Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ
Trang 1VƯƠNG THỊ QUỲNH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ QUANG LANG - HUYỆN CHI LĂNG - TỈNH LẠNG SƠN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế và phát triển nông thôn Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2VƯƠNG THỊ QUỲNH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ QUANG LANG - HUYỆN CHI LĂNG - TỈNH LẠNG SƠN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế và phát triển nông thôn
Khoá học : 2011 - 2015 Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế
& PTNT, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS - TS Đinh Ngọc Lan, tôi
đã thực hiện đề tài: “ Đánh giá thực trạng xây dựng mô hình nông thôn mới tại
xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn”
Sau một thời gian tìm hiểu tại địa phương, đến nay đề tài đã được hoàn thiện Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS – TS Đinh Ngọc Lan,
người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Cục Thống kê, Ủy ban nhân dân Xã Quang Lang, các phòng ban trong xã, huyện Chi Lăng đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Vương Thị Quỳnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất xã Quang Lang năm 2014 37
Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Quang Lang năm 2014 43
Bảng 4.3 Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành trên địa bàn xã Quang Lang năm 2014 44
Bảng 4.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp của xã Quang Lang năm 2014 45
Bảng 4.5: Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng trên địa bàn xã Quang Lang năm 2014 46
Bảng 4.6 Tình hình chăn nuôi của xã Quang Lang năm 2014 48
Bảng 4.7: Tình hình thực hiện tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch 51
Bảng 4.8: Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông 51
Bảng 4.9 Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi 52
Bảng 4.10: Tình hình thực hiện tiêu chí điện 53
Bảng 4.11 Tình hình thực hiện cơ sở vật chất văn hóa 55
Bảng 4.12 Tình hình thực hiện tiêu chí bưu điện tại xã Quang Lang 56
Bảng 4.13 Tình hình thực hiên tiêu chí nhà ở dân cư 56
Bảng 4.14: Tình hình thực hiện tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất 59
Bảng 4.15 Tình hình thực hiện tiêu chí giáo dục 59
Bảng 4.16 Tình hình thực hiện tiêu chí y tế 61
Bảng 4.17: Tình hình thực hiện tiêu chí văn hóa 61
Bảng 4.18 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường 62
Bảng 4.19:Tình hình thực hiện hiện thống tổ chức chính trị 64
Bảng 4.20: An ninh trật tự xã hội 65
Bảng 4.21 Tổng kết các tiêu chí của xã so với tiêu chí chung 65
Bảng 4.22 Các kênh tiếp cận thông tin của người dân về mô hình nông thôn mới 66
Trang 5Bảng 4.23: Ý kiến của nông dân về chương trình xây dựng NTM tại xã Quang Lang 67 Bảng 4.24: Những công việc của người dân tham gia vào xây dựng chương trình nông thôn mới tại địa phương 67 Bảng 4.25: Ý kiến của người dân về chất lượng điều kiện cơ sở hạ tầng tại địa phương 68
Trang 6NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1 Các khái niệm nông thôn và phát triển nông thôn 5
2.1.2 Đơn vị nông thôn mới 6
2.1.3 Chức năng của nông thôn mới 7
2.1.4 Chủ thể xây dựng nông thôn mới 9
2.1.5 Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới 10
2.2 Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới 12
2.3 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới 14
2.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới 15
2.4.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới 15
2.4.2 Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội 16
2.4.3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập 18
2.4.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội 18
2.4.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn 19
2.4.6 Phát triển giáo dục đào tạo 19
2.4.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân 19
2.4.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông 20
Trang 82.4.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 20
2.4.10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn 20
2.4.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn 21
2.4.12 Các bước xây dựng nông thôn mới 21
2.5 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 22
2.5.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới - Kinh nghiệm của Hàn Quốc 22
2.6 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 25
2.6.1 Xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ninh 26
2.6.2 Tình hình xây dựng mô hình NTM tỉnh Vĩnh Phúc 28
2.6.3 Tình hình xây dựng mô hình NTM tại Hà Tĩnh 29
2.6.4 Một số kinh nghiệm rút ra qua việc triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới 31
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 3.1 Đối tượng và phạm vi ngiên cứu 33
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
3.2 Nội dung nghiên cứu 33
3.3 Phương pháp nghiên cứu 33
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội xã Quang Lang 35
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 35
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của xã Quang Lang giai đoạn 2012 - 2014 42
4.2.1 Dân số và lao động của xã Quang Lang năm 2014 42
4.2.2 Cơ cấu kinh tế của xã Quang Lang năm 2014 43
4.2.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của xã Quang Lang giai đoạn 2012 – 2014 44
4.3 Thực trạng nông thôn mới tại xã Quang Lang 50
Trang 94.3.1 Xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 50
4.3.2 Kết quả bước đầu tổ chức thực hiện Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 50
4.4 Đánh giá của người dân về xây dựng chương trình nông thôn mới 66
4.5 Những hạn chế yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân 69
4.5.1 Những hạn chế yếu kém 69
4.5.2 Nguyên nhân hạn chế yếu kém 69
4.6 Một số giải pháp nhầm đạt được tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn xã Quang Lang 70
4.6.1 Giải pháp về vốn 70
4.6.2 Giải pháp về quy hoạch 70
4.6.3 Giải pháp về giao thông, thủy lợi 71
4.6.4 Giải pháp về hỗ trợ người nghèo về nhà ở 71
4.6.5 Giải pháp về phát triển giáo dục đào tạo 71
4.6.7 Giải pháp phát triển kinh tế 72
4.6.8 Giải pháp phát triển các hình thức tổ chức sản xuất 73
4.6.9 Giải pháp về văn hóa – môi trường 73
4.6.10 Giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, giữ gìn an ninh trật tự 73
