Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất sản xuất đậu tương ở Việt Nam chưa cao như: Giống, kỹ thuật trồng trọt, nguyên nhân khách quan… Tuy nhiên nguyên nhân quan trọng nhất là yếu tố giố
Trang 1LÔ THỊ PHƯƠNG
Tên đề tài:
KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG MỚI TRONG VỤ XUÂN HÈ NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học Khóa học : 2013 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LÔ THỊ PHƯƠNG
Tên đề tài:
KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG MỚI TRONG VỤ XUÂN HÈ NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học Lớp : K9LT - TT Khóa học : 2013 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: TS Lưu Thị Xuyến
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 31.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Mục đích nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa của đề tài 4
Phấn 2 : TỒNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trong và ngoài nước 6
2.2.1 Sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 6
2.2.2 Sản xuất và nghiên cứu đậu tương trong nước 12
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm và quy trình kỹ thuật 21
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.3.2 Quy trình kỹ thuật 22
3.4 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 23
3.4.1 Nội dung nghiên cứu 23
3.4.1.1 Một số về chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển 24
3.4.1.2 Đánh giá sức chống chịu sâu hại của các giống đậu tương thí nghiệm tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên 24
3.4.1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất 25
3.4.2 Xử lý số liệu 26
Trang 42014 tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 29
4.2.1 Thời gian từ gieo đến mọc 31
4.2.2 Thời gian gieo đến phân cành 33
4.2.3 Thời gian từ gieo đến ra hoa tạo quả 34
4.2.4 Thời gian từ gieo đến chắc xanh 36
4.2.5 Thời gian gieo đến chín (thời gian sinh trưởng) 36
4.3 Một số đặc điểm hình thái của đậu tương thí nghiệm vụ xuân 2014 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 38
4.3.1 Số cành cấp I của đậu tương thí nghiệm 39
4.3.2 Số đốt trên thân chính của cây đậu tương thí nghiệm 40
4.3.3 Đường kính thân của đậu tương thí nghiệm 40
4.3.4 Chiều cao cây của đậu tương thí nghiệm 41
4.4 Khả năng chống chịu của đậu tương thí nghiệm vụ xuân 2014 tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên 42
4.5 Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đậu tương thí nghiệm vụ xuân 2014 tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên 45
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 5(2008-2012) 7 Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ những năm gần đây 9 Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu tương của Brazil những năm gần đây 10 Bảng 2.4 Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc những năm gần đây
11
(2008-2012) 13 Bảng 4.1 Tình hình thời tiết, khí hậu vụ xuân 2014 tại Thái Nguyên 28 Bảng 4.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của đậu tương thí nghiệm vụ
xuân 2014 tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 31 Bảng 4.3 Một số đặc điểm hình thái của đậu tương thí nghiệm vụ xuân 2014
tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên 39 Bảng 4.4 Tình hình sâu bệnh của đậu tương thí nghiệm vụ xuân năm 2014 tại
trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên 43 Bảng 4.5 Một số yếu tố hình thành năng suất và năng suất của đậu tương thí
nghiệm vụ xuân 2014 tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên 45
Trang 6Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đang phát triển với hơn 70% số dân làm nông nghiệp, bởi vậy ngành nông nghiệp rất quan trọng đối với sự phát triển của
đất nước Kể từ sau cách mạng tháng Tám – 1945, để khắc phục hậu quả sau
chiến tranh cung cấp đủ lương thực cho nhân dân Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu kỹ thuật tiên tiến và những giống cây trồng mới phù hợp với điều kiện sinh thái, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về lương thực, thực phẩm của cả nước So với những loại cây lương thực chính như lúa, ngô, khoai… thì đậu tương chỉ chiếm một diện tích nhỏ (39.945 ha), năng suất còn thấp (5,2 tạ/ha) Khi nhu cầu lương thực được thảo mãn thì đậu tương trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Đậu tương không chỉ được sử dụng như một loại thực phẩm (đậu phụ, sữa đậu nành…), mà còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc sử dụng trong công nghiệp chế biến bánh kẹo… Đặc biệt là giá trị lấy dầu của đậu tương rất cao
Trong văn kiện Đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam (tập 2, tr.37) đã ghi: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho con người, cho gia súc cho đất đai và trở thành một loại hàng xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng” Đối với người dân trực tiếp sản xuất thì cây đậu tương
được ví như “vàng mọc từ đất.” Sở dĩ đậu tương có vị trí quan trọng như vậy
là nhờ giá trị dinh dưỡng của nó
Qua phân tích sinh hóa thành phần sinh hóa dinh dưỡng của cây đậu tương cho thấy: hạt đậu tương có hàm lượng protein khá cao (38-40%), cao gấp 2-3 lần như hạt ngũ cốc, lúa mạch, lúa mì… Đậu tương được coi là nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì có một lượng đáng kể các amino axit cần thiết
Trang 7với cơ thể con người Protein của đậu tương có giá trị dinh dưỡng và phẩm chất tốt nhất trong số protein thực vật, đặc biệt protein của đậu tương không chứa Cholesteron Giải thích về sự gia tăng Cholesteron, tác giả Erdman cho biết: Protein từ đậu tương có tính chất khác với protein thực vật Khi dùng bột
đậu tương một loại Amino axit có trong máu bệnh nhân có tên là arginine đã
tăng lên Arginine chính là tiền thân của oxit nitric–hợp chất giúp giãn nở mạch máu và giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch Protein đậu tương không
có dạng của axit Uric (một loại axit gây bệnh Gus ở người) Do vậy, protein ở
đậu tương rất tốt với sức khỏe của con người
Hàm lượng lipit của đậu tương cũng khá cao (8-20%), có chứa tỷ lệ axit béo không no như axit pamitic… có giá trị dinh dưỡng cao Lượng Cazein có vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của trẻ em có mặt đầ đủ và cân đối trong hạt đậu tương Hạt đậu tương có hàm lượng axit béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được sử dụng để cung cấp dầu thực vật Theo khuyến cáo của bộ Y tế, sử dụng dầu thực vật thay cho mỡ động vật trong các bữa ân hàng ngày có tác dụng rất tốt cho sức khỏe, đặc biệt phòng tránh các bệnh về tim mạch Ngoài ra tỏng hạt đậu tương còn tập trung nhiều loại Enzim, Vitamin khác nhau như B1, B2, A, E… và nhiều loại muối khoáng như Ca, Fe, Mg, K, N…
Từ hạt đậu tương có thể chế biến ra nhiều loại sản phẩm khác nhau bằng các phương pháp cổ truyền và hiện đại dưới dạng khô, tươi, lên men,… như đậu nhành, đậu phụ… Do giá thành thấp và sẵn có, dầu đậu tương là một loại dầu thực vật quan trọng nhất dùng trong sản xuất công nghiệp Hiện nay
đậu tương là cây trồng đứng đầu về cung cấp nguyên liệu ép dầu, chiếm 50%
tổng lượng dầu thực vật Ngoài ra trong thân lá đậu tương chứa hàm lượng protein nhỏ (8-15%) được dùng làm thức ăn trong chăn nuôi và làm nguồn phân xanh cải tạo đất rất tốt Bột bã đậu tương sau khi ép lấy dầu có thể dùng
Trang 8làm nguyên liệu chế biến thức ăn tinh giầu đạm để chăn nuôi Đặc biệt cây
đậu tương nói riêng và cây đâu đũa nói chung còn có khả năng đống hóa nitơ
sần) Nhờ hoạt đọng của vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ đậu, rễ
đậu tương ăn sâu, phân nhánh nhiều làm cho đất tơi xốp, do đó trồng cây đậu
tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng vụ sau
Mặc dù có thị trường và điều kiện thuận lợi để mở rộng diện tích trồng
đậu tương, song hiện nay, mỗi năm nước ta vẫn nhập khẩu khoảng một triệu
tấn đậu tương Theo ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởn Cục trồng trọt, đến nay
cả nước trồng khoảng 2000 ha đậu tương (chủ yếu trong vụ đông), với sản lượng 300 nghìn tấn Tuy vậy, sản lượng này mới đáp ứng 25% nhu cầu sử dụng trong nước Mỗi năm cả nước vẫn nhập khẩu gần 1 triệu tấn hạt đậu tương, nhu cầu sử dụng bình quân tăng 10%/ năm Qua tính toán cho thấy trồng đậu tương có lãi suất cao hơn trồng lúa, thời gian trồng cũng ngắn hơn, làm tăng hiệu quả kinh tế Giá đậu tương trên thị trường khá ổn định, vì vậy hầu hết các tỉnh phía bắc đều đưa đậu tương vào cơ cấu rau màu chủ lực Mỗi năm diện tích trồng đậu tương bình quân tăng 7-10% Tuy nhiên năng suất trồng đậu tương chưa cao (12 tạ/ha) so với năng suất bình quân trên thế giới ()23,3 tạ/ha), [16] Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất sản xuất đậu tương ở Việt Nam chưa cao như: Giống, kỹ thuật trồng trọt, nguyên nhân khách quan… Tuy nhiên nguyên nhân quan trọng nhất là yếu tố giống, điều
đó đòi hỏi các nhà chọn tạo giống cần tìm ra những giống đậu tương mới
năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái và kĩ thuật trồng trọ của nước ta
Xuất phát từ quan điêm đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ”
Khảo nghiệm một số giống đậu tương mới trong vụ xuân hè năm 2014 tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trang 91.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm giống đậu tương có năng suất, phẩm chất cao và khả năng chống chịu tốt trong điều kiện sản xuất vụ xuân 2014 tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên để giới thiệu cho sản xuất
1.3 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và khả năng cho năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm
- Tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh lý của đậu tương thí nghiệm
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Trong học tập và nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài giúp cho sinh viên đem kiến thức đã được trang bị trên giảng đường áp dụng vào thực tiến,
đồng thời làm quan với công tác nghiên cứu và rèn luyện kỹ năng thực tế
Tiến hành thực hiện đề tài là bước đầu trang bị cho sinh viên ý thức độc lập,
tự chịu trách nhiệm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Đề tài có ý nghĩa trong thực tiến, góp phần bổ sunh những giống mới
có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích hợp với từng điều kiện sinh thái cụ thể, xác định khả năng của giống trong sản xuất
Trang 10Phấn 2 TỒNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp có nhiều yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm trồng trọt như: Đất đai, phân bón, nước và yếu tố giống, nhưng yếu tố nào là quan trọng nhất
Từ xa xưa ông cha ta đã có câu: “Tốt giống, tốt má, tốt lúa” hay “Cố công không bằng giống tốt” Và cho đến nay trong sản xuất thì “Giống là tiền
đề, thức ăn là cơ sở” Thực tế cho thấy khi sử dụng giống có phẩm chất tốt,
thích nghi với điều kiện sinh thái cụ thể có ảnh hưởng rất tốt đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Sử dụng giống tốt là biện pháp rẻ tiền nhất để năng suất cây trồng tăng rõ rệt Không những vậy giống tốt còn mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành trồng trọt vì đỡ tốn công chăm sóc, goảm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường Thay hạt giống có phẩm chất cao cho hạt giống bình thường đã làm cho năng suất tăng được 15-20% sản lượng (Nguyễn Đức Lương và cs, 1999)[6]
Ngày nay, để thảo mãn nhu cầu nhiều mặt của con người, việc chọn giống đều dựa trên cơ sở di tuyền và di truyền tế bào cahats Trên cơ sở lý thuyết nhiễm sắc thể về sự hình thành và cấu trúc gen, người ta đã đưa ra hàng loạt các biện pháp chọn giống hiện đại: Gây đột biến, lai taojm dung hợp
tế bào,… nhằm tạo ra giống mới có năng xuất cao và ổn định phẩm chất tổ hục vụ cho nghiên cứu và sản xuất đại trà Tuy nhiên các giống mới khi được
sử dụng liên tục qua một thời gian sẽ dẫn đến tình trạng thoái hóa hoặc lẫn tạp, do đó cần phải nghiên cứu các phương pháp, kỹ thuật sản xuất hạt giống
và thay đổi giống mới liên tục
Trang 11Một giống muốn đưa ra ngoài sản xuất khâu khảo nghiệm, đánh gái và tuyển chọn không thể thiếu Với tính cấp thiết của đề tài và vai trò quan trọng của công tác giống, đồng thời giúp bản thân tìm hiểu sâu sắc hơn về công tác
giống cây trồng, tôi cọn đê tài: “Khảo nghiệm một số giống đậu tương mới
trong vụ xuân hè 2014 tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trong và ngoài nước
2.2.1 Sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới
Đậu tương là cây trồng quan trọng trong 8 loại cây lấy dầu trên thế giới
(đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ) Ngoài giá trị cung cấp thực phẩm, đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến y, dược… Mặc khác trồng đậu tương còn có thể kết hợp xen canh, luân canh gối vụ với nhiều loại cây trồng khác nên làm tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích Do thấy được giá trị của cây đậu tương, hiện nay nhiều quốc gai trên thế giới đã thúc đẩy việc phát triển và mở rộng diện tích sản xuất đậu tương, làm cho cây đậu tương trở thành cây trồng quan trọng đứng sau lúa mì, lúa nước, ngô Trên thế giới có khoảng 78 nước trồng
đậu tương, trong đó chủ yếu tập trun chủ yếu là ở Châu Mỹ (73,03%) và Châu
Á (23,15%)
Bằng các biện pháp lai tạo, chọn lọc, gây đột biến… hiện nay tập đoàn giống đậu tương đã trở nên phong phú, có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích hợp cho từng cùng sinh thái và các mùa vụ gieo trồng khác nhau Hiện nay cây đậu tương là cây trồng só diện tích, năng suất và sản lượng lớn nhất trong các loại đậu đỗ Diện tích trồng đậu tương tính đến năm 2005 đạt 91.386.621
ha, năng suất bình quân là 22,928 tạ/ha và tổng sản lượng thu được là 209.531.558 tấn Những năm gần đây diện tichsm năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới không ngừng tăng, cụ thể được thể hiện qua bảng 2.2
Trang 12Bảng 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
trong 5 năm gần đây (2008-2012)
(Triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Về năng suất: Từ bảng trên ta thấy năng suất đậu tương trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động trong khoảng 22,4 - 23,0 (tạ/ha) cao nhất là năm 2010 với 25,8 (tạ/ha) và thấp nhất là năm 2009 với 22,4 (tạ/ha)
- Sản lượng: Sản lượng đậu tương trong những năm gần đây tương đối
ổn định có sự biến động nhưng biến động không đáng kể Trong vòng 6 năm
từ năm 2008 – 2012 sản lượng đậu tương tăng 50,7 triệu tấn, tương đương với
23,63% Năm 2010, sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 265,25 triệu tấn, và đến
năm 2011 và 2012 sản lượng đậu tương giảm 23,41 triệu tấn, tương đương với 8,83% Sở dĩ trong những năm từ năm 2005 đến năm 2010 sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh đến như vậy là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất Nhưng đến năm
2011 và 2012 sản lương đậu tương giảm mặc dù diện tích trồng đậu tương
Trang 13vẫn tăng là do thới tiết khí hậu không thuận lợi, thường xuyên xảy ra thiên tai hạn hán
Theo dự đoán trong thời gian tới tốc độ phát triển đậu tương trên thế
