1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Proceedings VCM 2012 99 hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm

6 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm An automatic system in the inductor product assembling machine Nguyễn Ngọc Phương, Phạm Văn Toản, Lê Phương Long Trường Đ

Trang 1

Hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm

An automatic system in the inductor product assembling machine

Nguyễn Ngọc Phương, Phạm Văn Toản, Lê Phương Long

Trường Đại học Lạc Hồng e- Mail: toanlhu@gmail.com

Tóm tắt

Bài báo này giới thiệu hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm tại công ty Nectokin (100% vốn Nhật Bản) Sản phẩm máy lắp ráp tự động đã được đưa vào hoạt động tại doanh nghiệp với năng xuất 2,3s/1 sản phẩm, gấp 3 lần so với sản xuất thủ công Giảm 3 nhân công lắp ráp bằng tay/1 ca xuống còn 1 máy và 0,25 công nhân coi máy Tỷ lệ sản phẩm lỗi 0,01%

Abstract

In this paper Introduce an automatic system in the inductor product assembling machine at the Nectokin Company The study concludes that the assembly machine is applied for this company, the operation of machine carried out 2,3 seconds/models increasing 3 times with manual methods and decreasing error of machine is 0,01%

Keyword: Assembly system, Automatic assembly

1 Giới thiệu

Hiện nay, vấn đề sử dụng các thiết bị máy tự

động thay thế sức lao động của con người là rất

phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp Sự

thay thế này đã giảm được phần nào những công

việc nhàm chán, thường xuyên phải tiếp xúc trực

tiếp với những hóa chất độc hại của người công

nhân, tăng chỉ số chất lượng sản phẩm và năng

suất đầu ra Trong khi đó việc trang bị các hệ

thống tự động được ngoại nhập có giá thành khá

cao, việc không làm chủ được hoàn toàn về công

nghệ sẽ gây ra những khó khăn trong việc sửa

chữa và bảo trì Chính vì vậy việc tự động hóa

trong sản xuất ngày càng được các doanh nghiệp

quan tâm hơn

Thực tế, hiện nay tại các doanh nghiệp chúng ta

đang sử dụng hàng trăm lao động cho một khâu sản

xuất, việc quản lý lao động trở nên phức tạp và sản

phẩm làm ra còn tùy thuộc vào lao động như tình

trạng sức khỏe, kinh nghiệm, tay nghề Trong khi

đó, những nước phát triển đã sản xuất ra số lượng

sản phẩm đúng với số lượng ta đã làm được chỉ với

những thiết bị máy và chỉ sử dụng một nhân công

duy nhất để trông coi trong trường hợp máy bị sự

cố kỹ thuật Việc tự động hóa trong sản xuất sẽ

đưa ra những sản phẩm với chất lượng đúng như

mong muốn và tiết kiệm chi phí sản xuất Một số

công ty trong nước bước đầu đã nghiên cứu tự

động hóa trong công nghiệp, công ty Vietcontrol

[1] đã chế tạo “Hệ thống đếm sản phẩm trong nhà

máy xi măng bằng cảm biến siêu âm” Hệ thống

được ứng dụng trong các nhà máy sản xuất xi

măng với việc tự động hóa các công ty xi măng sẽ tiết kiệm nhiều nhân lực cũng như hệ thống hoạt động chính xác hơn

Việc lắp ráp sản phẩm cuộn cảm (core SSR) cũng đang là vấn đề đặt ra cho nhiều doanh nghiệp trong nước Đặc biệt là việc thiết kế một hệ thống

tự động ứng dụng trong việc lắp ráp cuộn cảm Những vấn đề sau đây được đặt ra trong bài báo:

- Giải pháp xây dựng hệ thống được trình bày trong phần hai

- Phần ba trình bày cách thức thiết kế hệ thống

- Phần thứ tư là mô hình hệ thống điều khiển

- Phần cuối cùng nêu lên một số kết luận khi triển khai tại Công ty Nectokin

2 Giải pháp

Trong quy trình sản xuất sản phẩm cuộn cảm tại công ty Nectokin Việt Nam, cụ thể là công đoạn lắp ráp chi tiết 1 (core) và chi tiết 2 (bobbin) đang được thực hiện thủ công Công đoạn này đòi hỏi công nhân phải dùng tay giữ 3 chi tiết, phân biệt chiều trước – sau – úp – ngửa của hai chi tiết bobbin, đưa hai Bobbin đối xứng qua chi tiết core, dùng lực trên đầu ngón tay để ép hai mảnh bobbin vào khớp với nhau tạo thành hình khuyên ôm lấy core Với cách làm thủ công này tồn tại một số nhược điểm cần phải giải quyết: thứ nhất, việc lắp ráp bằng tay có thể xảy ra nhiều sai sót làm giảm chất lượng sản phẩm do trong quá trình lắp ráp

Trang 2

người công nhân không hoàn toàn tập trung, vấn

đề sức khỏe không tốt; thứ hai, với số lượng đơn

đặt hàng ngày càng tăng cao của sản phẩm core

SSR thì việc sản xuất thủ công không thể đáp ứng

được yêu cầu về thời gian; thứ ba, như nhóm tác

giả đã trình bày ở trên, với số lượng đơn đặt hàng

đang tăng cao đồng nghĩa với việc phải cần đến

một lượng lớn nhân công làm tăng chi phí sản

xuất; Thứ tư, do lực bóp trên đầu ngón tay phải đủ

lớn hai bobbin mới ăn khớp với nhau, bên cạnh đó

năng xuất của một công nhân cần phải đạt khỏang

6000 sản phẩm/1 ca Chính vì vậy nhiều công

nhân sau một thời gian làm việc đầu ngón tay

bưng mủ và rất ngại làm việc tại công đoạn này

lắp ráp

Chính những khuyết điểm được phân tích trên đã

khiến việc tự động hoá các qui trình đang là vấn đề

mà công ty quan tâm hàng đầu nhằm nâng cao

năng suất và chất lượng sản phẩm Qua quá trình

nghiên cứu thực tế tại công ty, phương án thiết kế

máy lắp ráp được đưa ra như hình 2

3 Thiết kế hệ thống

 Yêu cầu kĩ thuật sau khi cải tiến:

+ Tỉ lệ thành phẩm làm ra bị lỗi cho phép

là: 1/1000

+ Thời gian lắp ráp là 3 giây/1 sản phẩm

+ Một lần cấp 1000 bobbin (cho mỗi loại)

và 980 core (tương ứng 5 vỉ core)

+ Hệ thống hoạt động được trên hai loại

bobbin

 Nguyên lý cấu tạo

Từ sơ đồ khối hình 2 máy lắp ráp sản phẩm được

biểu diễn như hình 3 Máy bao gồm: cụm cấp

bobbin (4), cụm tách vỉ core (1), cụm cấp core (2),

cụm lắp ráp (3)

 Nguyên lý hoạt động của hệ thống

Chi tiết bobbin úp và ngửa được cấp hỗn độn, core được cấp theo chồng 5 vỉ Khi có tín hiệu vận hành chi tiết bobbin sẽ được phân loại ra đúng chiều úp – ngửa – trước – sau thông qua cụm cơ cấu cấp bobbin (4), song song đó cụm cơ cấu tách vỉ core (1) làm nhiệm vụ tách từng vỉ core sau đó tiếp tục thông qua cụm cơ cấu cấp core (2) tách thành từng hàng core đặt lên băng tải Băng tải vận chuyển core đến cụm lắp ráp (3), tại đây công việc lắp ráp được thực hiện khi bobbin úp – ngửa và core cùng

3 1 Cụm cơ cấu cấp bobbin

Trên thực tế có rất nhiều kiểu phễu cấp phôi tự động như cấp kiểu cánh gạt, giá nâng, đĩa quay, kiểu móc quay, ống hai nửa, định hướng bằng rãnh, rung động Tuy nhiên chi tiết bobbin có hình dạng khá phức tạp, đồng thời khi lựa cần lựa ra đúng chiều úp - ngửa - trước - sau để định vị được

do đó nhóm tác giả chọn phễu kiểu rung động Trong phễu cấp phôi kiểu rung động Dẫn động của các cơ cấu này có thể là các đầu rung điện từ,

cơ khí, khí nén hoặc thủy lực Tuy nhiên để dễ dàng điều chỉnh năng suất phôi ra vô cấp chọn đầu rung điện từ