4.6.11 Các biện pháp khác 74
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Kiến nghị 76
5.2.1.Kiến nghị đối với các cấp chính quyền 76
5.2.2 Đối với người dân 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nhất là với Việt Nam, là nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm 70% dân số cả nước Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn là một một yêu cầu cũng như thách thức trong quá trình phát triển Nhận thức được vấn đề đó, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến vấn đề này Ngày 05/08/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 26 – NQ/TW về nông nghiệp, nông dân nông thôn Mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2020: “… Giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội nông thôn…”
Để triển khai Nghị quyết số 26 – NQ/TW, với chủ trương đưa nông thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm
2020, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số TTg về việc ban hành bộ tiêu trí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở bộ tiêu chí nông thôn mới này, các địa phương căn cứ để xây dựng, phát triển nông thôn Ngày 2 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Ngày 4 tháng 6 năm
491/QĐ-2010 Chính phủ ra Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, với mục tiêu: đến năn 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng ban hành thông
tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc hướng dẫn thực hiện Bộ
Trang 11tiêu trí quốc gia về nông thôn mới… Xây dựng nông thôn mới được tất cả các tỉnh trên phạm vi toàn quốc quan tâm, là chủ đề của nhiều hội thảo, hội nghị, đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng và Chính phủ Trên cơ sở các quyết định của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các địa phương sẽ tiến hành rà soát và xây dựng chương trình hành động để thực hiện thắng lợi xây dựng nông thôn theo bộ tiêu chí mới
Lô ̣c Bình , phía Tây giáp huyện Văn Quan , phía Bắc giáp huyện Cao Lộc , phía
quốc lô ̣ 1A Hà Nô ̣i - Lạng Sơn đi qua địa bàn huyện và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn qua ga Đồng Mỏ , mô ̣t trong những ga trung chuyển lớn , cho phép giao lưu đi la ̣i , trao đổi , vâ ̣n chuyển hàng hóa nhanh chóng , thuâ ̣n tiê ̣n từ Chi Lăng đi thành phố Lạng Sơn và xuôi về Hà Nội
Quang Lang là xã vùng 1 của huyện Chi Lăng, với 1.716 hộ, 6778 nhân khẩu gồm các dân tộc Tày, Nùng, Kinh và một số ít dân tộc Hoa và Mường cùng sinh sống ở 13 thôn bản Địa hình được phân chia gồm có vùng nửa núi đá vôi nửa thung lũng, núi đất đất, thung lũng, ngoài ra có Quốc lộ 1A, đường sắt tuyến Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua là lợi thế cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn nền sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ của Quang Lang nói riêng đang dần phát triển theo đà phát triển chung của cả nước nhưng nó cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn tồn tại cần được giải quyết Xuất phát từ thực
trạng đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực trạng xây dựng mô hình
nông thôn mới tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn”
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và mô hình nông thôn mới ở xã Quang Lang thời gian qua đề xuất các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương thời gian tới
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội của xã Quang Lang là cơ hội cho sinh viên khảo sát thực tế, áp dụng cơ sở lý thuyết vào thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm truyền thống của địa phương Là hình thức tập luyện trước khi ra trường + Nâng cao kiến thức đã được học và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
+ Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của bản thân trong quá trình nghiên cứu
Trang 131.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Nghiên cứu điệu kiện kinh tế - xã hội xã Quang Lang từ đó đưa ra các số liệu trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư - nghiệp làm cơ sở cho các nhà chuyên môn và người dân có những phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động trong trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện các công trình phúc lợi xã hội
Trang 14
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Các khái niệm nông thôn và phát triển nông thôn
2.1.1.1 Nông thôn
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn có
nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ
phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát
triển bằng vùng đô thị
Quan điểm khác lại nêu ra chỉ cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường Nhưng có ý kiến
khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp chủ yếu,
tức nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng đều từ sản xuất nông nghiệp
Những quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước Như
vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian, theo tiến
trình phát triển kinh tế xã hội
Trong điều kiện Việt Nam nhìn nhận dưới góc độ quản lý thì có thể hiểu
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân,trong đó có nhiều nông dân Tập
hợp cư dân này tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường
trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.” [6] 2.1.1.2 Phát triển nông thôn
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nông thôn Và đây là khái
niệm của Việt Nam, được tổng hợp quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế
xă hội của Chính phủ, khái niệm được hiểu là: “Phát triển nông thôn là một quá
trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết
là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của nhà nước và các tổ
chức khác”.[7]
Trang 152.1.1.3 Khái niệm nghèo
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo Nhưng Việt Nam thừa nhận
quan điểm về nghèo của Hội nghị chống đói nghèo của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băngkok - Thái Lan vào tháng 9/1993 Khái niệm
nghèo được thể hiện như sau: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương.”[8]
2.1.1.4 Hộ nông dân
Trong khi có rất nhiều khái niệm khác nhau về hộ nông dân thì ta chỉ có thể
tìm hiểu về một số khái niệm Và dưới đây là 1 trong những khái niệm đó: “Hộ