giới sẽ chậm hơn so với các năm trước Kết quả nghiên cứu của trên 200 chuyên gia ở các nghành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậu tương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhu cầu về sản lương đậu tương tăng 4%/năm Trong tương lai với sự trợ giúp của công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt Công nghệ sinh học là một trong nhưng yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng hạt đậu tương và khả năng chống chịu của cây
Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tương tuy nhiên sản xuất
đậu tương tập trung chủ yếu ở 4 nước: Mỹ, Brazil, Achentina và Trung Quốc
Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiếm 90 -95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới
Thế kỷ 18 cây đậu tương mới bắt đầu được trồng ở Mỹ nhưng do có sự thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai mà cây đậu tương phát triển nhanh và Mỹ trở thành một trong những nước sản xuất đậu tương đứng
đầu thế giới cả về diện tích lẫn sản lượng Hiện nay Mỹ là quốc gia đứng đầu
về sản xuất đậu tương chiếm 45% diện tích, 55% sản lượng đậu tương thế giới Tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ trong những năm gần đây thể hiện qua bảng 2.2
Trang 14Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ những năm gần đây Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Về diện tích: Từ 2007- 2010 diện tích trồng đậu tương của Mỹ dao động
từ 31,00 - 31,39 triệu ha, trong đó diện tích trồng đậu tương năm 2008 là lớn nhất đạt 31,39 triệu ha
Về năng suất: Từ bảng trên ta thấy năng suất đậu tương ngày càng tăng cao lên và dao động trong khoảng 23,14 - 29,68 tạ/ha cao nhất là năm 2008 với 29,68 tạ/ha và thấp nhất là năm 2007 với 23,14 tạ/ha
Về sản lượng: Sản lượng đậu tương của Mỹ liên tục tăng trong những năm gần đây Giai đoạn 2005 - 2010 sản lượng đậu tương của Mỹ tăng từ 70,71 triệu tấn lên 93,14 triệu tấn tăng 31,7% Năm 2008, sản lượng đậu tương đạt cao nhất là 93,19 triệu tấn, thấp nhất là năm 2007 với 70,71 triệu tấn
Như vậy, năm 2008 là năm đạt cao nhất trong những năm gần đây cả về diện tích, năng suất và sản lượng Cây đậu tương là một trong năm cây thực phẩm quan trọng ở Mỹ, công nghệ sinh học đang tập trung vào cây đậu tương, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ năm 2008 diện tích trồng cây
đậu tương chuyển gen tại Mỹ chiếm 92% trong tổng diện tích trồng đậu tương
trên cả nước Đậu tương được coi là mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu của
Trang 15Mỹ Vì vậy vấn đề tăng năng suất luôn được đặt lên hàng đầu Nhiều giống
đậu tương mới được ra đời nhờ công nghệ đột biến, lai tạo, chọn lọc mang
những đặc tính mà con người mong muốn
Đứng thứ hai ở Châu Mỹ và cũng đứng thứ hai trên thế giới về diện tích
và sản lượng đậu tương là Brazil Tình hình sản xuất đậu tương của Brazil trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.3
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu tương của Brazil những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn: FAO STAT,2012) [14]
Brazil là nước mới đứng vào hàng ngũ sản xuất đậu tương nhưng là nước có triển vọng Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy sản xuất đậu tương của nước này cũng không ngừng tăng lên qua các năm đưa Brazil lên đứng thứ 2 trong hàng ngũ các nước sản xuất đậu tương lớn của thế giới.Năm 2010 là năm Brazil đạt cao nhất kể cả về năng suất, diện tích và sản lượng Diện tích trồng
đậu tương năm 2010 là 23,29 triệu ha tăng hơn so với năm 2009 là 1,53 triệu
ha, năng suất bình quân năm 2010 là 29,42 tạ/ha tăng 3,24 tạ/ha so với năm
2009 đạt 26,18 tạ/ha, sản lượng cũng tăng mạnh so với năm 2009
Đứng thứ 3 sau Mỹ và Brazil về sản xuất và xuất khẩu đậu tương là
Achentina Tại quốc gia này đậu tương thường được luân canh với cây lúa
mỳ Chính phủ nước này đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu
Trang 16tương do đó mà cây đậu tương phát triển khá mạnh đưa nước này lên xếp thứ
