyên nhân – yếu tố tác động
yếu tố ảnh hưởngVận chuyển (do
tràn và chảy đổ)
Một phẩn của thể tích chất được vận chuyển
Cao trong trường hợp chất vận chuyển là chất tinh khiết
Do tai nạn giao thông,các sự cố khi bốc dỡ xuống hàng
Kho lưu trữ
+Tràn
+Rò rỉ
Một phần của thể tích thùng chứa
Tốc độ nhỏ tuy nhiên có thể xảy ra liên tục trong thời gian dài đặc biệt khi thùng chứa trong long đất
Cao khi chất lưu trữ làchất tinh khiết
Cao khi chất lưu trữ làchất tinh khiết
Do cấu trúc của thùngchứa sai, các sự cố trong bảo quảnChế độ kiểm tra bảo trì, niên hạn sử dụng của thùng chứa
Đầu ra của hệ
thống xử lý
Khác nhau tùy thuộcquy mô của hệ thống, thường là lớn
Thấp do yêu cầu của luật
Thành phần, nồng độ đầu vào, thiết kế và vận hành hệ thốngBãi chon lấp
Trong trường hợp bãi
Tình trạng, đỉnh bãi chôn lấp, độ dốc, lượng mưa và thời
Trang 18Tốc độ thấp khi có lớp lót đáy, từ trung binhg đến cao khi không có lớp lót đáy, liên tục trong thời gian dài
hầu như không có
Từ trung bình đến cao
Từ trung bình đến cao
Đặc tính của đỉnh bãi chon lấp (độ dốc và tính thấm), do chon lấp chất lỏng , hệ thống thu gom nước
rò rỉĐặc tính của đỉnh bãi chon lấp (độ dốc và tính thấm), do chon lấp chất lỏng , hệ thống thu gom nước
rò rỉ, đặc tính của lớp lót đáy
có lớp lót, trung bìnhđến cao khi không
có lớp lót, liên tục theo thời gian
Cao khi trữ các chất nguy hại
Cao khi lưu trữ CTNH
Cấu trúc sai, do lũ lụtTính thấm của lớp lót,chiều sâu của CTNH
2 Sự lan truyền của chất ô nhiễm trong đất
Trong đất sự dịch chuyển của chất ô nhiễm phụ thuộc rất lớn vào dòng nước ngầmtrong đất Không gian chứa nước và sự phân bố của nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn
Trang 19đến sự lan truyền của chất ô nhiễm Để có thể hiêu rõ về dòng nước ngầm hình thành trong đất có thể xem hình dưới đây
Chu trình nước cho thấy khi bắt đầu việc kết tụ của nước trên mặt đất do mưa, mưa đá, tuyết sẽ hình thành một vòng chảy tràn trên mặt đất Dòng nước chảy tràn trên mặt đất này sẽ thấm xuống dưới đất thành nước ngầm, phần còn lại sẽ chảy về các vùng trũng (vùng tụ thủy) hình thành các dòng chảy như suối, song và cuối cùng chảy ra biển Lượng nước ngầm thấm xuống đất và lượng nước chảy trên bề mặt tiếp tục quay vóng vào khí quyển do bay hơi, phần còn lại trong đất sẽ thấm xuống và tùy theo cấu trúc địa tầng mà hình thành các tầng chưa bão hòa nước và tầng chứa nước Tùy theo cấu trúc địa tầng nước sẽ có xu hướng dịch chuyển đi lên mặt đất hay hướng
về chỗ trũng Quá trình dịch chuyển và hướng dịch chuyển của nước trong đất sẽ phụ thuộc rất lớn vào thành phần đất ví dụ đối với tầng chứa cát và sỏi nước sẽ có xu hướng thấm ngang hơn thấm dọc Lưu lượng dòng chảy của nước ngầm trong đất có thể ước tính bằng cách xử dụng công thức Darcy
Trang 20h1 chiều cao cột áp tại vị trí 1(cm)
h2 chiều cao cột áp tại vị trí 2(cm)
l khoảng cách giữa hai vị trí
Trang 21Do trong đất có lỗ xốp và quá trình dịch chuyển của dòng chảy trong đất là sự dịchchuyển qua các lỗ xốp vì vậy có thể tính lưu lượng theo công thức biến đổi Darcy nhưsau
Av diện tích mặt cắt ngang hữu ích của dòng (diện tích lỗ xốp m2)
Tuy nhiên đất mỗi nơi đều có thành phần và cấu trúc khác nhau, điều này sẽ dẫn đến tố độ thấm khác nhau Để đánh giá khả năng dẫn nước của đất, người ta sử dụng giá trị độ dẫn nước (transmissivity) của đất để đánh giá
T =k t(cm 2/s)
K= hệ số thấm (cm/s)
t= độ dày của tầng nước (cm)
Cơ chế lan truyền chất ô nhiễm trong đất
Chất ô nhiễm trong đất tồn tại ở rất nhiều dạng (hay pha) khác nhau tùy theo bản chất lý hóa của chất ô nhiễm Chất ô nhiễm có thể hòa tan trong nước ngầm, tuy nhiên xét theo phương diện hẹp, quá trình này liên quan trực tiếp đến kích thước hạt
và độ xốp của đất Khi dịch chuyển trong đất, chất ô nhiễm (hay nói cách khác là dòng chứa ô nhiễm) không đi xuyên qua các hạt đất mà đi qua các khoảng trống trongđất như hình sau: