1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

62 690 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 512,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu khả năng thích ứng của các tổ hợp ngô triển vọng để làm cơ sở cho việc lựa chọn những giống ngô lai mới cho năng suất cao, chống chịu tốt phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh

Trang 1

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỤC THỊ YẾN

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT

SỐ GIỐNG NGÔ LAI TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Khóa học : 2013 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Minh Tuấn

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỤC THỊ YẾN

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT

SỐ GIỐNG NGÔ LAI TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Khóa học : 2013 - 2015

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

có chuyên môn, có đầy đủ năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển nông thôn nói riêng và nền kinh tế của nước nói chung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Nông học, tôi đã tiến hành thực tập tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên với tên đề tài:

“Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ Xuân năm 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa Nông học Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, thầy giáo: Th.S.Nguyễn Minh Tuấn,

Cảm ơn phòng sinh lý sinh hóa và các bạn sinh viên đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

Do thời gian hạn hẹp đề tài tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong sự đóng góp ý của các thầy cô giáo trong khoa và các bạn để bản báo cáo của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Lục Thị Yến

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2002- 2012 7 Bảng 1.2 Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012 8 Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2012 9 Bảng 1.4: Bảng dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 11 Bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2012 13 Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở các vùng trồng ngô chính của

Việt Nam năm 2011 14

Bảng 1.7: Tình hình sản xuất ngô của các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc từ 2009

- 2011 16 Bảng 1.8: Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2012 17 Bảng 3.1: Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân năm 2014 tại Thái Nguyên 34 Bảng 3.2: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai thí

nghiệm vụ Xuân 2014 39 Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai tham gia thí

nghiệm 42 Bảng 3.4: Đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm 44 Bảng 3.5: Tỉ lệ nhiễm sâu bệnh của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm vụ

Xuân năm 2014 46 Bảng 3.6: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai tham

gia thí nghiệm 48

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô tham gia thí

nghiệm 43

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT

CIMMYT : Trung tâm cải tiến Ngô và Lúa Mì Quốc Tế

FAO : Tổ chức Lương thực và Nông Nghiệp Liên Hợp Quốc IPRI : Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới

CV : Hệ số biến động

đ/c : Đối chứng

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

P1000 hạt : Khối lượng nghìn hạt

LSD.05 : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa 95%

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và yêu cầu 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Nguồn gốc và phân loại cây ngô 5

1.3 Tình hình sản xuất ngô trên Thế Giới và ở Việt Nam 7

1.3.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 7

1.3.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 11

1.3.3 Tình hình sản xuất ngô vùng Đông Bắc 15

1.3.4 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên 17

1.4 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và ở Việt Nam 19

1.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới 19

1.4.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam 20

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Vật liệu nghiên cứu 26

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26

2.4.2 Quy trình kỹ thuật 27

Trang 8

2.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá 29

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân năm 2014 34

3.2 Khả năng sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2014 38

3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm 41

3.4 Một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm 43

3.5 Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2013 tại Thái Nguyên 45

3.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 47

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

4.1 Kết luận 52

4.1.1 Thời gian sinh trưởng 52

4.1.2 Chống chịu sâu bệnh 52

4.1.3 Năng suất 52

4.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây ngô là một trong ba loại cây lương thực chính của loài người: lúa, lúa mì, ngô Đứng thứ ba về diện tích nhưng lại đứng đầu về năng suất và sản lượng, cây ngô góp phần nuôi sống 1/3 dân số thế giới Ngoài chức năng của một cây lương thực, ngô còn là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và còn là loại thực phẩm có giá trị

Dân số thế giới ngày càng tăng nhanh, thêm vào đó là sự phát triển cao của nền chăn nuôi đại công nghiệp đã đòi hỏi một khối lượng ngô trong thời gian tới, theo dự báo nhân loại phải sản xuất khoảng 852 triệu tấn ngô để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngô trên thế giới vào năm 2020

Để tăng sản lượng thì cần phải tăng diện tích và năng suất ngô lên cao tuy nhiên do dân số tăng nhanh nên khiến diện tích nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại vì vậy giải pháp tối ưu là phải tăng năng suất ngô Đã có nhiều nghiên cứu nhằm tăng năng suất ngô được các nhà khoa học tiến hành Trong

đó thành công lớn nhất có thể kể đến là việc ứng dụng hiện tượng ưu thế lai vào trong sản xuất

Ở Việt Nam, cây ngô được trồng lâu đời trên khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam Ngô giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nói chung và nền nông nghiệp nói riêng, đặc biệt với đồng bào miền núi, vùng cao thì ngô vẫn

là cây lương thực chính sau cây lúa cung cấp cho con người, ngoài ra ngô còn

là nguồn thức ăn cho gia súc, gia cầm

Không những thế, trong những năm gần đây ngô còn là cây thực phẩm

có giá trị Người ta dùng bắp ngô còn non, thu hoạch khi ngô vừa phun râu để làm rau ăn Tinh bột chiếm tỷ lệ 65- 83% khối lượng hạt ngô, là nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp gia công bột Tinh bột ngô sử dụng trong công

Trang 10

nghiệp bánh kẹo, dextrin dùng trong công nghiệp đúc, công nghiệp làm keo dán Tinh bột ngô còn dùng trong công nghiệp chế biến rượu, bia, nước giải khát Ngoài ra ngô còn là mặt hàng xuất khẩu Trên thị trường quốc tế, ngô đứng đầu danh sách trong những mặt hàng có khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn, thị trường tiêu thụ rộng, sự cạnh tranh giữa các nước có sản lượng ngô hàng hóa ngày càng gay gắt Thu nhập về ngoại tệ của ngô luôn luôn là nguồn lợi đối với nhiều nước Một số nước xuất khẩu ngô lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Pháp,…

Nguyên nhân dẫn đến năng suất ngô ở nước ta còn thấp là do ngô được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du, miền núi Điều kiện tự nhiên không ưu đãi, đất đai bạc màu, thời tiết khắc nghiệt Bên cạnh đó, tập quán canh tác của người dân còn lạc hậu, việc tiếp nhận kỹ thuật mới còn hạn chế Đặc biệt chưa

có bộ giống có tiềm năng năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng

Xuất phát từ lợi ích và nhu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi đã tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai

trong điều kiện vụ Xuân năm 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Chọn những giống ngô lai có khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu tốt thích nghi với điều kiện tự nhiên tại tỉnh Thái Nguyên cũng như các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Từ đó chọn tạo ra các giống ngô lai có triển vọng đưa vào cơ cấu giống cây trồng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và hiệu quả kinh tế cho người dân

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai mới chọn tạo

Trang 11

- Theo dõi đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai thí nghiệm

- Đánh giá khả năng chống chịu điều kiện bất thuận và sâu bệnh của các

tổ hợp lai thí nghiệm

- Đánh giá tiềm năng năng suất của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm

- So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng thích ứng của các tổ hợp lai được giống có triển vọng

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định được đặc tính nông sinh học, năng suất, khả năng chống chịu với một số loại sâu, bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận của các tổ hợp ngô mới chọn tạo

- Nghiên cứu khả năng thích ứng của các tổ hợp ngô triển vọng để làm

cơ sở cho việc lựa chọn những giống ngô lai mới cho năng suất cao, chống chịu tốt phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề tài sẽ lựa chọn được một số tổ hợp ngô lai có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu tốt, cho năng suất cao và ổn định, có chất lượng cao, thích nghi với điều kiện tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc, góp phần mở rộng diện tích các giống ngô mới làm tăng hiệu quả sản xuất

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Khả năng thích ứng của giống với các điều kiện sinh thái rất khác nhau Vì vậy, muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng thích ứng cũng như tiềm năng năng suất của các giống mới trước khi đưa ra sản xuất đại trà, từ đó tìm ra những giống thích hợp nhất đối với từng vùng sinh thái Ngày nay sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống cũ, năng suất thấp bằng các giống mới, năng suất cao, chống chịu tốt Đặc biệt là ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt, cho năng suất cao sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống, đồng thời góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số

Trong những năm gần đây, việc chọn tạo và đưa vào thử nghiệm trong sản xuất những giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định và thích nghi với những vùng sinh thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh các giống ngô tốt vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô

Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xét công nhận được nhiều giống ngô lai mới, các giống này đã phát huy hiệu quả tốt trên đồng ruộng

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã kéo theo sự phát triển của các vùng sản xuất Mục đích sản xuất ngô hàng hoá với sản lượng

Trang 13

cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường cần phải có những biện pháp hữu hiệu như đưa ra các giống ngô mới có nhiều ưu thế vào sản xuất thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp Vì vậy cần phải đánh giá tính khác biệt, độ đồng nhất, độ ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như chất lượng và hiệu quả kinh

tế của giống mới trước khi phát triển ra sản xuất

Xuất phát từ những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện

đề tài này để xác định được những giống ngô lai có triển vọng đưa vào sản xuất đại trà, góp phần làm tăng năng suất và sản lượng ngô của tỉnh

1.2 Nguồn gốc và phân loại cây ngô

* Vùng phát sinh

Những nghiên cứu về nguồn gốc cây trồng của Vavilop (1926) đã cho rằng Mexico va Peru là những trung tâm phát minh và đa dạng di truyền cây ngô Mexico là trung tâm thứ nhất (trung tâm phát sinh), vùng Andet (Peru) là trung tâm thứ hai, nơi mà cây ngô đã trải qua quá trình tiến hóa nhanh chóng Nhận định này của Vavilop được nhiều nhà khoa học đồng tình ủng hộ (Galinat, 1917;Wilkess, Wikes, 1988; Kto, 1984, 1988…)