3 về sản xuất đậu tương lớn trên thế giới
Trung Quốc là có diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương lớn nhất Trước chiến tranh thế giới thế giới thứ 2 Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất đậu tương cả về diện tích, năng suất, sản lượng (63% diện tích, 90% sản lượng), hiện nay Trung Quốc đứng thứ tư về năng suất, diện tích, sản lượng Nhìn chung trong những năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương Trung Quốc có sự biến động không ngừng
Tuy sản xuất đậu tương của Trung Quốc còn đứng sau Mỹ, Brazil và Achentina nhưng đây vẫn là nước có diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương lớn nhất Châu Á Sản lượng đậu tương đạt cao nhất vào năm 2007 là 15,60 triệu tấn sau đó giảm dần đến năm 2010 chỉ còn đạt 15,08 triệu tấn Sản xuất đậu tương đứng số 1 Châu Á, tuy nhiên sản lượng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước Hàng năm Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn
đậu tương từ Châu Mỹ Trung Quốc là nước phải nhập đậu tương lớn thứ 2
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 17Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đã góp phần tạo ra những giống
đậu tương mới mang những đặc tính mới như năng suất cao, phẩm chất tốt,
khả năng thích ứng rộng đáp ứng được nhu cầu sản xuất của người dân Đây
là bước đi mới cho công tác nghiên cứu hiện đại chính vì vậy cần có các biện pháp hợp lý giữa việc chọn tạo giống với các biện pháp thâm canh nhằm phát huy hết được tiềm năng của giống
Công tác chọn tạ giống đậu tương của thế giới chủ yếu tập trung cào một số vấn đề sau:
- Nhập nội giống sau đồ bồi dục cho thích nghi với từng vùng sinh thái
- Thu nhập nguồn vật iệu sau đó lai tạo chọn lọc ra những dòng, giống tốt phục vụ cho sản xuất
- Khảo nghiệm các giống ở vùng sinh thái khác nhau, tìm ra khả năng thích ứng các giống ở các vùng sinh thái đó
- Dùng các tác nhân vật lý, hóa học, gây đột biến tạo ra những giống mới có nhiều đặc điểm tốt
- Xác định địa bàn sản xuất đậu tương trên thế giới và các nước có sản lượng cao
2.2.2 Sản xuất và nghiên cứu đậu tương trong nước
Cây đậu tương được trồng ở Việt Nam từ lâu đời và chiếm một vị trí qua trọng trong sản xuất nông nghiệp, song năng xuất đậu tương trong nước còn thấp sơ với thế giới Trước năm 1945, diện tích trồng đậu tương của nước
ta còn ít (32.200 ha), năng suất thấp (4,1 tạ/ha) Sau khi đất nước giành độc lập, nhu cầu lương thực, thực phẩm của con người ngày càng tăng đã đồi hỏi
ta phải thay đổi cơ cấu cây trồng, thay vào đó là những cây trồng có giá trị kinh tế cao đồng thời đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của con người Lúc này, cây đậu tương đặc biệt được chú trọng, diện tích trồng cây đậu tương
Trang 18tăng lên 39.954 ha và năng suất đạt 5,2 tạ/ha, sản xuất đật tương vào thời kỳ này nhằm 3 mục đích:
- Giải quyết vấn đề Protein cho người và gia súc
- Xuất khẩu
- Cải tạo đât
Đến năm 1997 tổng diện tích trồng đậu tương của cả nước là 130.000
ha, năng suất đạt 10,38 tạ/ha (số liệu Internet) Trong những năm gần đây diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương khôn ngừng tăng Tình hình sản xuất đậu tương trong 5 năm gần đây được thể hiện cụ thể qua bảng 2.5
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong
5 năm gần đây (2008-2012)
(Nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2014)
Qua bảng 2.5 cho thấy: Diện tích và năng suất đậu tương từ năm 2008
đến năm 2012 tăng đáng kể Năm 2008 diện tích đậu tương của nước ta có
192.100 nghìn ha, sản lượng đạt 267,600 nghìn tấn Qua 5 năm 2008-2012 diện tích và sản lượng đậu tương tăng dần và cao nhất vào năm 2012, với diện tích 120.751 nghìn ha, năng suất 15,517 tạ/ha và sản lượng đạt 175.295 nghìn tấn Song diện tích đậu tương cón có hạn, năng suất thấp (13 tạ/ha) so với năng suất bình quân trên thế giới (23,3 tạ/ha) Nguyên nhân là do chưa có giống tốt và biện pháp kỹ thuật thích hợp trong điều kiện sản xuất thực tế
