Với nghị quyết và mục tiêu của Đảng, nhà nước đã đề ra nhằm phát triển sản suất trồng trọt có hiệu quả cao và bền vững theo hướng chú trọng đầu tư trọng tâm vào các loài cây trồng lợi t
Trang 1- -
BẾ VĂN HOÀNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU THỤ CÂY THUỐC
LÁ NGUYÊN LIỆU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THƢỢNG QUAN,
HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : KT & PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2- -
BẾ VĂN HOÀNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU THỤ CÂY THUỐC
LÁ NGUYÊN LIỆU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THƯỢNG QUAN,
HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : KT & PTNT
Khóa học : 2011 – 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS Lành Ngọc Tú Khoa KT & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khoá luận này trước tiên tôi xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và PTNT , cảm ơn các thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thây giáo ThS Lành Ngọc Tú đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập để tôi hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp này
Tôi cũng chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị trong UBND xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn cùng toàn thể người dân trong xã đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập, điều tra và nghiên cứu tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm cùng tập thể lớp K43-PTNT, Khoa Kinh tế & PTNT và toàn thể bạn bè - những người đã giúp đỡ tôi, cùng tôi chia sẻ khó khăn trong suốt quãng thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với cha mẹ, anh, chị - những người đã nuôi dưỡng, động viên tôi trong quá trình học tập để có được kết quả như ngày hôm nay
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Bế Văn Hoàng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lịch phun thuốc cho ruộng thuốc lá 11
Bảng 2.2: Thời điểm và ngưỡng sử lý các loại sâu bệnh 12
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất thuốc lá ở một số khu vực năm 2014 14
Bảng 2.4: Tỉ lệ hút thuốc lá theo giới tính ở một số khu vực trên thế giới 17
Bảng 2.5: Tỉ lệ hút thuốc phân theo giới tính của nước phát triển và các nước đang phát triển trên thế giới 18
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai xã Thượng Quan năm 2012 – 2014 28
Bảng 4.2: Bảng cơ cấu dân số xã Thượng Quan năm 2014 30
Bảng 4.3: Các thông tin cơ bản về nhóm hộ được điều tra tại ba thôn của xã Thượng Quan 33
Bảng 4.4: Tình hình sản xuất các loại cây trồng chính vụ Đông – Xuân của xã Thượng Quan (2012 – 2014) 35
Bảng 4.5: Tình hình sản xuất các loại cây trồng vụ mùa chính vụ của xã Thượng Quan (2012 – 2014) 36
Bảng 4.6: Diện tích trồng cây thuốc lá vụ Đông xuân của xã Thượng Quan giai đoạn 2012-2014 37
Bảng 4.7: Diện tích, năng suất, sản lượng thuốc lá của xã Thượng Quan qua giai đoạn (2012 – 2014) 38
Bảng 4.8: Chi phí sản xuất bình quân cho 1000 m2 gieo trồng của nhóm hộ được điều tra tại xã Thượng Quan 40
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế bình quân cho 1.000 m2 diện tích trồng thuốc lá của nhóm hộ được điều tra năm 2014 tại xã Thượng Quan 41
Bảng 4.10: So sánh HQKT bình quân trên diện tích 1000m2 sản xuất cây thuốc lá ở xã Thượng Quan so với trung bình cả nước năm 2013 43
Bảng 4.11: Bảng phân phối tiêu thụ thuốc lá theo từng kênh năm 2014 48
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 4.1: Các kênh tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu tại xã Thượng Quan 47
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 14
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nhu cầu thuốc lá trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nhu cầu thuốc lá ở Việt Nam 18
2.3 Bài học kinh nghiệm cho địa phương 19
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Các nguồn tài nguyên 27
4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
Trang 74.1.4 Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế đến sản
xuất, tiêu thụ thuốc lá 32
4.2 Thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế trồng thuốc lá tại xã Thượng Quan 33
4.2.1 Một số thông tin cơ bản về nhóm hộ được điều tra 33
4.2.2 Tình hình trồng cây thuốc lá tại xã Thượng Quan 35
4.2.3 Hiệu quả kinh tế từ trồng thuốc lá 39
4.3 Tình hình tiêu thụ cây thuốc lá của xã Thượng Quan 46
4.3.1 Các hình thức tiêu thụ thuốc lá tại xã Thượng Quan 48
4.3.2 Các nguồn tìm hiểu thông tin tiêu thụ thuốc lá của người dân 51
4.3.3 Sự liên kết giữa nhà máy với người dân sản xuất 51
4.3.4 Vai trò của tiểu thương trong tiêu thụ thuốc lá tại xã Thượng Quan 51
4.4 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức ảnh hưởng đến tiêu thụ cây thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan 52
4.4.1 Thuận lợi 52
4.4.2 Khó khăn 52
4.4.3 Cơ hội 53
4.4.4 Thách thức 53
4.5 Phân tích các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tiêu thụ cây thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan 54
4.5.1 Nguyên nhân chủ quan 54
4.5.2 Nguyên nhân khách quan 55
4.6 Đề xuất giải pháp thúc đẩy quá trình tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu cho địa bàn xã Thượng Quan 57
4.6.1 Giải pháp về chất lượng 57
4.6.2 Giải pháp về tăng sản lượng 57
4.6.3 Giải pháp về thị trường 57
4.6.4 Giải pháp giao thông vận tải 58
4.6.5 Giải pháp trong liên kết thúc đẩy tiêu thụ 58
4.6.6 Giải pháp về cơ chế chính sách 58
Trang 84.6.7 Giải pháp chuyên môn hóa các khâu 59
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 62
5.2.1 Đề nghị đối với người dân trồng thuốc lá 62
5.2.2 Đề nghị đối với nhà máy và người thu mua 62
5.2.3 Đề nghị đối với nhà hoạch định chính sách và cán bộ địa phương 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 9Với nghị quyết và mục tiêu của Đảng, nhà nước đã đề ra nhằm phát triển sản suất trồng trọt có hiệu quả cao và bền vững theo hướng chú trọng đầu tư trọng tâm vào các loài cây trồng lợi thế của từng vùng sinh thái, sản suất cây thuốc lá được coi là loài cây công nghiệp ngắn ngày đem lại hiệu quả kinh tế cao, đạt năng suất cho nhiều vùng nông thôn trong cả nước Không những vậy cây thuốc lá đã và đang là cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu nhanh chóng cho nhiều hộ nông dân trồng cây thuốc lá tại một
số xã tiêu biểu như xã Hà Quảng (tỉnh Cao Bằng), các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Lạng Sơn, Bắc Kạn
Cây thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, sinh trưởng
và phát triển tốt trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Phạm vi phân bổ vùng trồng từ
40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc, nhưng tập trung nhiều ở vĩ độ Bắc Thuốc lá có tính di truyền phong phú, tính thích ứng rộng rãi, dưới sự tác động trực tiếp của con người, ngày nay thuốc lá có nhiều đặc trưng phẩm chất, ngoại hình khác nhau Có thể kể đến loại thuốc lá vàng sấy có hương vị độc đáo là Virginia (Hoa Kỳ, Zimbabwe), thuốc lá Oriental - đặc sản của vùng Địa Trung Hải, xì gà nổi tiếng của Cuba và Sumatra (Indonesia)
Thượng Quan là một xã miền núi vùng cao nằm ở phía Tây của huyện Ngân Sơn, có diện tích đất tự nhiên 16.097,58 ha Là xã vùng cao có địa hình phức tạp, đi lại khó khăn điều này ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế xã hội, giao lưu với các
xã trong và ngoài huyện Tổng dân số là 3.029 người với 670 hộ, hầu hết các hộ đều là thuần nông sản xuất trồng trọt là chính và chăn nuôi qui mô nhỏ Xã sản xuất