Trang 14

- Giả thuyết coi ngô là con lai giữa ngô bọc Trung Mỹ và tripsacim Trung Mỹ với teosinte Hai giả thuyết thứ 3 và thứ 4 gọi là giả thuyết 3 phần (Thetriprtite theory) của Mangelsdorf va reeves (1993) đề xuất

- Giả thuyết coi cây ngô, teosinte va tripsacum bắt nguồn từ tổ tiên chung được Weatherwax đề xuất lần đầu tiên vào năm 1955 Hiện nay 3 loại cây trồng này vẫn tồn tại ở Châu Mỹ

- Giả thuyết teosinte (Beadle, 1939;Langham, 1940; Langley, 1941) cho rằng một hoặc nhiều đột biến đã xảy ra với cây teosinte (còn gọi là Euchleanamexicana) đã làm thay đổi một vài cấu trúc mà tạo nên cây ngô nguyên thủy

* Phân loại thực vật cây ngô

Ngô có tên khoa học là: Zea Mays L ( Zea là từ Hy Lạp để chỉ cây ngũ

cốc và Mays từ “Mahix” – là tên gọi cây ngô của thổ dân da đỏ Châu Mỹ) Cũng có thể từ “Mays” bắt nguồn từ chữ “Maya” là tên một bộ tộc da đỏ ở vùng Trung Mỹ- nơi xuất xứ cây ngô Zea thuộc chi Maydeae, họ hòa thảo

(Gramineae) Hiện nay thế giới có 2 cách phân loại đối với Zea:

Theo Wilkes (1967) thì ngô ở trong nhóm Zea nên có tên khoa học là Zea mays L Còn theo Iltis và Doebly (1984), nhóm Zea có nhiều loại phụ (subspecies) nên tên khoa học của cây ngô phải là: Zea mays subsp Mays

Từ loại Zea mays L, dựa vào cấu trúc nội nhũ của hại, ngô được phân làm các loại:

Zea mays L Subsp Indurate Sturt : Ngô đá rắn

Zea mays L Subsp Indentata Sturt : Ngô răng ngựa

Zea mays L Subsp Ceratina Kulesh : Ngô nếp

Zea mays L Subsp Sacharata Sturt : Ngô đường

Zea mays L Subsp Everta Sturt : Ngô nổ

Zea mays L Subsp amylacea Sturt : Ngô bột

Zea mays L Subsp Tunecata Sturt : ngô bọc

Trang 15

1.3 Tình hình sản xuất ngô trên Thế Giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Ngô là cây trồng có nguồn gốc lịch sử lâu đời và phổ biến trên thế giới,

so với các loại cây ngũ cốc khác thì ngô là cây lương thực có hàm lượng dinh dưỡng cao Vì vậy ngô sớm trở thành cây lương thực chính ở nhiều vùng trên thế giới, hiện nay cây ngô đã và đang tiếp tục khẳng định vai trò của nó Ngoài việc cung cấp lương thực cho con người, thì giá trị lớn nhất không thể thay thế được của cây ngô, đó là vai trò làm thức ăn cho chăn nuôi, có tới 66% sản lượng ngô trên thế giới dùng làm thức ăn chăn nuôi, trong đó ở các nước phát triển là 80-96% và các nước đang phát triển là 57%

Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, mặc dù chỉ đứng thứ 3 về diện tích sau lúa nước và lúa mì, nhưng ngô lại dẫn đầu về năng suất và sản lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu

Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997) [4] Do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2002- 2012 Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 16

Từ bảng 1.1 cho chúng ta thấy, năm 2002, diện tích ngô trên toàn thế giới 137,39 triệu ha, sau 7 năm con số này đã tăng hơn 23 triệu ha, lên 161,01 triệu ha Năm 2009 thì lại giảm xuống hơn 4 triệu ha, còn 156,93 triệu ha Đến năm 2011 so với năm 2002 thì diện tích trồng ngô trên thế giới tăng hơn

33 triệu ha lên 170,39 triệu ha Năng suất nhìn chung tăng lên năm 2002 là 44,06 tạ/ha đến năm 2011 là 51,84 tạ/ha tăng lên hơn 7 tạ/ ha So sánh giữa sản lượng và diện tích cho thấy, từ năm 2002 tới năm 2011 diện tích tăng hơn

33 triệu ha, sản lượng tăng hơn 278 triệu tấn Năm 2011 diện tích trồng ngô cao nhất là châu Mỹ sau đó là châu Á và châu Phi Năm 2011 diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới đều tăng so với năm 2010 đạt 170,39 triệu

ha và 883,46 triệu tấn So với năm 2011 thì đến 2012 diện tích trồng ngô tăng nhưng năng suất và sản lượng lại giảm Trên thế giới vẫn còn có nhiều quốc gia, châu lục trồng ngô

Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước

Như vậy, sản xuất ngô của thế giới ngày càng phát triển nhưng tập trung và phân bố không đều ở các khu vực: Châu Mỹ đứng đầu với 64,50 triệu ha chiếm 37,9%, Châu Á chiếm 32,1% và Châu Phi là 20,3% và Châu Âu còn lại là 9,7%

Bảng 1.2 Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012

Khu vực Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 17

Số liệu bảng 2.2 cho thấy năm 2012 sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới có sự khác biệt cả về diện tích, năng suất và sản lượng Về diện tích Châu Mỹ có diện tích sản xuất ngô lớn nhất 67,7 triệu ha Châu Á đạt được 57,6 triệu ha đứng thứ hai về diện tích, châu lục có diện tích sản xuất ngô thấp nhất là Châu Âu có 18,32 triệu ha

Năng suất ngô của Châu Mỹ đạt năng suất cao nhất 61,8 tạ/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 17,51 tạ/ha, đứng thứ hai về năng suất là Châu Âu đạt 51,7 tạ/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 15,54 tạ/ha, thấp nhất là Châu Phi với năng suất là 20,7 tạ/ha

Nhờ có diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô của Châu Mỹ tăng lên nhanh chóng đạt 438,38 triệu tấn chiếm 49,7% tổng sản lượng ngô của các Châu Lục Đứng thứ 2 về sản lượng là Châu Á đạt 270,86 triệu tấn chiếm 30,7% Châu Phi có sản lượng thấp nhất mới chỉ đạt 65,05 triệu tấn chiếm 7,4%

Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các châu lục trên thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế chính trị … Ở châu Mỹ có trình độ khoa học phát triển cao trong khi Châu Phi nền kinh tế kém phát triển cộng thêm tình hình chính trị an ninh không đảm bảo đã làm cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực này tụt hậu so với nhiều khu vực trên thế giới (Nguồn FAOSTAT, 2014) [3] Hiện nay, tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới cũng đã

có nhiều thay đổi, thể hiện cụ thể qua bảng 1.3

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2012

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 18

Mĩ là nước có diện tích và sản lượng ngô lớn nhất thế giới với diện tích 35,4 triệu ha, sản lượng đạt 273,8 triệu tấn chiếm 31,4% sản lượng ngô thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 trên thế giới với 34,96 triệu ha đạt sản lượng 208,2 triệu tấn chiếm 23,9% tổng sản lượng ngô của thế giới Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích trồng ngô nhỏ (0,033 triệu ha) nhưng với trình độ khoa học cao, đầu tư lớn nên Isarel có năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 256 tạ /ha cao hơn gấp 5,2 lần so với bình quân năng suất ngô thế giới (năm 2012)

Theo FAO, việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ, Trung Quốc, Achentina, Hungari,(Ngô Hữu Tình, 2003)[6]

Trung Quốc được xem là cường quốc đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ,

và đứng thứ nhất trong khu vực Châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô lai với tốc

độ tăng trưởng ngày càng tăng Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia khác trên thế giới Các nước khác như Brazin, Israel, Đức mặc dù năng suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa được mở rộng Viện nghiên cứu Chương trình Lương thực thế giới (IPRI) dự báo tổng nhu cầu sử dụng ngô trên thế giới vào năm 2020 là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22% (IPRI, 2003)[2] Điều này được biểu hiện cụ thể qua bảng 1.4

Trang 19

Bảng 1.4: Bảng dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020

(triệu tấn)

Năm 2020 (triệu tấn) % thay đổi

(Nguồn: Số liệu thống kê của IPRI, 2003)[2]

Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, ngô, lúa mỳ, lúa nước là những cây lương thực vẫn chiếm vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn nhân loại Vì vậy, chọn các giống ngô năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp là một trong những giải pháp của nhân loại về vấn đề lương thực

Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó các nước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020 (85%) Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do dân số tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng mạnh, từ đó đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi

1.3.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam

Ở nước ta ngô là cây trồng nhập nội và mới được đưa vào trồng khoảng hơn 300 năm nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực của Việt Nam Do có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện sinh thái khác nhau, nên cây ngô đã khẳng

Trang 20

định được vị trí của mình trong sản xuất nông nghiệp Cây ngô đã trở thành cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, đồng thời là cây màu số một, góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Việt Nam Tình hình sản xuất ngô ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử phát triển không đồng đều Quá trình phát triển của cây ngô ở Việt Nam được chia thành ba giai đoạn chính, đó là:

Giai đoạn từ 1960 - 1980: Giai đoạn này chủ yếu sử dụng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng suất và sản lượng ngô rất thấp Theo thống kê năng suất ngô ở Việt Nam những năm 1960 chỉ đạt trên

10 tạ/ha, với diện tích hơn 200 nghìn ha; đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 11 tạ/ha và sản lượng hơn 400 nghìn tấn