Khi phễu rung chuyển động chi tiết sẽ tản ra xung quanh thành phễu và bắt đầu đi tới đầu mối cánh xoắn, phôi tiếp tục chuyển động theo cánh xoắn, chi tiết sẽ chuyển đồng theo cánh xoắn từ dưới phễu lên trên theo mặt phẳng nghiêng cho tới phần dẫn hướng úp Sau đó chi tiết tiếp tục lựa chiều trước – sau bằng phương pháp loại bỏ dựa vào khe

hở giữa các chốt định vị trên bobbin

Trang 3

3.2 Cụm tách vỉ core

Do core được cấp theo chồng 5 vỉ nên phải có cơ

cấu tách từng vỉ core Việc truyền động tách vỉ

core từ chồng ra có các phương án Sử dụng cơ

cấu truyền động xích tải để tách từng vỉ core, từ đó

vỉ core được băng tải vận chuyển tới cụm cơ cấu

tách core với phương pháp này có ưu điểm chế tạo

dễ dàng, rẻ tiền nhưng việc cấp sẽ rất mất thời

gian Sự dụng truyền vít me kết hợp khí nén có ưu

điểm định vị lấy từng hàng core chính xác nhưng

điều khiển phức tạp, khó thiết kế Sử dụng phương

án truyền động khí nén tách vỉ core kết hợp với

băng tải vận chuyển có ưu điểm chế tạo đơn giản,

giá thành thấp, điều khiển đơn giản Do đó chọn

làm truyền động cho cụm cơ cấu tách vỉ core

H 5 Cụm cơ cấu tách vỉ core

Cụm cơ cấu tách vỉ core được biểu diễn trên hình

5, gồm có hai bộ phận chính

 Bộ phận vận chuyển: động cơ (5) truyền

chuyển động quay thông qua xích lên băng tải (1)

 Bộ phận tách vỉ core: xi lanh (4) hạ từng

vỉ core xuống băng tải, chồng vỉ core được đặt vào

lồng chứa (3), xi lanh (6) đỡ các vỉ core còn lại

trên thùng chứa, do băng tải được thiết kế tách làm

hai nên cơ cấu tăng đơ (2) dùng chỉnh băng tải

Hình 6 trình bày sơ đồ giải thuật điều khiển cụm

tách vỉ core

3.3 Cụm cơ cấu cấp core

Do đặc điểm cấu tạo của core là sắt non giòn, dễ

vỡ và nằm trong bìa carton chống “shock” Chính

vì vậy phương án cấp core gặp nhiều khó khăn

 Dùng các thanh dẫn song song lấy 196 core (một vỉ core), sau đó chuyển trạng thái core

từ đứng qua nằm, từ đó tách từng core ra để làm nhiệm vụ tiếp theo Phương pháp này bên cạnh việc gây ra chấn động mạch làm rạn nứt core còn xẩy ra hiện tượng dính giấy ở giữa các lớp core đi theo

 Dùng nam châm điện kết hợp khí nén để cấp core cho máy, việc sử dụng nam châm điện sẽ

có ưu điểm xác định vị trí dễ dàng, thiết kế đơn giản, giá thành thấp Bài báo chọn phương án này

để thực hiện

Xi lanh (3) định vị trí lấy core và nhả core, nam châm điện (2) có nhiệm vụ hút core, xi lanh (1) định vị chiều cao lấy core, băng tải (4) vận chuyển core

Để thuận tiện cho quá trình lắp ráp chi tiết core phải ở trạng thái nằm Trong khi đó core được vận chuyển từ vỉ core lên băng tải ở trạng thái đứng, do

đó hệ thống được thiết kế hai băng tải có tốc độ quay khác nhau để đáp ứng yêu cầu xử lý trạng thái core úp