Trang 10trồng trọt ba vụ chính (vụ mùa, Hè thu và vụ Đông xuân) trong đó vụ Đông xuân sản xuất cây thuốc lá là chủ yếu là cây đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cả, cây thuốc lá thích ứng tốt với điều kiện khí hậu, địa hình và đất đai của địa phương Chính vì vậy chính quyền địa phương đã khẳng định cây thuốc lá là cây đã và đang xóa đói giảm nghèo và sẽ làm giàu nhanh chóng cho người dân trong xã trong giai đoạn 2012 – 2020, và sẽ còn phát triển định hướng đến năm 2030 Tuy nhiên, vấn
đề sản xuất và phát triển cây thuốc lá tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn như thời tiết khô hạn nên thiếu nước tưới vào mùa khô, vào mùa mưa có hiện tượng mưa đá phá hoại cây thuốc lá nên giảm năng suất và chất lượng Nhất là vấn đề tiêu thụ rất bất cập các công ty và tiểu thương luôn ép giá thấp đối với người dân dẫn đến nhiều hộ sản xuất cây thuốc lá chưa đạt hiệu quả kinh tế cao Việc liên kết giữa bốn nhà chưa được chặt chẽ và hiệu quả (Nhà nông – Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà tiêu thụ) Những vấn đề trên đang là thách thức lớn, là sự kìm hãm trong phát triển kinh tế ngành trồng thuốc lá nói riêng và cả ngành nông nghiệp nói chung Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu các giải pháp tích cực nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn để sản xuất ngành nông nghiệp ngày càng phát triển cao
Xuất phát từ những thực tế trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ cây thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan – huyện Ngân Sơn – tỉnh Bắc Kạn“
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đưa ra các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ cây thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan Qua đó nhằm thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội nói chung và phát triển ngành sản xuất cây thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan nói riêng, tiến tới CNH – HĐH nông thôn
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng sản xuất và đánh giá được hiệu quả kinh tế từ trồng cây thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan
- Tìm hiểu được tình hình tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan
Trang 11- Nghiên cứu tìm hiểu được những thuận lợi, khó khăn và cơ hội, thách thức ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất, tiêu thụ cây thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan
- Phân tích các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan
- Đề suất được một số giải pháp phát triển sản xuất, tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu nhằm thúc đẩy phát triển ngành trồng thuốc lá tại địa phương, qua đó có thể tác động đến nền kinh tế xã hội xã Thượng Quan phát triển bền vững
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế
Nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần học hỏi,tìm tòi sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực
tế Là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này
Là tài liệu tham khảo cho Khoa, Nhà trường cơ quan trong ngành và sinh viên các khoá học sau
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc đánh giá sát thực thực trạng sản xuất và tiêu thụ cây thuốc lá nguyên liệu của người dân xã Thượng Quan Và qua một số giải pháp được đề suất trong đề tài sẽ giúp người dân giải quyết được vấn
đề khó khăn của họ, có thể tiếp tục phát triển mở rộng hoạt động sản xuất đưa ra phương hướng để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng thời
là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo của các ban ngành tham khảo để đưa ra phương hướng và phát huy tốt những lợi thế khắc phục,giải quyết những khó khăn trở ngại nhằm phát triển trồng trọt nói chung và phát triển cây thuốc lá nói riêng hướng tới phát triển kinh tế ngày càng đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững
Trang 12Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
Trong lý thuyết về sản xuất, người ta tìm mọi cách chọn lựa: Sản xuất cái gì? Sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào? Quyết định việc này do chính người sản xuất – được xác định là một tác nhân cụ thể chuyên trách việc chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các loại hàng hóa mong muốn, đó là các yếu tố đầu ra
c, Hàng hóa:
Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó.[15] David Ricardo cho rằng hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị sử dụng và giá trị.[15]
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là: ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Một hàng hóa có thể có một công dụng hay nhiều công dụng nên nó có thể có nhiều giá trị sử dụng khác nhau
Trang 13+ Giá trị của hàng hóa là: lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
d, Tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng
Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng.[13]
Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được quản lí bằng các hình thức khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề quan trọng của sản xuất nên việc tiêu thụ sản phẩm cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến việc tổ chức các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hàng hoá hoặc được quyền thu tiền bán hàng.[13]
e, Maketing:
Có nhiều khái niệm và định nghĩa về “marketing” Theo như một trong cách định nghĩa đó thì marketing là tất cả các hoạt động liên quan tới việc đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nói cách khác, marketing là những hoạt động liên kết người sản xuất và người tiêu dùng nhằm đảm bảo các sản phẩm được cung cấp tới người tiêu dùng: Tại địa điểm thuận lợi; với hình thức phù hợp; đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng; vào thời gian phù hợp Theo định nghĩa này, marketing nông nghiệp gồm các yếu tố hay hoạt động liên tục Các hoạt động marketing nông nghiệp đặc trưng như: Tách vỏ, sấy khô, làm sạch, phân loại, chế biến hay sơ chế, đóng gói, lưu kho, vận chuyển, quảng cáo và bán hàng Các hoạt động này tăng giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp.[5]
Trang 142.1.1.2 Cây thuốc lá
a, Nguồn gốc:
Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, trùng với văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc
lá được đánh dấu vào ngày 12 tháng 10 năm 1492 do chuyến thám hiểm tìm ra châu
Mỹ của Christopher Columbus, ông đã thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos.[12]
Hàng ngàn năm trước công nguyên, người da đỏ trồng thuốc lá trên vùng đất mênh mông ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, quần đảo Antil và một số nơi khác.[12]
Thuốc lá được đưa vào châu Âu khoảng năm 1496-1498 do Roman Pano (nhà truyền đạo Tây Ban Nha) sau khi đi Mỹ về Năm 1556, Andre Teve cũng lấy hạt thuốc
lá từ Brazil đem về trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Jean Nicot, Đại sứ Pháp ở Lisbon đã dâng lên nữ hoàng Pháp Featerina Mechssi những cây thuốc lá đầu tiên Theo ông thuốc lá có thể xua đuổi bệnh đau đầu bằng cách cho người bệnh ngửi bột thuốc.[12]
Thuốc lá được trồng ở Nga vào năm 1697 do Petro Valeski sau cuộc viếng thăm Anh và một số quốc gia khác đem về Vua Sulemam cho trồng thuốc lá ở Bungari vào khoảng năm 1687.[12]
Tại Đức từ năm 1640 đã có nhà máy sản xuất thuốc lá điếu ở Nordeburg và vào năm 1788 đã có xưởng sản xuất xì gà tại Hamburg.[12]
Tại các nước châu Á, Thái Bình Dương, thuốc lá được trồng vào thế kỷ XVIII.[12]