nông dân là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt
động khác như: Tiểu thủ CN, dịch vụ,.v v…”[9]
2.1.1.5 Kinh tế hộ nông dân
Khi nhắc đến khái niệm kinh tế hộ nông dân thì ta có thể nhắc đến khái niệm sau:
“Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa
vào lao động gia đình và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Ngoài ra có thể tiến hành trao đổi, bán cho người khác khi sản phẩm đó đối với họ là không cần thiết.”[6]
2.1.1.6 Thu nhập
Có thể hiểu thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng [10]
2.1.2 Đơn vị nông thôn mới
Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định đơn vị nông thôn mới có
3 cấp:
- Xã nông thôn mới (đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới);
- Huyện nông thôn mới (khi có 75% số xã nông thôn mới);
Trang 16- Tỉnh nông thôn mới (khi có 75% số huyện nông thôn mới)
Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung Ương kiểm tra việc công nhận xã nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện
có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới
2.1.3 Chức năng của nông thôn mới
2.1.3.1 Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại
Chính vì vậy, xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn
2.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Trải qua hàng nghìn năm phát triển, làng xóm ở nông thôn được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống Quy tắc hành
vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đó Ở đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai đại họa Cũng chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông
Trang 17thôn đặc thù Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Môi trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ
cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống
2.1.3.3 Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích luỹ trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Thành thị là hệ thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp
Trang 18ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên vv phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất vv Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp ứng được nhu cầu trở về với tự nhiên của con người Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều hoà cân bằng tâm lý con người Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có thể cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống Sự chung sống hài hoà giữa con người với tự nhiên có tác dụng thanh lọc và làm đẹp tâm hồn Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu đô thị ngày càng phát triển rầm rộ Do vậy, phải nên xây dựng nông thôn mới với những đóng góp tích cực cho sinh thái Có thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một đơn
vị có thể coi là nông thôn mới hay không Đồng thời phải phân biệt rõ không được lẫn lộn ranh giới giữa nông thôn với thành thị
2.1.4 Chủ thể xây dựng nông thôn mới
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, người nông dân thực sự là chủ thể xây dựng nông thôn, người nông dân phải tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá trình làm ra của cải vật chất, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc… đồng thời, cũng là người hưởng lợi
từ thành quả của nông thôn mới Chính vì vậy, nông dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới là yếu tố vừa đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới thành công, vừa đảm bảo phát huy được vai trò tích cực của nông dân
Trang 192.1.5 Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới
2.1.5.1 Động lực từ công nghiệp hóa và đô thị hóa
Xây dựng nông thôn mới XHCN nếu chỉ dựa vào nguồn đầu tư từ nhà nước hay chỉ tiến hành trong nội bộ nông thôn sẽ không tạo ra được động lực cũng như tính linh hoạt, mà cần phải đặt nó trong bối cảnh phát triển thành thị và nông thôn đồng hành với nhau, dựa trên những quan điểm hệ thống Thực tế, các vấn đề về nông nghiệp cần phải được giải quyết thông qua phát triển công nghiệp, các vấn đề
về nông dân phải giải quyết thông qua phi nông hóa, phát triển nông thôn phải song hành cùng phát triển thành thị Điều này cũng có nghĩa là việc giải quyết các vấn đề
“tam nông” không thể chỉ bó hẹp trong nội bộ nông thôn và nông nghiệp, mà cần phải xây dựng nên quan niệm phát triển thành thị và nông thôn song hành với nhau, xóa bỏ mọi ngăn cách giữa thể chế nông thôn với thành thị, phải đưa vấn đề phát triển nông nghiệp vào trong bố cục phát triển kinh tế quốc dân, đưa tiến bộ nông thôn vào tiến bộ chung của toàn xã hội, phải xem xét mục tiêu gia tăng thu nhập nông dân trong hệ thống phân phối và tái phân phối thu nhập quốc dân Chỉ có như vậy mới có thể giải quyết triệt để bản chất của các vấn đề “tam nông” Từ ý nghĩa này có thể thấy, các công trình xây dựng cải tạo nông thôn cho dù cũng rất quan trọng, nhưng không thể coi đó là động lực đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới XHCN Xây dựng nông thôn mới cần phải kết hợp chặt chẽ với đô thị hóa và công nghiệp hóa mới có sức mạnh và đảm bảo tính liên tục
Ý nghĩa của công nghiệp hóa ở đây không chỉ ở hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, mà còn ở chỗ cung cấp ngày càng nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dồi dào ở nông thôn Do vậy, đối với sự nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN, nhà nước cần phải ra các chính sách nhằm gia tăng sức thu hút của thành thị, xóa bỏ các chính sách gây cản trở đến sự chuyển dịch lao động và ngành nghề sang khu vực thành thị, không nên cố định các ngành nghề công nghiệp tại các khu vực nông thôn
Trang 202.1.5.2 Động lực từ nông dân phi nông hóa
Quá trình đi lên hiện đại hóa của một quốc gia cũng chính là quá trình chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đồng thời cũng là quá trình người nông dân tự do chuyển đổi thân phận của mình Trong quá trình này, nguồn lực lao động sẽ chuyển dịch không ngừng từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, từ nông thôn sang thành thị, đó cũng chính là quá trình phi nông hóa người nông dân Giải phóng thân phận phi nông hóa của nông dân là yêu cầu để phát triển nông thôn, đồng thời cũng là nhu cầu tất yếu của chính bản thân người nông dân