Hình 9 trình bày giải thuật điều khiển của cụm cơ

cấu cấp core

Trang 4

H 9 Giải thuật điều khiển cụm cấp core

3.4 Thiết kế cụm cơ cấu lắp ráp

Đặc điểm chi tiết bobbin có các chốt định vị nhỏ

được thiết kế so le nhau Do đó phải phân biệt

đúng chiều để lắp ráp ăn khớp với nhau Chi tiết

Bobbin nhỏ và có các rãnh định vị hẹp gần 0,3mm

nên khó định tâm được vào chi tiết bobbin phía đối

xứng qua core Từ đó phương án dùng xi lanh để

tác dụng lực ép cho việc lắp kết hợp với lòng

khuôn định vị cho hai chi tiết bobbin trên và dưới

đúng vị trí để quá trình lắp diễn ra một cách chính

xác và nhanh nhất

 Bobbin trên được định vị chính xác nhờ

lòng khuôn định vị trên và được giữ đúng vị trí

nhờ xi lanh kẹp (hành trình tay kẹp là 2mm) đến

khi quá trình lắp ráp kết thúc

 Bobbin dưới được định vị chính xác nhờ

lòng khuôn định vị dưới và được giữ chính xác

đúng vị trí nhờ lực hút (giác hút chân không) đến

khi quá trình lắp ráp kết thúc

 Core được định vị chính xác nhờ rãnh dẫn

core (được làm bằng vật liệu inox nhằm đảm bảo

core trượt trong rãnh dễ dàng, đồng thời không bị

ảnh hưởng bởi từ trường) và lực hút của nam châm

điện được gắn trên xi lanh hành trình 25mm

Cụm cơ cấu lắp ráp được trình bày trên hình 12

Cơ cấu dập dẫn hướng cho Bobbin gồm hai xi lanh (1)(6) có hành trình dài 25mm và 30mm loại 2 ty đảm bảo các khuôn định vị không bị xoay vô hướng Trên phần đầu của xi lanh được gắn với khuôn định vị, mục đích chính nhằm dẫn hướng có tính cưỡng bức chi tiết Bobbin trên đồng tâm với chi tiết Bobbin dưới nằm trong khuôn, hai mảnh bobbin được lắp chặt với nhau nhờ lực ép của hai

xi lanh trên và dưới

Trang 5

H 13 Giải thuật điều khiển cụm lắp ráp

Qua 4 cụm cơ cấu chính của máy, nhóm tác giả đã

trình bày một cách khái quát về từng cụm cơ cấu

của hệ thống Bản thiết kế hoàn chỉnh của máy

được trình bày trên hình 14

 Các thông số kỹ thuật của máy

 Kích thước (1200 *1000 *1200)

 Khối lượng 70kg

4 Hê thống điều khiển

Phân tích nguyên lý hoạt động của hệ thống, ta

thấy trên thực tế có các phương án điều khiển: vi

xử lý, PLC Điều khiển bằng vi xử lý có ưu điểm

giá thành thấp nhưng không ổn định, khó thay thế

và bảo trì Điều khiển bằng PLC có ưu điểm ổn

định, cài đặt các thông số đầu vào dễ nhưng giá

thành cao

Đứng trước một dự án hay một kế hoạch, đầu tiên các doanh nghiệp quan tâm tới vấn đề giá thành, lợi nhuận cũng như chất lượng sản phẩm Điều đó đặt ra cho tác giả phải lựa chọn phương án nào có tính khả thi nhất, mang lại hiệu quả cao nhất cho công ty Từ những ưu, nhược điểm đã phân tích ở trên, đồng thời để đáp ứng được yêu cầu của hệ thống nên phương án điều khiển bằng PLC được lựa chọn để thực hiện ([2][3][4])

Các thiết bị điều khiển hệ thống gồm có

+ Bộ điều khiển PLC Mitsubishi: PLC FX1N-60MR-001

+ Cảm biến sợi quang với bộ khuếch đại: E3X-NA11 (Omron)

+ Cảm biến quang: E3Z-D81 (Omron) + Bộ đếm H7EC-NV (Omron)

+ Bộ nguồn 24VDC-4.5A (Omron) + Biến tần 0.4kW-IE5 (LS)