Trong thời gian dài, thuốc lá được gọi rất nhiều tên như La Herba Sanena (cây làm thuốc), Herba Panacea (cây thuốc trị mọi bệnh), L’Herbe etrange (cây làm thuốc
dị thường), L’Herbe d’Ambassadeur (cây kỷ niệm tên Đại sứ ở Lisbon) Sau đó các tên mất dần chỉ còn lại tên gọi Nicotiana để kỷ niệm tên Jean Nicot, người có công truyền
bá trồng thuốc lá ở châu Âu Ngày nay nhiều nước có tên gọi thuốc lá giống nhau là Tabacco (Anh, Mỹ), Tabak (Đức, Nga), Trutrun (Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari), Tutun (Rumania) Còn tên khoa học của cây thuốc lá vàng là Nicotiana Tabacum L.[12]
Trang 15Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã mở đường cho cuộc “Phát kiến địa lý”, dẫn đến sự mở rộng phạm vi buôn bán thế giới và sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp và công nghiệp Các nước Hà Lan, Anh, Pháp, Bỉ cũng đua nhau đi tìm kiếm thị trường buôn bán trên thế giới Thuốc lá là một trong những hàng hóa quan trọng được các nước châu Âu mang tới châu á, châu Phi.[12]
Đến năm 1592, một thế kỷ sau khi Colombus phát hiện ra châu Mỹ, thuốc lá đã được trồng ở Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Anh Sau đó lan ra Philippines, ấn Độ, Java, Nhật, Tây Phi, Trung Quốc và các lái buôn đã mang thuốc lá đến tận Mông Cổ và Sibêri Bước sang thế kỷ XVII, thuốc lá đã gây ra tranh cãi ở châu Âu Thuốc lá đã phân chia quan điểm xã hội, nhưng chính phủ các nước châu Âu không thể ngăn cấm vì những khoản tiền khổng lồ thu được từ thuế thuốc lá cho ngân sách quốc gia Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thành cách mạng công nghiệp Các phát minh khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp Ngành công nghiệp thuốc lá
ra đời và thu được lợi nhuận to lớn hơn trước.[12]
Ngành công nghiệp thuốc lá diễn ra quá trình tập trung hóa như các ngành sản xuất khác Các tập đoàn thuốc lá đa quốc gia như B.A.T, Philip Morris (Mỹ), Japan Tobacco International (Nhật), Imperial và Gallaher (Anh), tập đoàn Altadis Franco - Spanish (Pháp - Tây Ban Nha), hiện đang chi phối thị trường thế giới về trồng thuốc lá, phối chế, sản xuất thuốc sợi, thuốc điếu, các máy móc chuyên dùng và tất cả các phụ liệu cho sản xuất thuốc lá
Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập cũng chú ý phát triển ngành công nghiệp thuốc lá, như Trung Quốc, Indonesia, Triều Tiên, ấn Độ, Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam.[12]
Trang 16- Loài Nicotiana tabacum L: Có hoa màu hồng hay đỏ tươi Đây là loài phổ biến nhất chiếm 90% diện tích thuốc lá trên thế giới
- Loài Nicotiana rustica L: Có hoa màu vàng, chiếm 10% diện tích thuốc lá thế giới
- Loài Nicotiana petunioide L: Có hoa màu trắng, phớt hồng hay tím Thường chỉ có trong vườn thực vật phục vụ nguồn dự trữ gen cho lai tạo, ít được dùng trong sản xuất
- Loài Nicotiana polidiede L: Có hoa màu trắng Loài này cũng được ít dùng trong sản xuất, chủ yếu chỉ có trong vườn thực vật học của một số quốc gia
Các đặc điểm thực vật học của cây thuốc lá
- Rễ thuốc lá: Rễ thuốc lá là một hệ thống bao gồm: rễ cái (rễ trụ), rễ nhánh (rễ bên)
và rễ hấp thụ Ngoài ra, thuốc lá còn có rễ bất định mọc ở cổ rễ, phần trên sát mặt đất
Rễ trụ được hình thành từ phôi rễ Rễ nhánh được phát sinh từ trục của rễ cái, thường
có độ xiên 30-40o Rễ hấp thụ được phát triển trên các rễ nhánh, có nhiệm vụ cung cấp nước và chất dinh dưỡng cho cây Rễ bất định mọc từ thân, những rễ bất định ở phần sát gốc dễ phát sinh thành rễ hút khi độ ẩm không khí cao Rễ thuốc lá tập trung giày đặc ở lớp đất 0-30 cm, phát triển theo các hướng Rễ thuốc lá là cơ quan sinh tổng hợp
nicotin Nicotin được vận chuyển từ rễ và tích tụ trên thân, lá thuốc lá
- Thân cây: Các dạng thuốc lá trồng có dạng thân đứng, tiết diện thân tròn, chiều
cao thân cây có thể đạt tù 1-3m, chia làm nhiều đốt, mỗi đốt mang một lá Đường kính thân đạt 2-4 cm, nách lá trên thân có chồi sinh trưởng gọi là chồi nách Có hai loại chồi
nách: Chồi nách chính và chồi nách phụ
- Lá thuốc lá: Trên thân chính của cây thuốc lá có nhiều lá Số lượng lá trên cây
thuốc lá tùy thuộc vào loại giống Hình dạng lá thuốc lá chủ yếu là: hình trứng, hình
tim, hình elip, hình mũi mác Độ dày và màu sác lá có thể thay đổi
Lớp ngoài của biểu bì có tầng cutin trong suốt và có phần sáp khi lá bát đầu chín kỹ thuật Lớp tế bào mô dậu và lớp tế bào mô khuyết trong cấu trúc lá quyết định độ dầy mỏng, độ đàn hồi của lá thuốc lá, ở trên mặt lá còn có nhiều tuyến lông
đa bào có hình dạng và kích thước khác nhau Các tuyến này chứa nhựa, hợp chất thơm tự nhiên và tích lũy nhiều khi lá chín kỹ thuật Trên mặt lá có nhiều gân chính
và gân phụ
Trang 17- Hoa: Hoa thuốc lá là hoa đơn, lưỡng tính, có năm cánh, nhị cái ở giữa, xung
quanh có năm nhị đục thường mọc cao hơn nhị cái, thuộc loại hoa tự hữu hạn, được hình thành do sự phân hóa của đỉnh sinh trưởng thân Chính giữa chùm hoa có hoa trung tâm và có các nhánh hoa mọc từ trục chính của chùm hoa
Phương thức thụ phấn của thuốc lá là tự phối (97-98%), còn lại là thụ phấn chéo
do gió hoặc côn trùng
- Quả và hạt: Quả thuốc lá được hình thành trên đài hoa Mỗi cây có 100-150 quả
trên mỗi chùm hoa, có những cây hoặc những loại giống có đến 400-500 quả trên mỗi
chùm hoa Mỗi quả có hai ngăn khi chín chúng thường tách ra
Hạt thuốc lá rất nhỏ, khối lượng của 1000 hạt thuốc lá vàng sấy lò là 0,07-0,10 gam, trong mỗi gam hạt có từ 10.000 đến 15.000 hạt
c, Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thuốc lá
Cây thuốc lá vàng sấy không khó trồng, phù hợp với nhiều loại đất và khí hậu khu vực phía Bắc và Nam trung bộ, giá trị kinh tế cao, được bao tiêu ổn định Vì vậy nên đưa cây thuốc lá vàng sấy vào cơ cấu cây trồng để người nông dân có thêm sự lựa chọn cho sự phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Thực hiện chủ trương của Tổng công ty Khánh Việt, Công ty thuốc lá nguyên liệu Khatoco triển khai đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật như sau:
1 Chọn đất và làm đất trồng:
- Chọn đất: Cây thuốc lá phù hợp với đất thịt nhẹ, thịt trung bình, cát pha, đất bãi
bồi Đất không chua, nhiễm mặn, phèn Không chọn đất bị ngập, úng Để có năng suất cao và giảm chi phí đầu tư chọn đất gần nguồn nước tưới, gần lò sấy.[11]
- Làm đất: Đất tơi, xốp, sạch cỏ và lên luống trước khi trồng là điều kiện rất quan trọng
để cây thuốc lá phát triển tốt, giảm nhẹ công lao động khi xới xáo, bón phân và tưới tiêu nước Đất cày 2 lần vuông góc nhau, mỗi lần cách nhau ít nhất 10 ngày cho ải đất, chết
cỏ Lần 3 cày lên luống, đỉnh luống này cách đỉnh luống kia 0,8 - 1,0 m, mương luống rộng 0,2 -0,3 m Nên cày bằng máy cày đại để đất cày được sâu (20-30cm) và lên luống được to Khi cày lên luống nên tính trước mương tưới, mương tiêu Sửa vét lại luống và nhặt sạch cỏ trước khi trồng.[11]
Trang 182 Trồng:
- Nếu trời mưa nhẹ, đất đủ ẩm trồng thẳng giữa sườn luống
- Nếu đất khô, dẫn nước vào rãnh ngập khoảng 1/3 luống, trồng ngay mép nước
- Mật độ trồng: Đất tốt trồng thưa (22.000 - 25.000 cây/ha) khoảng cách trồng
0,5 m cây, đất xấu trồng dầy (27.000 - 30.000 cây/ha) khoảng cách trồng 0,4 m cây, hàng cách hàng 0,8m.[11]
- Cách trồng: Cây giống nhổ lên phải ngắt bỏ các lá vàng, lá nhiễm bệnh để nơi
mát và trồng xong trong ngày Trồng bằng cách cuốc lỗ, dùng cây chọc lỗ hoặc cấy bằng tay Trồng sâu 4-5cm, dùng tay bóp nhẹ.[11]
- Sau 5-7 ngày trồng dặm những cây chết
3 Làm cỏ, bón phân, vun gốc:
- Bón phân: Lượng phân cần bón trung bình cho 1ha: Nitrat amôn 200kg + Kaly
sulfat 400kg + lân 400kg Chia làm 2-3 lần bón tuỳ thuộc tính chất đất, chất lượng làm đất (có hướng dẫn của cán bộ kỷ thuật).[11]
- Làm cỏ, vun gốc: Từ 2-3 lần kết hợp với bón phân, lần 1 xới nhẹ, vun thấp, lần
2,3 xới mạnh vun càng cao càng tốt nhưng không lấp lá Để đất khô 2-3 ngày cho cỏ chết trước khi tưới nước.[11]
- Thời gian làm cỏ, bón phân, vun gốc:
+ Lần 3: 30 - 35 ngày sau trồng, 50% đạm + 50% kaly Bón cách gốc 20cm
Chú ý: Chỉ trộn các loại phân nói trên ngay trước khi bón, lấp đất sâu 5- 10cm
4 Tưới và tiêu nước:
Không thể có năng suất cao, chất lượng tốt nếu cây thuốc lá bị thiếu hoặc dư nước (ngập úng 1- 2 ngày cây héo rủ, chết) Số lần tưới và lượng nước tưới tuỳ thuộc
Trang 19độ ẩm đất và thời tiết Kể từ sau trồng 10 ngày ẩm độ đất thích hợp 80-90%, từ 10-40 ngày ẩm độ đất 60-65% (giữ cho hơi thiếu ẩm để tạo hệ thống rễ phát triển và xuống sâu), từ 40 – 60 ngày là thời gian thân lá phát triển mạnh cần nhiều nước độ ẩm đất thích hợp 80 – 85%, từ sau 60 ngày giữ ẩm độ đất 65-70% Sau mỗi lần bón phân, bẻ thuốc nếu đất khô phải tưới nước ngay.[11]
Khi tưới nước theo rãnh chỉ để nước ngập từ ½ đến ¾ luống, không để nước tràn lên mặt luống
5 Phòng trừ sâu bệnh:
- Khi sâu bệnh xuất hiện cây đã bị ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng, việc
xử lý càng tốn kém và ít hiệu quả khi cây càng lớn.Vì vậy việc phun thuốc đúng lúc là biện pháp hữu hiệu, kinh tế, an toàn nhất để phòng trừ sâu bệnh
- Sâu: Các loại sâu hay cắn phá gây hại cho cây thuốc là sâu xanh, sâu khoanh,
sâu chùm, bọ trĩ, rệp, rầy mề Để xử dụng thuốc hoá học có hiệu quả cần nhất là phải phát hiện sớm, phun thuốc khi sâu rầy tuổi còn non
- Bệnh: Các loại bệnh thường hay gặp, gây ảnh hưởng lớn là lở cổ rễ, thối đen rễ,
đốm mắt cua, đốm nâu Triệu chứng bệnh thường tiềm ẩn trong cây mắt thường không
phát hiện được, khi biểu hiện ra thì đã nặng gây hậu quả không khắc phục được
Việc phun thuốc định kỳ phòng trừ bệnh rất tốt, và có tác dụng phòng trừ sâu, rầy Việc kết hợp giữa thuốc sâu + bệnh nhằm giảm bớt công lao động Chú ý chỉ phối hợp thuốc với những loại thuốc có thể kết hợp (theo hướng dẫn )
Bảng 2.1: Lịch phun thuốc cho ruộng thuốc lá
Hỗn hợp và nồng độ ( Dùng cho bình 16 lít )
Lượng thuốc cần/bình16lít (cho 1000m2 ) Lần1 10 Sâu, bệnh 30ml Carbosan +16 gr
Trang 20Khi phát hiện có sâu rầy cần xác định đúng thời điểm cần phun thuốc, bảng dưới đây xác định ngưỡng xử lý thích hợp nhất :
Bảng 2.2: Thời điểm và ngưỡng sử lý các loại sâu bệnh
CÔN
Sâu xanh Xử lý khi 10% cây điều tra có sâu non ký sinh
Sâu xám Xử lý khi 5% cây điều tra bị sâu cắn phá
Rệp muội Xử lý khi 10% số cây điều tra có ít nhất 50 con trên mỗi lá
* Cách pha hỗn hợp thuốc như sau: Cho 1/3 nước hoà tan thuốc bột trước, rồi cho thuốc nước vào khuấy đều, sau đó cho số nước còn lại vào.[11]
* Việc phun thuốc chỉ có hiệu quả cao nếu phun thuốc đúng nồng độ, đúng liều lượng và khi sâu, rầy còn non Vì vậy cần thường xuyên thăm ruộng để phát hiện sâu, rầy sớm và phun thuốc ngay khi tới ngưỡng xử lý
* Sản phẩm thuốc lá được con người xử dụng trực tiếp vì vậy để an toàn cho bản thân và người tiêu thụ bà con nông dân chỉ nên xử dụng những loại thuốc được cán bộ
kỹ thuật hướng dẫn, tuyệt đối không xử dụng tuỳ tiện
6 Đánh nhánh, ngắt ngọn:
Biện pháp này làm tăng 20% năng suất so với ruộng không đánh nhánh ngắt ngọn, chi phí thực hiện rẽ (chỉ bằng khoảng 10% hiệu quả đem lại), dễ thực hiện Ngắt ngọn ngay khi cây vừa chớm nhú đỉnh ra hoa, ngắt xong nhỏ thuốc diệt chồi thuốc lá Accotab 330EC nồng độ 1% lên đỉnh vừa ngắt (dùng 2 lít Accotab 330 EC pha với
200 lít nước cho vào chai nhựa (chai nước khoáng, trên nắp gắn một van ruột xe đạp làm vòi chảy) nhỏ cho 1 ha Nhỏ từ đỉnh ngọn vừa ngắt cho nước thuốc Accotab chảy ngấm xuống khoảng hơn 1/2 cây.[11]
7 Thu hoạch: Sau trồng 60 ngày có thể bắt đầu thu hoạch, mỗi lần bẻ 3 - 4 lá, mỗi vụ
bẻ 5 - 6 lần Bẻ lá đúng độ chín thuốc sấy mới vàng đẹp, hái non hoặc để quá chín sấy
Trang 21sẽ ra màu xanh hoặc đen không bán được Lá vừa chín có màu xanh trắng, rìa lá hơi ửng vàng, gân lá chuyển qua màu trắng, lá hơi rủ xuống
Phương pháp bẻ: Người bẻ đi giữa luống hai tay bẻ hai hàng, mỗi hàng bẻ một bên, mỗi cây bẻ 1 - 2 lá; nắm vừa đủ nắm mỗi tay thì xếp dọc hai bên luống, cuống lá quay xuống giữa mương Bẻ hết luống quay lại ôm có thứ tự dồn vào đầu chỗ mát chờ chuyển đi Khi vận chuyển dùng dây mền, tấm bạt, bao tải bó thành từng bó vừa đủ ôm, phải đảm bảo lá thuốc được xếp thứ tự đầu đuôi, xếp từng lớp một, lá thuốc không bị gẫy, dập, kéo lê, phơi nắng
d, Hiệu quả kinh tế và vị trí, vai trò của sản xuất cây thuốc lá
Thuốc lá (Nicotiana tabacum L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có tầm quan trọng bậc nhất về kinh tế trên thị trường thế giới, không chỉ đối với trên 33 triệu dân của trên 120 quốc gia, mà còn cho cả toàn bộ nền công nghiệp, từ các nhà máy chế biến cuốn điếu, sản xuất phụ gia, phụ liệu, đến cả hệ thống phân phối tiêu thụ, thậm chí đến cả một phần ngành sản xuất của vật tư nông nghiệp phục vụ cho cây thuốc lá như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Trồng thuốc lá có hiệu quả cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác (1.000- 1.200 USD/ tấn lá khô).[3]
Ở nước ta cây thuốc lá cũng mang lại giá trị kinh tế cao, sử dụng hiệu quả đất đai, góp phần tạo công ăn việc làm, tận dụng được nguồn lao động của địa phương, tăng thu nhập cho người lao động Lợi nhuận cao từ sản xuất thuốc lá đã có sự quan tâm của nhiều cấp chính quyền trong cả nước, tại một số tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn Cây thuốc lá nằm trong cơ cấu cây trồng truyền thống thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao.[14]
Trong thuốc lá có thể chiết suất một số chất hóa học, những chất này có thể được sử dụng làm thuốc thực vật.[14]
Trong y học người ta chiết suất từ thuốc lá chất Hemoglobin được sử dụng làm thuốc chữa bệnh.[14]
Đối với ngành công nghệ sinh học, cây thuốc lá được sử dụng như thực vật
mô hình cho những nghiên cứu cơ bản cũng như ứng dụng nhờ khả năng dễ dàng tiến hành, nuôi cấy Invitro và chuyển gen.[14]
Trang 222.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
Các căn cứ pháp lý về việc sản xuất và tiêu thụ cây thuốc lá:
- Nghị định số: 119/2007/NĐ-CP-Bộ Tư Pháp Nghị định về sản xuất và kinh doanh thuốc lá
- Nghị định 67/2013/NĐ-CP-Bộ Tư pháp Nghị định, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nhu cầu thuốc lá trên thế giới
a, Tình hình sản xuât
Cây thuốc lá có nguồn gốc Nam Mỹ và có lịch sử trồng trọt cách đây khoảng 4.000 năm Từ Nam Mỹ cây thuốc lá được đem đi trồng khắp nơi trên thế giới thuộc Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi Hiện nay thuốc lá chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất thuốc lá sợi Để thấy được tình hình sản xuất thuốc lá trên thế giới ở một số khu vực ta xét ở bảng sau:
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất thuốc lá ở một số khu vực năm 2014
Khu vực Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
Sản lượng (tấn) Cơ cấu (%)
Châu Đại Dương 2.378 0,05 5.243 0,07
(Nguồn: FAO, năm 2014)
Theo thông tin đã tìm hiểu cả thế giới có diện tích trồng thuốc lá gần 4,5 triệu ha đạt sản lượng gần 8 triêu tấn nguyên liệu thuốc lá cung cấp cho các nhà máy chế biến thuốc lá Trong đó Châu Á là khu vực có diện tích sản suất thuốc lá lớn nhất với trên 2,8 triệu ha(chiếm 63,07%) và cũng là khu vực đạt sản lượng lớn nhất với gần 5,3 triệu tấn(chiếm 66,28%) Châu Đại Dương có sản xuất thuốc lá nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ nhất