Giải quyết vấn đề việc làm cho người nông dân là một sự nghiệp to lớn, bên cạnh các biện pháp khai thác tiềm năng cung cấp cơ hội việc làm từ chính trong nội
bộ nông thôn ra, còn cần phải tích cực đẩy mạnh chuyển dịch nông dân sang thành
cư dân thành thị Muốn vậy, cần thiết phải xây dựng hình thành nên thị trường lao động bình đẳng giữa nông thôn với thành thị, để người nông dân có những cơ hội làm việc bình đẳng với cư dân thành thị, đồng thời tạo điều kiện để họ có thể gia tăng tố chất cạnh tranh trên con đường mưu cầu việc làm của mình Do vậy, xây dựng nông thôn mới XHCN cần đẩy mạnh đầu tư cho nguồn lực lao động nông thôn, hoàn thiện hệ thống giáo dục trong nông thôn, phổ cập rộng rãi khoa học kỹ thuật trong nông thôn, truyền bá rộng rãi các tư tưởng khoa học, tạo điều kiện cho nông dân đẩy mạnh cải thiện nông nghiệp cũng như thân phận nông dân của chính mình Xây dựng nông thôn mới XHCN phải lấy việc đẩy mạnh dịch chuyển nông dân làm cơ sở, chứ không phải lấy việc cố định người nông dân làm mục tiêu
2.1.5.3 Động lực từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và các tổ chức hợp tác
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN là phát triển hiện đại hóa nông nghiệp Hiện đại hóa nông nghiệp ở đây phải được hiểu là ngoài các điều kiện sản xuất hiện đại như thủy lợi, làm đất, đường sắt giao thông, viễn thông, thông tin vv., nó còn bao hàm chuyên nghiệp hóa trong các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp Một khi đã thực hiện kinh doanh gia đình và
Trang 21phát triển kinh tế thị trường trong nông nghiệp, thì nhất định cũng phải thực hiện chuyên nghiệp hóa các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp Đây còn là cơ sở
để gia tăng sức cạnh tranh quốc tế cho nông nghiệp Ngoài ra, trong điều kiện thị trường, thì chỉ có sự tham gia của các tổ chức nông dân mới có thể nâng cao giá trị nông sản phẩm, đây cũng chính là chức năng cũng như trách nhiệm của các tổ chức hợp tác nông dân Trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông thôn hay tổ chức các hệ thống dịch vụ xã hội hóa cũng như tham gia vào gia công sản xuất nông sản phẩm, tổ chức đào tạo xã viên để nâng cao tố chất cho người nông dân vv trong tất cả các quá trình này, tổ chức hợp tác nông dân phát huy vai trò không thể thay thế
2.2 Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26 – NQ/TW về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đánh giá thành tựu và hạn chế trong vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn 20 năm đổi mới, đồng thời nêu 4 quan điểm về các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đó là:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
+ Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Trang 22phù hợp với điều kiện của từng vùng ; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội
+ Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tình thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nhân dân”
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đề ra các giải pháp để đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới:
+ Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các
+ Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân + Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009, Quyết định 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 và Chương trình mục tiêu
Trang 23Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng:
Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tàng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến
và xây dựng nông thôn mới
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 đã xác định rõ định hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển
đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu
tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ;
bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển
2.3 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày
13 tháng 4 năm 2011 (liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương
Trang 24trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
(1) Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 và Quyết định
số 342 ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
(2) Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế
hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện (3) Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn (4) Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền xây dựng (5) Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân
và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
(6) Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
2.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới
2.4.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Nội dung:
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu:
Trang 25+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT, ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 của
Yêu cầu: Đạt tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.2 Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
Nội dung:
- Về giao thông:
+ Hoàn thiện đường xã, liên xã, đường xã xuống thôn bằng nhựa hóa hoặc bê tông hóa theo tiêu chuẩn đường ô tô cấp VI được quy định trong TCVN 4054-2005; + Hoàn thiện đường trục thôn, xóm được cứng hóa theo tiêu chuẩn 22TCVN 210:1992
+ Xây dựng đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa, trong đó phần lớn được cứng hóa theo tiêu chuẩn 22TCVN 210:1992 (hoặc tiêu chuẩn thiết
kế áo đường cứng 22 TCN 223-95);
+ Xây dựng đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN 4454/1987 của Bộ xây dựng
- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn đáp ứng Quy trình kỹ thuật điện nông thôn năm 2006 (QĐKT - ĐNT-2006)
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn:
+ Xây dựng, hoàn thiện trung tâm văn hóa, thể thao xã (gồm nhà văn hóa đa năng
và sân thể thao phổ thông) đảm bảo theo quy định của Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch
Trang 26+ Xây dựng, hoàn thiện nhà văn hóa và khu thể thao thôn
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn theo quy định của Bộ Y tế
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn
+Hoàn thiện trường mầm non, nhà trẻ có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 262:2002 và đảm bảo quy định theo Quyết định số 36/2008/QĐ-BGD&ĐT, ngày 16/7/2008 của Bộ Giáo dục về ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia;