+ Van Solenoid 24VDC 4V110-06 (SMC)

Trang 6

5 Kết luận

Bài báo đưa ra thiết kế, từ đó chế tạo thành công

máy lắp ráp tự động sản phẩm cuộn cảm core SSR

Qua quá trình vận hành chạy thử nghiệm sản phẩm

đã đạt được các thông số yêu cầu của công ty đề

ra Sản phẩm đã được chuyển giao cho công ty

Nectokin (100% vốn Nhật Bản) Hình 17 mô tả

máy lắp ráp đã được đưa vào dây chuyền sản xuất

Nếu so với lắp ráp thủ công thời gian lắp ráp từ 7s

xuống 2,3s/ sản phẩm, gấp 3 lần so với sản xuất

thủ công Giảm 3 nhân công lắp ráp bằng tay/1 ca

xuống còn 1 máy và 0,25 công nhân coi máy Tỷ

lệ sản phẩm lỗi 0,01%

 Ý nghĩa khoa học: Ứng dụng tự động hóa

vào dây chuyền sản xuất của nhà máy Nhật Bản

 Ý nghĩa thực tế: Đây là thiết bị được chế

tạo, thực nghiệm và được doanh nghiệp nước

ngoài ứng dụng vào sản xuất

sản xuất

Bảng 1.Kết quả kiểm tra chất lượng của công ty

Tài liệu tham khảo

[1] Công ty cổ phần Vinacontrol, (2012) http://www.vinacontrol.com.vn

[2] Autonics, sensors & controllers – selection guide (2011), http://www.linearmotiontips.com/,

27 Sep 2011 [3] Misumi (2008), Standard components for press dies, http://cad.misumi.jp/en/press.html [4] Omron (2009), Programmable relay zen v2 units.,

http://www.davis.com/Category/Omron_ZEN_V2 _Programmable_Relays/58686

Phạm Văn Toản sinh năm

1979 Anh nhận bằng Đại học

về Cơ điện tử của trường Đại

học Lạc Hồng năm 2004 Từ năm 2004 đến 2009 anh là giảng viên của Bộ môn Cơ điện

tử Anh nhận bằng Thạc sỹ về

Kỹ thuật cơ khí của trường Đại

học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 Hiện anh là Phó trưởng khoa khoa Cơ Điện trường Đại học Lạc Hồng Hướng nghiên cứu chính là thiết kế và thực hiện các hệ thống tự động, điều

khiển, các hệ thống trong công nghiệp

Lê Phương Long sinh năm

1984 Anh nhận bằng Đại học

về Cơ điện tử của trường Đại

học Lạc Hồng năm 2007 Anh

nhận bằng Thạc sỹ về Kỹ thuật

cơ khí khuôn mẫu của trường

Đại học Khoa Học Kỹ Thuật và Ứng Dụng Cao Hùng (Đài Loan) năm 2009 Hiện anh đang công tác tại khoa khoa Cơ Điện trường Đại học Lạc Hồng Hướng nghiên cứu chính là thiết kế khuôn mẫu và thực hiện các hệ thống tự động, điều khiển, các hệ thống trong công nghiệp

Ngày đăng: 20/08/2015, 09:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  6  trình  bày  sơ  đồ  giải  thuật  điều  khiển  cụm - Proceedings VCM 2012 99 hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm
nh 6 trình bày sơ đồ giải thuật điều khiển cụm (Trang 3)
Hình 9 trình bày giải thuật điều khiển của cụm cơ  cấu cấp core. - Proceedings VCM 2012 99 hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm
Hình 9 trình bày giải thuật điều khiển của cụm cơ cấu cấp core (Trang 3)
H. 16  Sơ đồ kết nối mạch khí nén - Proceedings VCM 2012 99 hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm
16 Sơ đồ kết nối mạch khí nén (Trang 5)
Bảng 1.Kết quả kiểm tra chất lượng của công ty - Proceedings VCM 2012 99 hệ thống tự động ứng dụng trong máy lắp ráp sản phẩm cuộn cảm
Bảng 1. Kết quả kiểm tra chất lượng của công ty (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w