so với các khu vực trên thế giới, cụ thể chỉ chiếm 0,05% diện tích (tương ứng 2.378 ha)
và Châu Đại Dương có sản lượng nhỏ nhất chiếm 0,07% sản lượng (tương đương 5.243 tấn) thuốc lá nguyên liệu
Trang 23Ngành sản xuất thuốc lá của một số nước trên thế giới:
- Malawi: Malawi có được 361 triệu USD từ doanh thu bán lá năm 2013, tăng
hơn gấp đôi so với doanh số 177 triệu USD trong năm 2012, trong khi sản lượng cũng tăng lên 168.000 tấn trong năm 2013 so với 79.800 tấn năm ngoái Lá thuốc lá chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu của Malawi và 15% GDP Doanh thu năm ngoái bị ảnh hưởng bởi sự ngưng trệ khi những nông người trồng lá đòi hỏi mức giá tốt hơn Khoảng 2 trong số 14 triệu dân Malawi sống dựa vào ngành công nghiệp thuốc lá và ngành có liên quan Doanh thu bán lá tăng cao dự kiến sẽ giúp Tổng thống Joyce
Banda, người phải trãi qua cuộc bầu cử vào tháng 5/2014 (Reuters,2013).[16]
- Malaysia: Chính phủ giúp người trồng thuốc lá quy mô nhỏ chuyển sang cây
trồng khác Thứ trưởng Ngành công nghiệp Trồng trọt và Hàng hóa Malaysia Datuk Noriah Kasnon cho biết rằng Cây Kenaf Quốc gia và Hội đồng Thuốc lá đang trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình nhằm mục đích giúp nông dân thuốc lá quy mô nhỏ chuyển sang các cây trồng khác như cây kenaf, theo quyết định của các nhà sản xuất thuốc lá sẽ dừng mua lá thuốc lá trồng tại địa phương kể từ ngày 1/04/2014 Các chương trình thay thế cây trồng cũng phù hợp với các cam kết của nước này theo Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của WHO, bà nói thêm Kim ngạch xuất khẩu lá thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá giảm 18,7% cùng kỳ năm còn 579,04 triệu ringgit (176,6 triệu USD) trong quý 1/2013, bà nhấn mạnh Ngành công nghiệp thuốc lá đóng góp 3,52 tỷ ringgit (1,07 tỷ USD) doanh thu thuế của đất nước
trong năm 2012, so với 3,42 tỷ ringgit (1,04 tỷ USD) trong năm 2011 (Star -
Malaysia).[16]
- Zimbabwe: Ngành công nghiệp và Ban tiếp thị thuốc lá (TIMB) ở Zimbabwe
đang kêu gọi chính phủ tài trợ thêm cho người trồng thuốc lá để gia tăng mức sản xuất của họ và tạo ra các nguồn thu ngoại tệ lớn hơn cho nền kinh tế của quốc gia Chủ tịch TIMB Monica Chinamasa lưu ý rằng tổng sản lượng lá ở Zimbabwe là 165.000 tấn trong năm 2013, thấp hơn khoảng 500.000 tấn so với mục tiêu sản xuất 170.000 tấn đã được đề ra vào đầu năm nay Bà Chinamasa nói thêm rằng thời tiết năm nay cũng đóng một vai trò trong vụ mùa năm nay Các ngân hàng không sẵn sàng cho vay tiền cho
Trang 24người trồng thuốc lá do cuộc khủng hoảng thanh khoản hiện tại và thiếu rõ ràng liên quan đến việc nhiều diện tích đất thuê 99 năm thuộc sở hữu của nhiều người trồng thuốc lá xuất nhỏ Hiệp hội Thuốc lá của Tổng thống Zimbabwe Temba Mliswa cáo buộc các công ty thuốc lá đa quốc gia, cho rằng các doanh nghiệp này có thể chuyển
số tiền lãi về nước, tình hình thanh khoản của các nông dân sẽ tốt hơn một chút
(Zimbabwe Standard,2013).[16]
TIMB điều chỉnh mục tiêu chào hàng của họ cho vụ mùa tiếp thị 2013 đã bắt đầu
từ ngày 13/02 từ 170.000 tấn còn 166.5 ngàn tấn sau khi các đợt giao hàng đều giảm đối với các hợp đồng bán hàng tại hầu hết các sàn Giám đốc điều hành TIMB Tiến sĩ Andrew Matibiri cho biết năm 2013 mùa bán hàng lá thuốc lá "là có chất lượng cao được bán với mức giá tốt và ổn định," và nói thêm rằng mục tiêu là 170.000 tấn sẽ không đạt được vì hầu hết người trồng đã bán hết cây trồng của họ Giá lá cao nhất tại sàn đấu giá là 4,99 USD cho mỗi kg trong suốt vụ mùa.(Herald - Harare).[16]
- Philippines: NTA nâng giá sàn lá Virginia, Burley và thuốc lá bản địa Cục
Quản lý Thuốc lá Quốc gia Philippines đã nâng giá sàn của lá Virginia, Burley và lá thuốc lá có nguồn gốc bản địa lên hơn 10 peso (0,22 USD) cho mỗi kg cho niên vụ 2014-15 Giá sàn cho mỗi kg đối với lá Virginia, Burley tăng gần 10 peso (0,22 USD) cho cấp lá ngọn, 6 peso (0,14 USD) cho cấp lá C và 3 peso (0,07 USD) cho các cấp lá thấp hơn Đối với các loại thuốc lá bản địa, giá sàn cho cấp loại cao, trung bình và thấp tăng lần lượt là 10 peso (0,22 USD),66 peso (1,50 USD) và 56 peso (1,30 USD)
(BusinessWorld - Philippines).[16]
- Ấn Độ: Hội đồng thuốc lá của Ấn Độ cố định quy mô cây trồng thuốc lá cho
Andhra Pradesh ở mức 172.000 tấn trong vụ 2013-14, tăng 40.000 tấn so với vụ trước Hội đồng thu 250 triệu Rs (3,7 triệu USD) tiền phạt đối với cây trồng trái phép trong vụ mùa trước Chủ tịch hội đồng thuốc lá K.Gopal cho biết việc giới thiệu đấu giá điện
tử đã cho phép ngay cả những người thu mua nhỏ lẻ tham gia vào các cuộc đấu giá trong năm nay Công tác hiện đại hóa kho chứa cũng đang được tiến hành Trong khi
đó cuộc đấu giá đã bắt đầu ở Karnataka với quy mô cây trồng được ủy quyền là 102.000 tấn.(Hindu Business Line).[16]
Trang 25b, Tình hình tiêu thụ và nhu cầu thuốc lá trên thế giới
- Mỗi năm có trên nghìn tỷ điếu thuốc được buôn bán trao đổi, thế giới “đốt” hết trên 400 tỷ USD cho thuốc lá [16]
- Khoảng 5,5 nghìn tỷ điếu thuốc lá được sản xuất hàng năm trên thế giới, được tiêu thụ bởi trên 1,1 tỷ người [16]
- Hàng năm có tới 40 nghìn tỷ người chết do liên quan đến hút thuốc lá
- Mức tiêu thụ thuốc lá bình quân trên thế giới là 1.076 điếu/người/năm Trong đó một số nước sau tiêu thụ với số lượng (điếu/người/năm) cao hơn hẳn: Nhật Bản là 2.497; Hàn Quốc là 2.116, Trung Quốc là 1.419.[16]
Hiện nay trên thế giới không chỉ có đàn ông mới biết hút thuốc mà phụ nữ cũng hút thuốc rất nhiều, việc phụ nữ hút thuốc không còn là một điều kỳ lạ và được coi là bình thường chính vì vậy tỉ lệ nữ giới hút thuốc ở các nước trên thế giới ngày một gia tăng nhanh chóng Không chỉ tỉ lệ phụ nữ hút thuốc tăng mà tỉ lệ nam giới hút thuốc cũng ngày càng tăng cao nhất là những người trong độ thanh thiếu niên hiện nay
Bảng 2.4: Tỉ lệ hút thuốc lá theo giới tính ở một số khu vực trên thế giới
(Nguồn: Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, năm 2014)
Tỷ lệ người hút thuốc trên thế giới lớn, nhìn chung tỷ lệ hút thuốc ở nam giới cao hơn so với nữ giới Cụ thể Châu Âu là khu vực có tỷ lệ người hút thuốc lớn nhất với 72% và Châu phi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 33% Trong đó tỷ lệ nam hút thuốc cao nhất ở khu vực Thái Bình Dương với 60%, thấp nhất là Châu Phi chiếm 29% Tỷ lệ nữ giới hút thuốc cao nhất ở khu vực Châu Âu chiếm 26% và thấp nhất ở 3 khu vực Châu Phi, Đông Nam Á, Địa Trung Hải với 4%
Trang 26Bảng 2.5: Tỉ lệ hút thuốc phân theo giới tính của nước phát triển và các nước đang
phát triển trên thế giới
Người hút thuốc lá Các nước phát triển Các nước đang phát triển
(Nguồn: FAO, năm 2014)
Hiện nay tỉ lệ người hút thuốc lá còn rất lớn kể cả những nước đang phát triển hay những nước phát triển, nhưng nếu theo tỉ lệ giới tính thì có sự khác nhau khá rõ Cụ thể tỉ lệ hút thuốc của nam giới ở những nước đang phát triển là 40-70% lớn hơn
so với tỉ lệ nam giới ở những nước phát triên với tỉ lệ 30-40% hút thuốc Còn ở nữ giới thì ngược lại, tỉ lệ nữ ở các nước đang phát triển hút thuốc chiếm 2-10% nhỏ hơn nhiều
so với tỉ lệ nữ hút thuốc ở những nước phát triển chiếm 20-40%
2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nhu cầu thuốc lá ở Việt Nam