+Hoàn thiện trường tiểu học có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng và quy định của Bộ Giáo dục;
+Hoàn thiện trường trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng và đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục về ban hành Quy chế công nhận trường đạt chuẩn quốc gia
- Xây dựng, hoàn thiện chợ nông thôn đạt chuẩn theo quy định
- Về bưu điện:
+ Xây dựng điểm phục vụ bưu chính viễn thông đạt chuẩn theo quy định của
Bộ Thông tin và Truyền thông;
+ Xây dựng điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet ở thôn
- Cải tạo, xây mới xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn:
+Xây dựng đê hoặc bờ bao chống lũ theo tiêu chuẩn hoàn chỉnh mặt cắt thiết
kế, cứng hóa mặt đê và đường hành lang chân đê, trồng cỏ mái đê, trồng cây chân
đê phía sông, phía biển; cống dưới đê vững chắc, đồng bộ với mặt cắt đê; lử lý sạt
lở đảm bảo ổn định; đảm bảo môi trường xanh sạch đẹp; có ban chỉ huy phòng chống lụt bão xã, có đội quản lý đê nhân dân, đội tuần tra, canh gác đê trong mùa mưa lũ theo quy định, hoạt động có hiệu quả;
+ Hoàn thiện các công trình tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, cấp nước sinh hoạt đảm bảo theo tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam đối với từng loại, phát huy trên 75% năng lực thiết kế, 100% công trình có chủ quản lý đích thực;
Trang 27+ Kiên cố hóa kênh mương (kể cả mương nội đồng);
- Hoàn chỉnh trụ sở xã: Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện đối nội,
, diện tích sử dụng của trụ sở đối với
- Nhà ở nông thôn: Chỉnh trang các khu dân cư hiện có; xóa nhà tạm, dột nát, xây dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng
Yêu cầu: đạt các tiêu chí 2,3,4,5,6,7,8,9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Yêu cầu: đạt tiêu chí 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội
Nội dung:
- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của chính Phủ
- Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo
- Thực hiện an sinh xã hội
Yêu cầu: đạt tiêu chí 11 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Trang 282.4.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Nội dung:
- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
Yêu cầu: đạt tiêu chí 13 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.6 Phát triển giáo dục đào tạo
Nội dung:
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo:
+ Đạt và duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, chống mù chữ Đảm bảo huy động trẻ 6 tuổi học lớp 1 đạt 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 80%) trở lên Ít nhất 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70 %) số trẻ nhóm tuổi 11-14 tốt nghiệp tiểu học, số còn lại đang học tiểu học
+ Phổ cập giáo dục trung học Đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm từ 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên Tỷ lệ thanh thiếu niên 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở từ 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên
+ Nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học phổ thông
+ Đẩy mạnh đào tạo nghề
Yêu cầu: đạt tiêu chí 5, 14 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Nội dung:
- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế (theo Quyết định 108/2007/QĐ-Tg, ngày 17/7/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ)
-Nâng cao tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
Yêu cầu: đạt tiêu chí 5 và 15 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Trang 292.4.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông
Nội dung:
- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa Phấn đấu xã
có trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa” theo Quyết định 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23/6/2006 (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch)
- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn Xã có Đài truyền thanh xã hoạt động có hiệu quả
Yêu cầu: đạt tiêu chí 6 và 16 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Chỉ đạo nhân dân xây dựng hố xí đảm bảo vệ sinh
- Thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường trên địa bàn xã:
+ Xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn xóm Các thôn đều có tổ vệ sinh, phát quang, khơi thông cống rãnh
+ Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải đạt yêu cầu chung theo quy định + Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang Nghĩa trang có khu hung táng, cát táng, nơi trồng cây xanh, lối đi thuận lợi, có quy chế quản lý nghĩa trang, mộ đặt theo hàng và xây dúng diện tích, chiều cao theo quy định đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định + Cải tạo, xây dựng các hồ sinh thái trong khu dân cư
+ Trồng cây xanh ở các công trình công cộng
Mục tiêu: đạt tiêu chí 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
Nội dung:
- Thành lập, duy trì đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị; đảm bảo không có trình trạng “trắng” các tổ chức này ở các thôn bản
Trang 30- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ
- Thu hút cán bộ trẻ về công tác tại xã
- Xây dựng ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Nâng cao chất lượng của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phấn đấu hàng năm, tổ chức Đảng, Chính quyền đạt “trong sạch vững mạnh”, các tổ chức khác đạt danh hiệu tiên tiến trở lên theo quy định của từng tổ chức
Yêu cầu: đạt tiêu chí 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
Nội dung:
- Ban hành, thực hiện nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu
- Hàng năm Đảng ủy có nghị quyết, UBND có kế hoạch về công tác an ninh,
xã đạt đơn vị khá trở lên trong “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Công
an xã đạt danh hiệu “Đơn vị tiên tiến” trở lên
- Đảm bảo cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo
an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Không để xẩy ra các hoạt động chống đối; không để xẩy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, các loại tội phạm, tai nạn giao thông giảm
Yêu cầu: đạt tiêu chí số 19 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
2.4.12 Các bước xây dựng nông thôn mới