Giai đoạn từ 1981 - 1992: diện tích tăng chậm, năng suất ngô tăng không đáng kể, từ 11 tạ/ha (1980) lên 15 tạ/ha (1992), bình quân mỗi năm tăng 3,5% Giai đoạn này đã sử dụng các giống thụ phấn tự do nhưng chủ yếu là giống tổng hợp, hỗn hợp nên năng suất vẫn còn thấp

Giai đoạn từ 1993 đến nay: đây là giai đoạn sản xuất ngô ở Việt Nam thực sự có những bước tiến nhảy vọt, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới Ngô lai là nguồn động lực mới, một nhân tố mới, một định hướng chiến lược trong chương trình nghiên cứu và phát triển ngô ở Việt Nam Năm 1990 chúng ta mới bắt đầu trồng ngô lai với diện tích thử nghiệm 5 ha, năm 2006 diện tích ngô lai đã đạt 84%, đưa năng suất ngô từ 15,5 tạ/ha lên 37,3 tạ/ha Việt Nam có tốc độ phát triển ngô rất nhanh chóng trong lịch sử ngô lai thế giới Đây là bước tiến vượt bậc so với một số nước trong vùng đã được CIMMYT đánh giá cao Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.5:

Trang 21

Bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2012 Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Ở Việt Nam cây ngô được trồng khắp hai miền Nam - Bắc, song do yếu

tố đất đai, thời tiết, khí hậu nên năng suất và sản lượng ở các vùng có sự khác biệt rõ rệt

Trang 22

Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở các vùng trồng ngô chính

của Việt Nam năm 2011

Vùng

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

bố đều trong năm nên năng suất không cao, năm 2011 năng suất là 36,5 tạ/ha thấp nhất trong cả nước Nhưng đây vẫn là vùng có sản lượng ngô lớn nhất, năm

2011 đạt 1696,2 nghìn tấn, chiếm 35,34% sản lượng toàn quốc

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích trồng ngô nhỏ nhất nhưng lại có năng suất cao nhất trong cả nước, năm 2011 năng suất ngô ở vùng này đạt 53,4 tạ/ha bằng 124,47% năng suất ngô cả nước

Từ những kết quả đạt được chứng tỏ vị thế của cây ngô trong sản xuất nông nghiệp Tuy vậy so với thế giới thì năng suất ngô ở nước ta còn thấp hơn nhiều, do đó rất cần có phương pháp phát triển một cách cụ thể để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cũng như theo kịp thế giới và bè bạn năm châu

Trang 23

1.3.3 Tình hình sản xuất ngô vùng Đông Bắc

Vùng Đông Bắc bao gồm 9 tỉnh (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang và Phú Thọ), là một trong các vùng trồng ngô có diện tích lớn ở Việt Nam Diện tích trồng ngô năm 2010 của vùng Đông Bắc là 196.200 ha, tuy diện tích lớn nhưng phân bố rải rác, đất trồng ngô có địa hình phức tạp, chủ yếu là thung lũng, thềm sông suối, độ cao so với mặt nước biển thay đổi từ vài trăm mét (Lạng Sơn) đến hơn nghìn mét (cao nguyên Đồng Văn - Hà Giang) Khí hậu của vùng Đông Bắc thường khắc nghiệt, hạn và rét kéo dài, lượng mưa không phân bố đều trong năm, đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất ngô của vùng

Mặc dù sản lượng ngô của vùng Đông Bắc chiếm tới 15,3% sản lượng ngô cả nước nhưng mới chỉ cung cấp được cho nhu cầu ngô của vùng, sản xuất ngô hàng hóa chưa nhiều Phần lớn diện tích trồng ngô của vùng là trồng trên đất dốc và nhờ nước trời, đầu tư thâm canh thấp, một số tỉnh có tỷ lệ giống ngô địa phương và giống ngô thụ phấn tự do cao, là nguyên nhân làm cho năng suất ngô đạt thấp hơn các vùng khác Các giống ngô địa phương và giống thụ phấn tự do tuy năng suất thấp nhưng lại có chất lượng và khả năng chống chịu tốt Mặt khác đồng bào miền núi vẫn canh tác theo tập quán cũ không thu hoạch ngô khi chín mà để “treo đèn” ngoài đồng, nên các giống ngô lai tuy có năng suất cao nhưng lại không thích hợp với tập quán canh tác này do dễ bị sâu bệnh sau thu hoạch tấn công, gây hại Tình hình sản xuất ngô của các tỉnh vùng Đông Bắc được trình bày ở bảng 1.8

Trang 24

Bảng 1.7: Tình hình sản xuất ngô của các tỉnh thuộc vùng

Đông Bắc từ 2009 - 2011

Diện tích (1.000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 25

rộng diện tích, do đó sản xuất ngô của vùng Đông Bắc đã và đang phát triển

chậm hơn so với các vùng ngô khác

1.3.4 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hơn một triệu người Thái Nguyên được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai nên có nhiều khả năng phát triển nông lâm nghiệp Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích tự nhiên Với địa hình đặc trưng là đồi núi xen kẽ với ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi dạng bát úp, nên việc canh tác nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do hệ thống tưới tiêu không thuận lợi Diện tích trồng ngô chủ yếu trên đất hai lúa (vụ Đông) và trên đất đồi dốc (vụ Xuân Hè) Trước năm