Sản xuất cây thuốc lá hiện đang là ngành nghề tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 200.000 nông dân tại các vùng trồng và hơn 2.000 lao động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến
Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam có 5 đơn vị tham gia vào công tác đầu tư trồng thuốc lá Trong đó, khu vực phía Bắc có 2 đơn vị trực tiếp đầu tư tại các vùng: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Bắc Giang, Thái Nguyên; khu vực phía Nam có 3 đơn vị trực tiếp đầu tư tại các vùng: Tây Ninh, Long An, An Giang, Gia Lai, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu Hàng năm, diện tích đầu tư trồng thuốc lá của Tổng công ty hơn 35.000 ha với sản lượng thu hoạch hơn 75.000 tấn, chiếm trên 72% diện tích sản xuất thuốc lá của cả nước.[16]
Với 03 nhà máy chế biến nguyên liệu thuốc lá có công suất chế biến hơn 75.000 tấn/năm được bố trí hợp lý tại các vùng nguyên liệu Bắc, Trung, Nam nhằm thuận tiện cho công tác thu mua, vận chuyển, cung cấp cho các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu, hàng năm, các nhà máy này thực hiện chế biến nguyên liệu thuốc lá cho toàn ngành từ
55 – 105 nghìn tấn nguyên liệu các loại.[16]
Trang 27Việc phát triển vùng trồng nguyên liệu thuốc lá trong nước ổn định, có năng suất cao, chất lượng tốt, dần thay thế được nguyên liệu nhập khẩu Từ chỗ nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được cho sản xuất sản phẩm thuốc lá cấp thấp nay đã đáp ứng được cho cả sản xuất các loại thuốc lá tầm trung hoặc cao cấp Nguyên liệu thuốc lá trồng trong nước được các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu đưa vào sử dụng với tỷ lệ sử dụng lên đến 72%.[16]
Nguyên liệu thuốc lá trồng trong nước cũng đã được các nước có nền sản xuất thuốc lá phát triển biết đến, tạo được thị trường xuất khẩu ổn định, được khách hàng tín nhiệm và ưa chuộng Những năm đầu 90 toàn Tổng công ty chỉ lựa chọn và xuất khẩu cho nước ngoài được 80-100 tấn nguyên liệu và tới nay đã xuất khẩu được hơn 10.000 tấn nguyên liệu các loại và trên 1 tỷ bao thuốc lá
Vùng nguyên liệu của Tổng công ty hầu hết là các tỉnh miền núi, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại rất khó khăn, trình độ dân trí thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu và nằm trong số các tỉnh khó khăn nhất của cả nước như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Gia Lai, Ninh Thuận.[14]
2.3 Bài học kinh nghiệm cho địa phương
Qua nghiên cứu khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu trên thế giới và cả nước ta, có một số bài học kinh nghiệm cần đưa ra như sau:
+ Về sản xuất cần thực hiện theo hướng dẫn chỉ đạo và chính sách của nhà nước, thực hiện sản xuất, chăm sóc phải đúng kỹ thuật, phải trồng đúng đất vào đúng thời điêm, loại phân bón và liều lượng, phun thuốc heo hưỡng dẫn kỹ thuật
+ Phải dự đoán thời tiết, có cách phòng tránh để giảm thiểu sự tàn phá của thiên nhiên như: lên luống sâu, mật độ trồng phù hợp để tránh bị ngập úng khi mưa nhiều + Về vấn đề tiêu thụ cần được quan tâm đặc biệt vì tiêu thụ là quá trình cuối cùng
để kết thúc quá trình sản xuất, do vậy người dân trồng thuốc lá cần tạo sự liên kết trong dân, liên kết với chính quyền nhằm cùng chính quyền tìm giải pháp giải quyết tiêu thụ thuốc lá cho tốt nhất, người dân cần ký kết hợp đồng đầu tư và tiêu thụ với nhà máy chế biến, cần trao đổi về giá cả, thời điểm mua, cách đánh giá hay sếp loại sản
Trang 28phẩm từ đó sẽ không còn tình tạng ép giá và buôn bán cho tiêu thương, cuối cùng là giảm thiểu được chi phí trung gian
Thượng Quan là xã có lịch sử trồng thuốc lá khá lâu (từ năm 1996) nên cũng có nhiều kinh nghiệm về trồng, chăm sóc cũng như thu hái và sấy tuy nhiên mỗi thời kỳ
kỹ thuật cần phải phát triển sao cho đạt năng suất và chất lượng cao nhất chính vì vậy nên cần phải mở các lớp tập huấn về giới thiẹu thử nghiệm các loại giống thuốc lá mới
có năng suất cao cho người trồng Cần đẩy mạnh chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ
về kỹ thuật và tiêu thụ nông sản phẩm cho người dân để người dân yên tâm sản xuất Người dân cần tự chủ động trong các khâu sản suất đến tiêu thụ sản phẩm của mình
Trang 29Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ cây thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan
- Phạm vi nghiên cứu: Các hộ sản xuất, tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn
xã Thượng Quan
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Tại địa bàn xã Thượng Quan - huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn
- Thời gian bắt đầu: Từ Ngày 05 tháng 01 năm 2015
- Thời gian kết thúc: Đến Ngày 25 tháng 05 năm 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tìm hiểu đặc điểm địa bàn nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội tại địa bàn xã Thượng Quan
3.3.2 Đánh giá thực trạng sản xuất và đánh giá HQKT từ trồng cây thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan
3.3.3 Tình hình tiêu thụ cây thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan 3.3.4 Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và cơ hội, thách thức ảnh hưởng đến tiêu thụ thuốc lá trên địa bàn xã Thượng Quan
3.3.5 Phân tích các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Thượng Quan
3.3.6 Đề suất một số giải pháp phát triển sản xuất, thúc đẩy tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu tại xã Thượng Quan
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Các thông tin, thu thập số liệu thứ cấp của để tài lấy trong giai đoạn 2012 – 2014
về tình hình sản xuất thuốc lá của xã Thượng Quan
Trang 30- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các văn bản, sách báo, tạp chí, các nghị định, chỉ thị, nghị quyết, chính sách có liên quan đến vấn đề trồng, tiêu thụ cây thuốc lá nhằm
có một hệ thống lý luận tổng quát về cây thuốc lá
- Thu thập số liê ̣u thứ cấp thông qua các cơ quan, ban ngành đi ̣a phương như các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, thống kê của UBND xã Thượng Quan , báo cáo tổng hơ ̣p của huyện Ngân Sơn, Công ty CP Ngân Sơn
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia cửa người dân (PRA): Tiến hành
đi quan sát thực tế, phỏng vấn bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn bán chính thức những người dân sống tại địa phương, thu thập những tài liệu thông tin đã có tại thời điểm nghiên cứu
- Phương pháp điều tra cho ̣n mẫu : Điều tra cho ̣n mẫu là mô ̣t loa ̣i điều tra kh ông toàn bộ mà trong đó một số đơn vị được chọn ra đủ lớn để điều tra thực tế và dựa vào kết quả điều tra có thể tính toán suy rô ̣ng cho toàn bô ̣ hiê ̣n tượng
Để thực hiê ̣n đề tài tôi sử du ̣ng phương pháp điều tra cho ̣n mẫ u ngẫu nhiên đối với các hô ̣ trồng thuốc lá trên đi ̣a bàn nghiên cứu , số mẫu điều tra được phân bổ dựa theo quy mô diê ̣n tích trồng thuốc lá c ủa các hộ Cụ thể: Tổng số mẫu điều tra: 60 mẫu (ứng với 60 hộ trồng thuốc lá tại ba thôn gồm Cò Luồng, Nà Giảo và thôn Nà Kéo; Mỗi thôn điều tra 20 hộ trồng thuốc lá) Ba thôn Cò Luồng, Nà Giảo, Nà Kéo là các thôn có diện tích trồng cây thuốc lá nhiều, có các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội đặc thù của toàn xã Do vậy việc lựa chọn ba thôn trên để điều tra sẽ thể hiện được tính đại diện cho tất cả các thôn còn lại của xã Thượng Quan Từ kết quả điều tra được của ba thôn trên sẽ làm cơ sở để đưa ra giải pháp chung và định hướng phát triển chung cho toàn xã Ngoài điều tra bằng bảng hỏi đối với các hộ dân, tôi còn thu thập thông tin từ lãnh đạo địa phương, lãnh đạo công ty cổ phần Ngân Sơn và tiểu thương thu mua thuốc lá bằng phỏng vấn không chính thức