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày
13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Trang 31Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình
2.5 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
2.5.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới - Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á
Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"
Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động
Trang 32của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á [10]
- Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản và phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm"
Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, o¬ne Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Phong trào "mỗi làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20 năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu, giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương.[17]
- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Tháng 3/2006 Trung ương Đảng cộng sản và Quốc vụ viện (Chính phủ) Trung Quốc công bố Bản “tài liệu số 1” Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề nông thôn; chủ trương xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” là nhiệm vụ chính của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 Tài liệu này đề cập những chiến lược cơ bản trong đó chú trọng đến “Điều chỉnh mối quan hệ trong phân phối thu nhập, quy phạm, trật tự phân phối: thu nhập, tăng thu nhập cho tầng lớp người có mức sống trung bình và thấp Kiên trì “Cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” đặc biệt là áp dụng nhiều biện pháp trong việc “cho nhiều” đối với nông dân; đồng thời đưa ra các giải pháp nhiều mặt về xây dựng nông thôn, vấn đề xã hội và dân chủ, khác với tài liệu các năm trước nói đến các vấn đề riêng biệt như sản xuất lương thực, thu nhập nông dân
và khả năng sản xuất nông nghiệp Việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc
đã vào một thời kỳ mới
Trang 33Có 5 lý do để đặt vấn đề xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới:
Một là: Nông nghiệp chưa đạt mức có thể làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế
xã hội và nâng cao sinh kế của nhân dân
Hai là: Sản lượng lương thực đạt 484 triệu tấn năm 2005, chưa đủ thoả mãn yêu cầu, so với năm cao nhất thấp hơn 30 triệu tấn
Ba là: Thiếu đất trồng trọt và nước là cản trở cho việc phát triển nông nghiệp Bốn là: Cần đầu tư nhiều hơn nữa vào nông nghiệp để tăng việc áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất
Năm là: Khoảng cách giữa đô thị và nông thôn đang tăng thêm
Thu nhập thuần đầu người của nông thôn Trung Quốc năm 2005 là 3.255 nguyên (402 USD), trong lúc của dân đô thị là 10.493 nguyên, cao hơn 322%, nếu lấy sự khác nhau về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa thì còn cao hơn nhiều Một nông thôn xã hội chủ nghĩa mới cần cho sự tăng nhu cầu trong nước Thu nhập và sức mua thấp của nông dân làm cho nhu cầu của nông thôn không mở rộng, năm 2005 chỉ chiếm 32,9% của giá trị bán lẻ trong nước Xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới sẽ tạo ra một xã hội hài hòa, công bằng và có lợi cho toàn dân.[17]
Năm mục tiêu của nông thôn xã hội chủ nghĩa là: năng suất nông thôn, cơ sở
hạ tầng, phát triển xã hội, dân chủ và mức sống Đây không phải là xây dựng làng
xã mới Phải chú ý đến hiệu quả và hệ quả trước mắt hơn là vào bề ngoài Phải sử dụng sự thương lượng dân chủ hơn là dùng chỉ thị Nông thôn phải phát triển tùy theo khả năng và đặc điểm bản thân, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng dự án
Tài liệu này đưa ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân, giảm gánh nặng cho họ và cụ thể hóa nhiệm vụ, chiến lược đề ra thành 32 biện pháp có lợi cho nông dân trong đó có phát triển nông nghiệp hiện đại, tăng thu nhập của nông dân và cải tiến cơ sở hạ tầng nông thôn Sau đây là tóm tắt nội dung các biện pháp:
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp: Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ
Trang 34thuế, đầu tư ngân sách, tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu, vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng
Cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và nhiều thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn Sẽ có các quy định để đảm bảo, điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông nghiệp Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển đất nông nghiệp nhỏ và bảo
vệ nước Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các cơ sở hạ tầng cần cấp thiết cho đời sống nông dân Chương trình nước sạch sẽ được thực hiện nhanh hơn, trước hết ở các vùng nước bị ô nhiễm Năng lượng sạch sẽ được áp dụng rộng rãi
2.6 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Ngày 16/5/2014, Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình
Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình giai đoạn 2010 – 2014 và phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2015 do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT Cao Đức Phát trình bày cho thấy, trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, cả nước đã triển khai thực hiện với sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự hưởng ứng và tham gia tích cực của người dân và đã đạt được kết quả bước đầu khả quan
Bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình được hình thành khá đồng bộ, nhiều
cơ chế chính sách được ban hành có tác dụng thiết thực và trở thành động lực thúc đẩy tiến bộ triển khai
Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” do Thủ tướng phát động đã có tác động đến sự quan tâm, hỗ trợ nguồn lực cao và động viên tinh thần của toàn xã hội đối với nông dân, nông thôn Hệ thống thông tin tuyên truyền về nông thôn mới hoạt động phong phú, liên tục đã động viên rất tích cực, kịp thời đến phong trào xây dựng NTM…
Trang 35Bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi được đổi mới, văn minh hơn, cơ sở hạ tầng thiết yếu được nâng cao, hệ thống, chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, thu nhập và điều kiện sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao
Với sự cố gắng của các cấp, các ngành từ Trung ướng đến địa phương đến thời điểm này đã có 185 xã đạt chuẩn NTM và gần 600 xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí, là một khích lệ lớn đối với phong trào xây dựng NTM
Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện Chương trình được nhấn mạnh là xây dựng NTM phải có quyết tâm chính trị cao, có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, chủ động, sâu sát , liên tục của các cấp ủy, chính quyền, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và của Ban Chỉ đạo để huy động cả hệ thống chính trị vài cuộc cùng với sự quan tâm của toàn xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng dẫn dắt và thúc đẩy thực hiện Chương trình
Khẳng định và tạo điều kiện về cơ chế chính sách để người dân thực sự làm chủ thể, phát huy vai trò tích cực của các thôn, bản, ấp trong xây dựng NTM là yếu
tố quyết định cho sự thành công của Chương trình
Nắm vững mục tiêu và hệ thống tiêu chí NTM để có cách làm chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và yêu cầu bức thiết của người dân ở từng địa phương; phát huy cao nguồn lực tại chỗ, lồng ghép các chương trình, dự án, lựa chọn, tập trung hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên tạo ra sự chuyển biến thực tế trên diện rộng, tạo niền tin vào Chương trình
Về công tác đẩy mạnh thực hiện Chương trình trong các năm 2014 – 2015 và tới năm 2020 tiếp tục nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu tới năm 2015 có 20% số
xã và tới năm 2020 có 50% xã đạt tiêu chí NTM; các xã chưa đạt chuẩn phải tăng từ
2 đến 3 tiêu chí/năm Đến năm 2015 phấn đấu có huyện đạt NTM, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hóa và cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập và chất lượng sống của dân cư nông thôn
2.6.1 Xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ninh
Với tinh thần vào cuộc tập trung, quyết liệt nên đến nay những mục tiêu đề ra cho năm 2011 đã được các địa phương cơ bản hoàn thành, 125 xã đã lập xong, tổ
Trang 36chức thẩm định đề án, đồ án quy hoạch cấp xã Các huyện Tiên Yên, Ba Chẽ, TX Quảng Yên đã hoàn thành đề án cấp huyện, tất cả các địa phương đã lập xong kế hoạch triển khai chương trình Từ đó, đã xác định được chính xác đến năm 2015 toàn tỉnh có 10/13 huyện cơ bản đạt tiêu chí huyện NTM, 82 xã cơ bản đạt tiêu chí
xã NTM Hiện nay, các địa phương đang khẩn trương đầu tư hoàn thành 53 trường học các loại, xây dựng hoàn thành 322 nhà văn hoá thôn (làng, bản), xây dựng 21 công trình cấp nước tập trung và hàng trăm công trình nhỏ lẻ về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, 43 công trình thuỷ lợi, 5 công trình xây dựng hạ tầng vùng sản xuất tập trung, đầu tư 50 công trình giao thông nông thôn với khối lượng thực hiện được khoảng 55km Đặc biệt, việc đầu tư hệ thống lưới điện nông thôn đã được tập trung chỉ đạo triển khai cao độ, đến nay Công ty Điện lực Quảng Ninh hoàn thành công tác ký kết hợp đồng xây lắp với các đơn vị trúng thầu, đã khởi công đồng loạt các công trình thuộc giai đoạn I gồm: Công trình điện nông thôn các
xã Hoành Mô, Đồng Văn, Tình Húc, Đồng Tâm (Bình Liêu); các bản: Lý Van, bản Máy Nháu, bản Cấu Phùng, Tài Chi (xã Quảng Sơn - Hải Hà); xã Bắc Sơn, phường Hải Hoà (thành phố Móng Cái) Và đã thực hiện xong công tác lựa chọn nhà thầu tư vấn thiết kế xây dựng công trình điện của giai đoạn II Đầu tư cho phát triển sản xuất đã được chú trọng hơn với trên 60 mô hình giảm nghèo, 13 dự án áp dụng cây, con, giống mới đang triển khai, được bà con nông dân tin tưởng và có nguyện vọng nhân rộng ra sản xuất đại trà trong thời gian tới như: Nuôi lợn rừng sinh sản ở thị xã Cẩm Phả, huyện Vân Đồn; nuôi cá rô đồng, cá rô đầu vuông ở các huyện Bình Liêu,
Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà; trồng cây sa mộc, cây ba kích ở Ba Chẽ, Hoành Bồ; nuôi cá rô phi tập trung ở Đông Triều, Quảng Yên
Cái được lớn nhất mà chương trình thu được sau 1 năm triển khai thực hiện
đó là nhận thức của người dân về xây dựng NTM đã có sự thay đổi thể hiện trên kết quả nhiều hộ dân tham gia đóng góp, hiến đất làm các công trình hạ tầng kỹ thuật
đất xây dựng nhà văn hoá
Trang 37tham gia hỗ trợ chương trình bằng các sản phẩm của mình hoặc cam kết đào tạo, sử dụng lao động trên địa bàn với tổng số kinh phí tương đương 6 tỷ đồng.[18]
2.6.2 Tình hình xây dựng mô hình NTM tỉnh Vĩnh Phúc
Chương trình MTQG xây dựng NTM là Chương trình kinh tế - xã hội lớn được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo thực hiện Căn cứ các quy định, hướng dẫn của Trung ương, tỉnh Vĩnh Phúc đã thành lập bộ máy chỉ đạo, quản lý công trình xây dựng NTM các cấp từ tỉnh tới cơ sở, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia công cuộc “ Vĩnh Phúc chung sức xây dựng nông thôn mới”
Ngay từ khi bắt tay vào tổ chức triển khai chương trình , BCĐ thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh xác định công tác quy hoạch xây dựng NTM là nội dung rất quan trọng, phải thực hiện trước một bước, làm tiền đề cho việc lập đề án xây dựng NTM và các dự án đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, phát triển cơ sở hạ tầng và các điểm dân cư nông thôn theo đúng định hướng Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, quyết tâm của các ngành Xây dựng, Nông nghiệp & PTNT , UBND các huyện, thành thị, các đơn vị tư vấn và BCĐ các xã, công tác quy hoạch xây dựng NTM được triển khai thực hiện đồng bộ trên địa bàn tỉnh Đến tháng 11/2011 tất cả 112/112 xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã lập xong quy hoạch và đề án xây dựng NTM được UBND cấp huyện phê duyệt Cùng với đó công tác tuyên truyền về xây dựng NTM cũng được các sở, ban, ngành, đoàn thể, các huyện phê duyệt Cùng với
đó xã tiến hành thường xuyên, liên tục để nọi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ
về ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình tạo sự thống nhất và đồng thuận cao trong toàn xã hội
Ngày 22/5/2014 tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành Sơ kết 3 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Sau 3 năm thực hiện, Vĩnh Phúc đã huy động mọi nguồn lực đầu tư trên 10.929,514 tỷ đồng, vận động nhân dân đóng góp
thôn Đến hết năm 2013, có 20 xã đạt chuẩn NTM, 45 xã đạt 10 – 17 tiêu chí, 47 xã
Trang 38đạt 5 – 9 tiêu chí, là tỉnh đứng thứ nhất cả nước về tỷ lệ tiêu chí và đứng thứ 2 về số