1995, ngô chủ yếu giống thụ phấn tự do, giống địa phương có năng suất thấp Cùng với sự chuyển biến của đất nước, Thái Nguyên cũng mạnh dạn thay đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đặc biệt là thay thế các giống thụ phấn tự do bằng các giống ngô lai Do đó cho đến nay diện tích và năng suất không ngừng tăng lên Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên được thể hiện qua bảng 2.9

Bảng 1.8: Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2012

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 26

Kết quả điều tra ở bảng 2.8 cho thấy: diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên cũng đạt được những tiến bộ đáng kể Từ năm

2006 đến 2011 diện tích trồng ngô toàn tỉnh tăng từ 15,3 nghìn ha lên 18,6 nghìn ha Tuy nhiên diện tích trồng ngô biến động thất thường qua các năm Năm 2006 cả tỉnh trồng được 15,3 nghìn ha, năm 2007 diện tích trồng ngô đạt được 17,8 nghìn ha Năm 2008 diện tích trồng ngô tăng mạnh, đạt 20,6 nghìn

ha, tăng 5,3 nghìn ha so với năm 2006 Nhưng đến năm 2010 diện tích ngô của tỉnh chỉ còn 17,9 nghìn ha, giảm 2,7 nghìn ha so với năm 2008, năm 2011 diện tích tăng đạt 18,6 nghìn ha, đến năm 2012 diện tích giảm xuống còn 17,9 nghìn ha

Năng suất ngô của Thái Nguyên cũng biến động thất thường Năm 2006 năng suất ngô của tỉnh đạt 35,2 tạ/ha, năm 2007 tăng lên đến 42,0 tạ/ha nhưng lại giảm mạnh trong các năm sau Năm 2010 năng suất ngô đạt tăng nhẹ 42,1 tạ/ha tăng 0,1 tạ/ha so với năm 2007 năm 2011 là 80,6 nghìn tấn, giảm 4 nghìn tấn so với năm 2008 Năm 2012 năng suất ngô của tỉnh đạt 42,2 tạ/ha, sản lượng là 75,5 nghìn tấn

Những năm gần đây Thái Nguyên đã chuyển đổi cơ cấu giống, sử dụng các giống ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12, LVN99, và một số giống ngô nhập nội như: Bioseed9607, DK999, NK4300, C919 vào sản xuất

Như vậy để có năng suất và sản lượng ngô cao và ổn định chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và chọn tạo các giống ngô năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng là một trong những nơi được chọn để khảo nghiệm nhiều giống ngô mới, cùng với việc hợp tác liên kết với Viện nghiên cứu ngô và các tỉnh khác nơi đây đang tiến hành rất nhiều

Trang 27

chương trình nghiên cứu chọn tạo giống ngô, trong tương lai đây sẽ là một trong những trung tâm giống của phía Bắc

1.4 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới

Trong hai thế kỷ XVI và XVII, người Châu Âu đã tiếp thu cây ngô từ người da đỏ nhưng chưa có cơ sở đi xa hơn so với những gì mà người da đỏ

đã làm được Đối với cây ngô những phát hiện khoa học quan trọng chủ yếu tập trung vào thế kỷ XVIII

Năm 1976, Cottin Matther là người đầu tiên nghiên cứu thí nghiệm về giới tính ở ngô Ông đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo ở cây ngô tại Massachusettes 8năm sau Matther, Paul Dudly đã đưa ra nhận xét về giới tính của ngô và cho rằng đó đã giúp ngô thực hiện quá trình thụ phấn Năm

1876, Chrles Darwin tiến hành thí nghiệm với hàng loạt cá thể giao phối và tự thụ phấn ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông đã quan sát thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nảy mầm của hạt, số quả trên cây và sức chống chịu với điều kiện bất thuận và năng suất hạt

Trong quá trình nghiên cứu về ngô, hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm Nhà nghiên cứu người Mỹ Bill tiến hành nghiên cứu từ năm 1876, ông đã thu được con lai có năng suất cao hơn

bố mẹ từ 10-15% Năm 1990, Shull đã đưa ra ý kiến sản xuất hạt giống ngô lai F1 bằng lai đơn nhằm tạo ra sự đồng đều cao nhất, các dòng bố mẹ càng thuần chủng, tạo ưu thế lai càng mạnh Đầu năm 1917, Jones đã đề suất sử dụng hạt lai kép trong sản suất để giảm giá thành hạt giống, tạo điều kiện cho cây ngô phát triển mạnh ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến Năm 1966, trung tâm cải tiến giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại Mêxico, nhiệm vụ của Trung tâm này là nghiên cứu đưa ra