Số liệu điều tra về các nhân tố như chi phí, năng suất cũng như các nhân tố khách quan (kỹ thuật, thị trường,…) ảnh hưởng đến sản xuất thuốc lá
Trang 31Nội dung phỏng vấn dựa trên những thông tin cụ thể được ghi trong bảng câu hỏi phỏng vấn và có hợp phỏng vấn bán cấu trúc để làm phong phú thêm thông tin Nội dung bảng phỏng vấn được trình bày chi tiết trong phần phụ lục
- Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ của cây thuốc lá Từ đó có thể phát huy được các thế mạnh, giải quyết những khó khăn và tận dụng những cơ hội và phòng ngừa những thách thức cho phát triển sản xuất
3.4.1.2 Phương pháp sử lí số liệu
Các số liệu thứ cấp thu thập được sẽ được sàng lọc, lựa chọn và sắp xếp theo thứ
tự nội dung để tạo sự liên kết và hợp lý Còn các số liệu sơ cấp điều tra được xử lý, tinh chế thành số liệu tinh, được sắp xếp và lựa chọn theo nội dung:
- Số liệu từ phiếu điều tra các hô ̣ tr ồng thuốc lá được tổng hợp theo các nô ̣i dung của phiếu điều tra
- Số liệu đươ ̣c ch ọn lọc và xử lý chủ yếu bằng phần mềm Microsof Excel và Microsof Word dùng để soạn văn bản, vẽ biểu bảng và tính toán
3.4.1.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích so sánh: số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy được những thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả: các thông tin, số liệu được mô tả, liệt kê rõ ràng theo các phương pháp thống kê
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Trong quá trình thực hiê ̣n nghiên cứu đề tài sử du ̣ng mô ̣t số chỉ tiêu sau:
- Năng suất cây trồng: Năng suất cây trồng là lượng sản phẩm của cây trồng đó tính
trên một diện tích trong một vụ hay một năm Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sản xuất của địa phương hay toàn ngành
Công thức tính: Năng suất cây trồng i = Tổng sản lượng cây trồng i
Tổng diện tích gieo trồng cây i
- Giá trị sản xuất (Grossout) Kí hiệu là GO: là toàn bộ của cải vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định của một cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh, của một ngành nghề hay một vùng cụ thể thường tính cho một năm
Trang 32Trong đó: + P i là đơn giá sản phẩm i + Q i là sản lượng sản phẩm i
- Các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất:
+ Đất đai bình quân một hộ + Cơ cấu lao động theo loại lao động
+ Lao động bình quân một hộ + Vốn sản xuất bình quân một hộ
- Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của hộ:
+ Tổng doanh thu (TR): là tổng giá trị bằng tiền của các loại sản phẩm sản xuất ra
của một hộ, bao gồm phần giá trị để lại tiêu dùng (tiêu dùng cho sinh hoạt và tiêu dùng cho tái sản xuất) và sản phẩm bán ra trên thị trường
Công thức tính : TR = ∑Pi*Qi
Trong đó: + Pi là đơn giá sản phẩm thứ i ( i= 1,2,3…)
+ Qi là sản lượng sản phẩm thứ i
+ Tổng chi phí (TC): là tổng chi phí sản xuất bao gồm chi phí cố định và chi phí
biến đổi Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất, bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, thuốc phòng chống bệnh, thuê lao động, dịch vụ khác
Công thức tính: TC = FC + VC
Trong đó:+ FC là chi phí cố định + VC là chi phí biến đổi
- Giá trị gia tăng (VA - Value Added): là toàn bộ giá trị sản xuất còn lại sau khi
trừ đi chi phí trung gian Đó là một bộ phận mới do lao động sản xuất tạo ra và khấu hao tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Những trường
hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó
Công thức ti ́nh: VA = GO – IC
Trong đó: + GO là giá trị sản xuất + IC là chi phí trung gian
- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mixed Income): là phần thu nhập thuần tuý của người sản
xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất một đơn vị diện tích trong mô ̣t vu ̣ nuôi trồng
Công thức ti ́nh: MI = VA – (A + T)
Trong đó : + VA là giá trị tăng thêm (gia tăng) + T là thuế nông nghiệp
+ A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ
Trang 33- Tổng lợi nhuận (Pr): là giá trị sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành
sản xuất tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận đƣợc tính theo công thức: Pr = TR - TC
Trong đó: + Pr: là Lợi nhuận + TR: là Tổng doanh thu
+ TC: là Tổng chi phí
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế :
+ Tổng doanh thu/tổng chi phí (TR/TC) Chi tiêu này cho biết cứ một đồng chi
phí bỏ ra cho sản xuất kinh doanh thì hộ thu đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu
+ Tổng lợi nhuận/tổng chi phí (Pr/TC).Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí
cho sản xuất kinh doanh thì hộ thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Tổng doanh thu/tổng lao động (TR/LĐ) Chỉ tiêu này cho biết cứ một lao động
tham gia sản xuất thì hộ thu đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu
+ Tổng lợi nhuận/tổng lao động (Pr/LD) Chỉ tiêu này cho biết cứ một lao động
tham gia sản xuất thì thì hộ thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Tổng doanh thu/ diện tích (TR/DT)
+ Giá trị sản xuất trên một đồng chi phí : TR/IC
+ Giá trị gia tăng trên một đồng chi phi ́: VA/IC
+ Thu nhâ ̣p hỗn hợp trên một đồng chi phí : MI/IC
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thượng Quan là xã miền núi vùng cao nằm ở phía Tây huyện Ngân Sơn, có diện tích tự nhiên là 16.097,58 ha và tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau:
- Phía Bắc giáp xã Đức Vân, Vân Tùng và tỉnh Cao Bằng
- Phía Đông giáp xã Vũ Loan của huyện Na Rì
- Phía Tây giáp Thị trấn Nà Phặc
- Phía Nam giáp xã Thuần Mang và huyện Na Rì
Là một xã vùng cao có địa hình phức tạp, đi lại khó khăn Điều này ảnh hưởng lớn đến phát triển KT - XH và giao lưu với các xã trong và ngoài huyện
Tổng dân số là 3.029 người với 670 hộ, dân cư phân bố thành 22 thôn, bản
4.1.1.2 Địa hình
Địa hình của xã là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu tạo thành nhiều kiểu địa hình khác nhau tương đối phức tạp: Địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn bình quân 26-30o, diện tích đồi núi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng chỉ chiếm 10%, đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang và các bãi bồi dọc theo hệ thống các sông suối
Địa hình phức tạp đã gây khó khăn cho giao thông đi lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp nhất là thủy lợi phục vụ cho sản xuất, mùa khô gây ra hạn hán và gây ra ngập úng cục bộ vào mùa mưa
4.1.1.3 Khí hậu và thủy văn
Trang 35độ trung bình là 26,1oC và thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 11,9oC Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 2oC cực kỳ giá buốt gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống con người và cây trồng, vật nuôi
- Lương mưa trung bình năm là 1.248,2 mm phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8; vào tháng 11 lượng mưa không đáng
kể, hàng năm trên địa bàn huyện xuất hiện mưa đá từ 1 đến 3 lần
- Độ ẩm không khí cao trung bình năm là 83,0%, cao nhất vào các tháng 7,8,9,10
từ 84-86% thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1 Nhìn chung độ ẩm không khí trên địa bàn xã không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm
- Chế độ gió trên điạ bàn xã xuất hiện hai hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, tốc độ gió bình quân 1-3 m/s, tháng 4 vào giai đoạn chuyển mùa gió thổi cả ngày với vận tốc trung bình từ 2-3 m/s, thời kỳ chuyển từ mùa
Hạ sang mùa Đông tốc độ gió yếu nhất trong năm