Trang 19Điều đó đồi hỏi chúng ta phải đầu tư nghiên cứu nhiều hơn, nhằm nâng cao
năng suất đậu tương và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích
Trước các mạng tháng Tám, nhu cầu đậu tương của nước ta còn hạn chế, chủ yếu ta còn lo đảm bảo về lương thực Chỉ khi đất nước thống nhất thì vai trò của cây đậu tương đối với nền nông nghiệp của nước ta mới được đẩy mạnh Nhận rõ vai trò của việc nghiên cứu, tạo giống mới có năng suất cao, nâng cao hiệu quả trồng trọt, sau cách mạng tháng Tám nước ta xây dựng
được các trại nghiên cứu đậu đỗ nói chung và đậu tương nói riêng ở các tỉnh
như: Định Tường, Mai Nham, Thất Khê, Phú Nhung Trong những năm
1957-1965 trại đậu đỗ Định Tường đã tiến hành thí nghiệm 52 giống đậu đỗ địa phương và một số giống đỗ nhập nội (chủ yếu giống nhập từ Trung Quốc), kết quả đã tạo ra được hai giống tốt đưa vào sản xuất đại trà
- Giống V70, giống gốc là giống Hoa Tuyển ở Trung Quốc thích hợp cho sản xuất vụ đông ở miền Bắc
- Giống V74, giống gốc là giống Cáp Quả Địa ở Trung Quốc thích hợp cho sản xuất vụ đông ở Miền Bắc
Ở miền Nam đã tiến hành thu thập tập đoàn giống đậu tương nhập nộ từ
những năm 1961-1972 Bốn trung tâm: Eakmat (Đaklak), Hưng Lộc, Long Khánh (Đồng Nai), với các giống nhập từ Hoa Kỳ, Thái Lan… đã chọn ra những giống tốt đưa ra sản xuất như:
- Giống Sandumaria, nguồn gốc từ Brazil, thích hợp cho vùng cao nguyên Nam Trung Bộ
Các dòng do viện khảo cứu Sài Gòn tuyển chọn như: V67-8, PS67-25, PS67-31 có thời gian sinh trưởng trung bình (100-108 ngày), ít bị ảnh hưởng của chu kỳ chiếu sáng
Nguyễn Thị Út (1996)[9] đã nghiên cứu tập đoàn giống đậu tương nhập nội để chọn giống có năng suất cao và phẩm chất tốt, bao gồm 541 mẫu giống
Trang 20từ 26 nước, thuộc 4 châu lục (Châu Á, Cahau Mỹ, Châu Âu, Châu Phi) Trong những năm 1993-1995, các thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân là chính, ngoài ra còn được lặp lại ở vụ hè và vụ đông tại Văn Điển-Thanh Trì-Hà Nội Kết quả đã phân lập và đề xuất hướng chọn giống theo nguồn gốc xuất sứ và
đã chọn ra được:
- 128 mẫu giống hạt to (khối lượng 1000 hạt từ 191-260g), là các giống
có nguồn gốc từ Nhật Bản và Trung Quốc
- 40 mẫu giống có hàm lượng protein cao (40-50,8%), là các giống nhập từ Nga và Trung Quốc
- 30 mẫu giống có hàm lượng dầu cao (24-31,3%), là các giống được nhập từ Nga và Mỹ
- 32 giống có khối lượng hạt trên cây cao (22-30g)
Từ những năm 1980 trở lại đây các cơ sở nghiên cứu khoa học đã tập trung đi sâu vào 2 hướng cơ bản trong sản xuất đậu đỗ nói chung và cây đậu tương nói riêng, đó là:
- Chọn tạo giống thích hợp cho từng vùng sinh thái, với từng mùa vụ khác nhau có năng suất, phẩm chất tốt
- Đưa cây đậu tương vào hệ thống trồng trọt, nhằm cải tiến hệ thống trồng trọt độc canh hóa ở các vùng và cải tạo vùng đất bị thoái hóa
Xuất phát từ những mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho công tác chọn giống đậut ương là thu thập đánh giá nguồn gen nhằm bảo tồn tài nguyên di truyền và tuyển chọn nhanh chóng các giống thích hợp phục vụ kịp thới cho sản xuất
Trong những năm 1986-1990, nhiều dòng giống đậu tương đã được khảo sát ở Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam, trong đó có 2000 dòng địa phương còn lại là các dòng nhập nội Các dòng giống ngày có nguồn gốc từ
35 nước khác nhau, nhiều nhất là từ Trung tâm Rau-Đậu Châu Á (AVRDC) ở
Trang 21Đài Loan và Viện Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế IITA ở Nigeria Qua khảo
sát và đánh giá, các cơ quan nghiên cứu khoa học đã phân lập được hàng laotj các dòng có gen quý khác nhau về các tính trạng số lượng và chất lượng Các giống có thời gian sinh trưởng cực ngắn, dưới 65 ngày như: Shiro, Tainai, IS, K5376, Norodia, K677, Ortario