Trang 28

giải pháp, tạo giống ngô thụ phấn tự do làm bước chuyển tiếp giữa ngô địa phương và ngô lai Trong 30 năm hoạt động trung tâm đã đóng góp đáng kể vào việc xây dựng, phát triển và cải thiện hoạt động vốn gen, quần thể và cho

80 quốc gia trên thế giới

Hiện nay diện tích trồng ngô lai trên thế giới ngày càng tăng, trong đó các giống ngô lai đơn được sử dụng có ưu thế lai cao nhất, nhưng giá thành của hạt giống ngô cao, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc đẩy nhanh diện tích trồng ngô lai Để khắc phục tình trạng này, các nhà chọn tạo giống ngô đã tiến hành tạo ra các gống ngô lai ba, lai kép cho năng suất hạt giống cao, giá thành hạ ưu thế lai cao

Có thể nói, ngô lai là một trong những thành tựu khoa học nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới, nó đã làm thay đổi không những bức tranh về ngô của quá khứ mà làm thay đổi cả quan niệm các nhà hoạch định chiến lược, các nhà quản lý kinh tế và với từng người dân Ngô lai là “một cuộc cách mạng xanh” của nửa thể kỷ 20, tạo ra bước nhảy vọt về sản lượng lương thực, sang thế kỷ 21 ngô sẽ là cây lương thực đầy triển vọng trong chiến lược sản xuất lương thực và thực phẩm (Ngô hữu Tình, 2009) [7]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam

Ở Việt Nam ngô là cây trồng nhập nội nên nguồn gen hạn hẹp, công tác nghiên cứu về ngô của nước ta cũng chậm hơn nhiều so với các nước trên thế giới Giai đoạn 1955 – 1970 các nhà khoa học cũng đã được bước đầu điều tra

về thành phần loài và giống ngô địa phương Các chuyên gia Việt Nam trong một thời gian dài đã nỗ lực thu thập nguồn vật liệu khởi đầu trong nước, hợp tác với trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) trong việc thu thập đánh giá, phân loại nguồn nguyên liệu cũng như đào tạo cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu ngô, đặt nền tảng cho mọi hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ sản xuất ngô ở Việt Nam

Trang 29

Theo các nghiên cứu phân loại ngô cho thấy ở Việt Nam ngô chủ yếu có hai loại phụ là ngô đá rắn và ngô nếp Trên cơ sở đánh giá các giống địa phương, các nhà khoa học đã chọn những giống tốt và tiến hành chọn lọc phục vụ cho sản xuất (Cao Đắc Điểm, 1988) [2]

Ở nước ta chương trình chọn tạo giống ngô lai được tiến hành song song với chương trình chọn tạo giống ngô thụ phấn tự do Quá trình nghiên cứu, chọn tạo giống có thể chia làm 3 giai đoạn như sau:

* Giai đoạn từ sau giải phóng miền nam đến trước năm 1990: Trên

cơ sở tập đoàn nguyên liệu thu thập trong nước kết hợp với nguồn nhập nội chủ yếu từ CIMMYT, chúng ta đã chon tạo và đưa ra sản xuất một loại giống thụ phấn tự do như MSB49 công nhận giống năm 1987, TSB2 công nhận giống năm 1987, TSB1 (1990), HLS (1987)… nhờ thay đổi cơ cấu giống nên năng suất ngô năm 1990 đạt 1,55 tấn/ha

* Giai đoạn 1990 - 1995: Các nhà nghiên cứu ngô nước ta đã chú trọng

hơn vào việc phát triển các dòng thuần để tạo giống ngô lai Ở Việt Nam, chương trình chọn tạo giống ngô lai đã được bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Hồng Uy, 1999) [13] Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thử nghiệm đã không đạt kết quả như mong muốn do nguồn vật liệu không thích hợp trong điều kiện nhiệt đới ẩm, ngày ngắn của Việt Nam

Những năm đầu của thập kỷ 90, với chính sách mở cửa, ngô lai ở Việt Nam là một trong những cây hội nhập sớm nhất Cuộc cách mạng về ngô lai ở nước ta đa được nhà nước đặc biệt quan tâm Năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt do áp dụng vào thành tựu ngô lai vào sản xuất Do cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được một số khâu trong quá trình sản xuất giống ngô lai, nên ngô lai chưa phát huy được hết vai trò của nó Vì vậy, để chương trình ngô lai phát triển các nhà khoa học Việt Nam

đã đưa ra các định hướng rất rõ ràng:

Trang 30

+ Thu thập, bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu ngô trong nước, đặc biệt là những nguồn nguyên liệu quý về tính chống chịu, chín sớm, chất lượng cao làm lương thực

+ Nhập nội những nguồn nguyên liệu ngô nhiệt đới, quan tâm đến tính chống chịu của các giống này Chú trọng các nguồn nguyên liệu chín sớm, ngô thực phẩm như: ngô nếp, ngô đường, ngô rau, ngô có hàm lượng protein cao (Trần Hồng Uy, 1999 ) [13]