- Bão ít ảnh hưởng đến xã cũng như trên địa bàn huyện Ngân Sơn vì nằm sâu trong đất liền và được che chắn bởi các dãy núi cao, lượng mưa trong năm không lớn nhưng lại tập trung nên xảy ra tình trạng lũ lụt ở một số vùng
Thủy văn
Hệ thống thủy văn trên địa bàn xã chủ yếu là các con suối, nhưng hầu hết đều ngắn, lưu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn Nhìn chung hệ thống thủy văn bị chi phối trực tiếp bởi cấu tạo của địa hình, địa hình dốc nên về mùa mưa gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của người dân, gây xói mòn rửa trôi
4.1.2 Các nguồn tài nguyên
4.1.2.1 Tài nguyên đất
Theo kết quả nghiên cứu của Tổng cục địa chất thì Thượng Quan nằm trong vùng địa chất có địa hình phức tạp Trên địa hình xã có bao nhiêu kiểu địa mạo thì có bấy nhiêu kiểu kiến trúc địa chất, trong đó có các loại: Granit, Rhyonit, phiến sét, thạch anh, đá vôi,…)
Phân bố các loại đất chính trên địa bàn xã như sau:
Trang 36- Đất Feralit màu vàng nhạt trên núi trung bình: Được phân bố trên các đỉnh núi cao > 700 mét, trên nền đá mác ma axit kết tinh chua, đá trầm tích và biến chất, hạt mịn, hạt thô Tầng đất mỏng, đá nổi nhiều, đất ẩm và có tầng thảm mục khá dày, ẩm
- Đất Feralit hình thành trên vùng đồi núi thấp (phát triển trên đá xa thạch): Đặc điểm là tầng mỏng đến trung bình Thành phần cơ giới nhẹ, màu vàng đỏ, thích hợp với cây trồng nông - lâm nghiệp
Với lợi thế về diện tích đất lớn, thành phần chất dinh dưỡng đất khá màu mỡ phù hợp với các loại cây trồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất
là tạo điều kiện để chuyên môn hóa sản xuất các loại cây trồng theo hướng công nghiệp, vì vậy sản xuất cây thuốc lá hiện đang được chú trọng phát triển nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế nông nghiệp cao cho người dân tại địa phương
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai xã Thượng Quan năm 2012 – 2014
CC (%)
(Nguồn:UBND xã Thượng Quan)
Trang 37Nhìn chung trong giai đoạn 2012-2014 cơ cấu diện tích đất nông nghiệp có hướng tăng từ năm 2012 chiếm 77,79% (với 12.521,46 ha) tăng lên 89,82% năm 2014 (với 14.458,05 ha), đất nông nghiệp tăng có xu hướng tích cực sử dụng đất đai có hiệu quả, tận dụng diện tích tài nguyên đất tăng hiệu quả kinh tế của người dân Cơ cấu đất nông nghiệp tăng do vậy tỉ lệ đất chưa sử dụng giảm, cụ thể từ năm 2012 chiếm 15,61% (với 2.513,04 ha) giảm xuống còn 3,50% (với 563,51 ha) năm 2014 Cơ cấu diện tích đất phi nông nghiệp tăng nhưng không nhiều do nhu cầu đất ở tăng và đất cho phát triển hạ tầng Với tình hình sử dụng đất đai của xã hiện nay, cây thuốc lá còn rất có tiềm năng phát triển mở rộng diện tích, bởi vì quý đất bỏ hoang, chưa sử dụng còn nhiều Mặt khác đất nương rẫy hiện tại chỉ trồng ngô một vụ có thể thâm canh tăng vụ trồng thuốc lá trên nương và có thể chuyển đổi những loại cây trồng không đạt hiệu quả kinh tế bằng trồng thuốc lá đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
4.1.2.2 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Lưu vực một số con suối có nước quanh năm, vào mùa khô
lưu lượng nước ít hơn do độ dốc địa hình lớn Một số suối chỉ có nước vào mùa mưa, mùa khô hầu như không có Vì vậy, khai thác nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt cần có sự đầu tư lớn
Nguồn nước ngầm: Do địa hình miền núi nên nước ngầm chỉ có ở chân các hợp
thủy và gần suối, mạch nước ngầm cách mặt đất khoảng từ 3-3,5 m, hình thức khai thác là bằng giếng khoan
4.1.2.3 Tài nguyên rừng
Theo kết quả kiểm kê đất đai 01/01/2014, xã có 13.321,52 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất có 4.276,5 ha, đất rừng phòng hộ có 9.045,02 ha Trữ lượng
gỗ lớn góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế của xã và cả huyện, tỉnh
4.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã có một số loại khoáng sản như: Đá vôi, Quặng chì, Kẽm ở Sáo Sào và Nà Diếu( trữ lượng 2.000 tấn) Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, vì vậy cần phải có những biện pháp phù hợp trong quá trình khai thác và quản lý
Trang 384.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thượng Quan là xã thuần nông và còn rất khó khăn Kinh tế trong xã chủ yếu vào trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp Ngoài ra còn có các ngành thương mại và dịch vụ nhưng chiếm tỷ trọng chưa cao Nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của toàn xã trong thời gian từ trước đến nay
4.1.3.1 Điều kiện về thu nhập và mức sống
Trước đây người dân toàn xã chủ yếu là các hộ thuần nông chủ yếu làm ruộng lúa một vụ mùa và một vụ màu cùng với một vụ trồng ngô nương để phục vụ thức ăn chăn nuôi do vậy thu nhập của người dân chỉ là các sản phẩm thóc, ngô tự phục vụ gia đình là chính còn phần thừa đem bán đổi lấy những mặt hàng thiết yếu, do vậy nên thu nhập của người dân còn rất thấp, mức sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn Nhưng từ khi trồng thuốc lá thì thu nhập người dân đã tăng lên mỗi hộ trồng thuốc lã mỗi năm có thể thu được từ trên chục triệu đến 100 triệu đồng, do vậy mức sống cũng ngày càng được cải thiện hơn
4.1.3.2 Tình hình dân số và lao động
Theo số liệu thống kê, năm 2014 dân số xã có 3.029 người với 670 hộ và gồm 3 dân tộc anh em sinh sống (Tày, Nùng, Dao), tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 0,60% Lao động trong độ tuổi chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp, chiếm trên 98% lao động của xã Mặc dù trong những năm qua xã đã cố gắng phát triển các hướng lao động khác nhưng do điều kiện khó khăn về vị trí, địa hình nên hầu như các nguồn lao động khác là không có vẫn chủ yếu là lao động Nông - lâm nghiệp
Bảng 4.2: Bảng cơ cấu dân số xã Thượng Quan năm 2014
Trang 394.1.3.3 Về giáo dục và đào tạo
Ngành giáo dục đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của mình, công tác giảng dạy tốt và huy động mọi trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường đạt 100% Về giáo dục thì có các cấp như sau: Các lớp trông giữ trẻ, lớp mẫu giáo mầm và lớp nhớ, cấp tiểu học, cấp trung học cơ sở được xây dựng và giảng dạy đúng yêu cầu và đảm bảo về chất lượng Mọi trẻ em đều được đi học và được hưởng các chế độ của nhà nước về giáo dục Về đào tạo trong xã đã có nhiều người thi đỗ vào các trường Cao Đẳng, Đại Học, trường dạy nghề đang theo học tại trường và cũng có nhiều người tốt nghiệp ra trường làm việc ở các cơ quan nhà nước hoặc công ty tư nhân hay làm kinh doanh Giáo dục và đào tạo là một yếu tố quan trọng và đặc biệt quan tâm của Đảng và chính quyền xã
kế hoạch Duy trì trạm chuẩn về Y tế quốc gia
4.1.3.5 Về văn hóa thông tin và thể thao
Công tác về văn hóa thông tin cấp xã ngày càng được tăng cường và nâng cao, tổ chúc nhiều hoạt động văn hóa-văn nghệ-thể thao nhân dịp các ngày kỉ niệm hay lễ hội Thực hiện treo cờ, băng zôn, khẩu hiệu kỷ niệm các ngày lễ lớn Tổ chức các lễ hội mừng Đảng mừng xuân và Đại hội TDTT cấp xã, đưa các vận động viên tham gia các đại hôi TDTT cấp huyện và cấp tỉnh Thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa Văn hóa thông tin và thể thao ngày càng được nâng cao
4.1.3.6 Về giữ gìn trật tự, an ninh – quốc phòng
Tình hình giữ gìn trật tự, an ninh được giữ vững và ổn định; tăng cường công tác
quản lý hành chính, công tác phong trào toàn dân an ninh nhân dân
Về công tác quốc phòng quân sự địa phương: Thường xuyên duy trì nghiêm các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, tăng cường công tác trực sẵn sàng xử trí khi có tình