xã đạt chuẩn Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất của Trung ương, của tỉnh được triển khai kịp thời, sâu rộng; các mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả được chú ý nhân rộng; cơ cấu sản xuất, cây trồng, vật nuôi và mùa vụ của tỉnh đã chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa Gía trị thu nhập bình quân trên 1ha đất canh tác toàn tỉnh tăng từ 70 triệu đồng/ha năm 2009 lên 120 triệu đồng/ha năm
2012 Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 17 triệu đồng năm
2011 lên trên 27 triệu đồng/người năm 2013;tỷ lệ hộ nghèo giảm mỗi năm 1,5 – 2% Toàn tỉnh đã cứng hóa 84% đường trục xã, 80,2% đường trục thôn, xóm; 24,5% đường giao thông nội đồng, 100% số xã có lưới điện quốc gia với tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên v v
Thành công trong việc xây dựng NTM ở Vĩnh Phúc đó chính là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh tới cơ sở, cùng sự chỉ đạo điều hành sâu sát quyết liệt, luôn quan tâm ưu tiên bố trí nguồn lực Việc phân quyền được thực hiện rõ ràng, phân trách nhiệm cụ thể từng tiêu chí tới từng ngành, các cấp địa phương từ tỉnh tới thôn Bên cạnh đó, việc thay đổi nhiều cơ chế trong xây dựng NTM trên cơ
sở công khai minh bạch đã tạo được sự dân chủ và thống nhất trong nhân dân
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện nông thôn mới trên địa bàn tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế đó là : Vấn đề giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động chưa có giải pháp hữu hiệu, bền vững; nhận thức của một bộ phận nhân dân về vai trò chủ thể trong xây dựng NTM chưa đầy đủ, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước; hoạt động của BCĐ các cấp có nơi chưa thường xuyên, sâu sát, việc phát triển, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở chưa kịp thời, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn ít dẫn đến sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa bám sát thị trường, cơ chế giải ngân vốn Nhà nước hỗ trợ cho các công trình xây dựng NTM có khâu còn vướng mắc.[19]
2.6.3 Tình hình xây dựng mô hình NTM tại Hà Tĩnh
Tính đến năm 2014 tỉnh Hà Tĩnh đã công nhận 19 xã hoàn thành chương trình mục tiêu xây dựng NTM Cùng với 7 xã đạt chuẩn năm 2013, tính đến thời điểm
Trang 39này tỉnh Hà Tĩnh đã có 26 xã “về đích” trong chương trình trọng điểm này như Sơn Châu, Sơn Kim 1, Thạch Tân, Thạch Long, Xuân Viên, Xuân Mỹ, Kỳ Phương, Hương Trà, Hương Minh, Gia Phố, Cẩm Thăng, Cẩm Thành, Yên Hồ……
Mặc dù là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm của các tiêu chí xây dựng NTM thấp ( 4,1 tiêu chí/19 tiêu chí) nhưng với sự quyết tâm cao độ của lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền và đặc biệt là sự đồng lòng , hết sức của các tầng lớp nhân dân nên Hà Tĩnh đã đạt được thành quả đáng khích lệ trong công cuộc xây dựng NTM
Tỉnh xác định : “Xây dựng NTM có nhiều tiêu chí nhưng tỉnh xác định tiêu chí nâng cao đời sống của người dân là tiêu chí quan trọng nhất Xây dựng các tiêu chí khác đều là để phục vụ cho tiêu chí nâng cao đời sống của người dân Chính điều đó
đã làm cho người dân nhận thức được một cách sâu sắc rằng, xây dựng NTM là xây dựng đời sống tốt đẹp cho chính họ và xây dựng NTM không phải là ngày một ngày hai mà phải là một công việc lâu dài, liên tục Xây dựng NTM phải đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững và đồng đều”
Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hà Tĩnh cho biết, ngay từ đầu đã xác định Hà Tĩnh có những đặc thù riêng về điều kiện, hoàn cảnh Vì vậy, xây dựng NTM ở Hà Tĩnh phải có “ những màu sắc” riêng Ngoài các tiêu chí do trung ương quy định,
Hà Tĩnh đã xây dựng hệ các tiêu chí riêng với các yêu cầu cao hơn Trong đó, tiêu chí xây dựng khu dân cư kiểu mẫu, với 4 tiêu chí trọng tâm là kinh tế, cảnh quan, môi trường và văn hóa được xem là điểm nhấn Mặt khác, với chủ trương “ nâng đầu, đỡ cuối” để đảm bảo sự phát triển chung, đồng đều giữa các địa phương, văn phòng điều phối NTM tỉnh thường xuyên quan tâm đến các xã có tiêu chí thấp Hà Tĩnh phấn đấu đến ngày 30/06/2015 sẽ không còn xã 7 tiêu chí
Để đạt mục tiêu đề ra, Ban Chỉ đạo tỉnh đã triển khai tuyên truyền, hướng dẫ,
tổ chức tập huấn, lập đề án xây dựng NTM cho cán bộ cốt cán cấp huyện, xã trên địa bàn toàn tỉnh; tổ chức kiểm tra tận xã, làm việc với đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn Trong quá trình đó, vừa động viên, vừa hướng dẫn, đặc biệt đã phân tích kỹ tiềm năng, lợi thế và góp ý xây dựng đề án sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân Đó chính là “cốt” vật chất, là nội lực để xây dựng NTM
Trang 40Lâu nay, nói đến Hà Tĩnh là nói đến vùng đấ nghèo khó nhưng hôm nay khi
mà sự quyết tâm, đúng đắn của lãnh đạo chính quyền hòa quyện với sự đồng thuận của người dân – “ý Đảng hợp lòng dân” thì mảnh đất giàu truyền thống này đang
từng bước đổi thay, phát triển….[18]
2.6.4 Một số kinh nghiệm rút ra qua việc triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới
- Mô hình nông thôn mới cấp xã được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương Nhà nước hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã Đồng thời khơi dậy tinh thần và sức dân đóng góp tích cực tự giác vào xây dựng làng quê của mình
- Các hoạt động cụ thể của từng mô hình thí điểm do chính người dân ở đó bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định trên cơ sở các quy chuẩn của nhà nước có sự
tư vấn của cán bộ chuyên môn; Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng
- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường, vươn lên của nông dân; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú làm nền tảng tinh thần của giai cấp nông dân, tạo động lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới
- Thực hiện rà soát các chương trình, dự án có liên quan đến xây dựng nông thôn trên địa bàn Đối chiếu với tiêu chí nông thôn mới, nếu tiêu chí nào đang có chương trình, dự án triển khai nhưng mức đạt còn thấp do nguồn lực hạn chế thì
bổ sung để đẩy nhanh tiến độ; tiêu chí nào chưa có chương trình, dự án thì lập dự
án mới
- Trong quá trình thực hiện, nếu có những chính cách, cơ chế không phù hợp, cản trở chủ trương phát huy nội lực và quyền tự quyết của cộng đồng thì được áp dụng cơ chế đặc thù