Ở giai đoạn này, sử dụng các giống lai không quy ước Những giống lai không quy ước được sử dụng trong sản xuất là giống LS6, LS8 thuộc loại lai đỉnh kép không những cho năng suất cao mà quá trình sản xuất hạt giống cũng dễ dàng, giá thành hạt giống rẻ, mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất Việc sử dụng giống lai không quy ước như cuộc diễn tập cho các nhà tạo giống và nông dân sản xuất giống lai quy ước - những giống đòi hỏi có điều kiện sản xuất cao hơn

* Từ 1995 đến nay

Cây ngô ở Việt Nam thực sự phát triển khi các công ty nước ngoài xâm nhập thị trường ngô Việt Nam, họ là đối tác để nông dân Việt Nam lựa chọn hướng hoạt động, nghiên cứu, sản xuất Dưới sức ép của kinh tế thị trường đòi hỏi các đơn vị nghiên cứu sản xuất, cung ứng giống Việt Nam muốn tồn tại phải nhanh chóng hòa nhập, thúc đẩy nhanh quá trình nghiên cứu thành công

và đưa vào sản xuất Vì vậy, các nhà nghiên cứu ngô nước ta đã nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất các giống ngô lai quy ước (Viện nghiên cứu ngô, 1996) [16]

Các nhà khoa học đã xây dựng quỹ gen ngô Việt Nam bằng cách thu thập các quần thể địa phương nhưng quan tâm chủ yếu đến việc nhập các vật liệu ngô từ các nước, các cơ quan nghiên cứu quốc tế như: CIMMYT dưới dạng vốn gen, quần thể và giống lai

Trang 31

Trong tập đoàn giống của Viện nghiên cứu ngô đang bảo tồn hơn 3000 dòng tự phối từ đời F6 trở lên, 470 mẫu giống thụ phấn tự do, trong đó nguồn nhập nội là 293, nguồn địa phương là 150 và các quần thể tự tạo theo các chương trình chọn tạo giống, số lượng các quần thể tự tạo đang được khai thác là 27 (Ngô Hữu Tình, 1999) [5]

Các nhà khoa học Việt Nam đã điều tra, thu thập, bảo tồn và phân loại

584 nguồn nguyên liệu ngô Duy trì nghiên cứu khoảng 6000 hàng dòng/năm

từ 580 nguồn dòng hiện có

Nhờ làm chủ được công nghệ lai tạo, nhiều giống ngô lai mới năng suất cao, chất lượng tốt đã được công nhận phục vụ cho sản xuất ngô ở các vùng trong cả nước với giá thành thấp chỉ bằng 70% giá giống của các công ty nước ngoài

- Các giống ngô lai mới do Việt Nam chọn tạo rất phong phú, bao gồm: + Nhóm giống dài ngày: T6 (2000), LVN98 (2002)

+ Nhóm giống trung ngày: LVN12 (1995), LVN17 (1999), T9 (2004), VN8960 (2004), LHC9 (2004), LVN145 (2007)…

+ Nhóm giống ngắn ngày: LVN20 (1998), LVN25 (2000), LVN99 (2004), V98 (2004), VN6 (2005), HN45,…

- Nhóm giống ngô lai mới có tiềm năng, năng suất thấp hơn 10 tấn/ha đang được thử nghiệm như: SCI184, TB61, TB66, VN885, SX2017, SX2004, TT04-B1, LVN66, MB069,… (Nguyễn Khôi, 2008) [10]

- Ngoài việc quan tâm đến cải thiện năng suất, các nhà khoa học còn đầu

tư vào chương trình nghiên cứu và phát triển ngô chất lượng protein cao QPM (Quaility Protein Maize) Viện nghiên cứu ngô đã được hợp tác với CIMMYT trong chương trình nghiên cứu và phát triển ngô QPM, tháng 8 năm 2001 giống ngô lai chất lượng đạm cao HQ2000 đã được Hội đồng khoa học công nghệ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông cho phép khu vực hóa, có

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2002- 2012                    Chỉ tiêu - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2002- 2012 Chỉ tiêu (Trang 15)
Bảng 1.2. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012 - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.2. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012 (Trang 16)
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2012 - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2012 (Trang 17)
Bảng 1.4: Bảng dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.4 Bảng dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 (Trang 19)
Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở các vùng trồng ngô chính - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở các vùng trồng ngô chính (Trang 22)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 35)
Bảng 3.1: Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân năm 2014 tại Thái Nguyên - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân năm 2014 tại Thái Nguyên (Trang 42)
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai (Trang 50)
Hình 3.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô tham gia - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô tham gia (Trang 51)
Bảng 3.4: Đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm  Chỉ tiêu - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm Chỉ tiêu (Trang 52)
Bảng 3.6: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ xuân năm 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w