Các dòng có số quả trên cây và số hạt trên cây nhiều như: JS-200, AGS-1, Viliam Các dòng không phản ứng với độ dài ngày gồm: AGS79, IG-
20, DT36161 Đây là những nguồn gen quý để phục vụ cho công tác chọn và tạo giống ở Việt Nam
Từ những năm 1985 trở lại đây, đề tài cấp nhà nước về “Chọn tạo giống và kỹ thuật thâm canh phát triển đậu đỗ”, thuộc chương trình KN01 đã tập hợp được 11 cơ quan nghiên cứu trong cả nước cùng hàng trăn cán bộ khoa học kỹ thuật tham gia Bằng các phương pháp khác nhau như dùng các tác nhân vật lý, hóa học để xử lý đã tạo ra các dòng đột biến có giá trị trong công tác chọn tạo giống như: M103, AK05, VX92, DT84, DT80, HL92 Trong đó:
- VX126 do sử lý đột biến từ giống VX93, có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống khởi đầu
- DT83 đột biến từ các giống cọc chùm có năng suát cao ở vụ hè, thích hợi đất đồi núi bạc màu, thời gian sinh trưởng trung bình là 90 ngày, năng suất đạt 14-27 tạ/ha
- Giống DT84 được chọn bằng phương pháp xử lý đột biến trên dòng lai 8-33 (DT84 x ĐH4) bằng tia gama DT84 là giống ngắn ngày có khả năng thích ứng rộng, tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá, chất lượng hạt giống tốt và dễ để giống
Trang 22- M103 được xử lý đột biến từ giống V70 bằng Etylen Imin 0,01%, là giống thích hợp cho vụ hè, năng suất hạt 17 tạ/ha, thời gian sinh trưởng ngắn (khoảng 85 ngày), có khả năng chống chịu sâu bệnh
Các tác giả Ngô Đức Dương, Trần Đình Long và cs [3] đã đưa giống
đậu tương DT80 được chọn lọc từ cặp lai V74 x Vàng Mộc Châu, có ưu điểm
hạt to, năng suất cao thích hợp cho vụ xuân và vụ hè thu cho vùng trung du miền núi
Ngoài ra Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ Viện Khoa học kỹ thuật Việt Nam kết hợp với các chuyên gia Nhật tiến hành chương trình thu thập giống
địa phương, kết quả đã thu được hàng trăng giống khắp trên mọi miền của đất
nước
Theo tác giả Nguyễn Thị Bình (1990)[1] đã nghiên cứu đánh giá tập
đoàn giống đậu tương miền Bắc về khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt từ năm
1986-1989, gồm 897 mẫu giống đậu tương có nguồn gốc từ các dòng, giống trong nước và nhập nội Kết quả thu được các dòng giống nhập nội kháng bệnh đề có nguồn gốc từ Châu Á (nhất là Đài Loan), rất thích hợp với điều kiện chọn giống ở Việt Nam
Nguyễn Tấn Hinh (1990)[7] khi nghiên cứu sự khác biệt di truyển ở
đậu tương cho biết: thời gian sinh trưởng của đậu tương có vai trò quan trọng
nhất, tiếp đến là khối lượng 1000 hạt và số quả chắc/cây Các giống đậu tương nghiên cứu đã được tác giải xếp vào 11 nhóm khác biệt về mặt di tuyền
và có thể ứng dụng chọn tạo giống đậu tương về năng suất hạt và một số tính trạng khác
Theo Nguyễn Thị Vân (1996)[10] khi so sánh một số dòng giống đậu tương mới chọn lọc cho thấy dòng D173 (ngồn gốc Bộ môn di truyền trường
ĐH Nông nghiệp I Hà Nội) và dòng D169 (nguồn gốc Viện cây lương thực
thực phẩm) có triển vọng về năng suất, đặc biệt là giống D173 có khả năng
Trang 23kháng sâu bệnh rất tốt Bằng phương pháp “Chọn tạo phả hệ”, Trần Đình Long và cs (1992)[5] chọn tạo được giống Việt Xô 9-2 (VX92) và cho phép khu vực hóa VX92 Các giống đậu tương đều cho hàm lượng protein tương
đối cao, khả năng chống chịu từ trung bình khá, thời gian sinh trưởng ngắn
Theo Vũ Đức Chính (1995)[2] khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương đã phân lập các chỉ tiêu thành 3 nhóm theo mức độ quan hệ của chúng với nắng suất Nhóm I gồm 18 chỉ tiêu không tương quan chặt chẽ với năng suất như: Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây,… Nhóm thứ II gốm 15 chỉ tiêu có tương quan chặt chẽ với năng suất như: Số quả/cây, tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, diện tích lá, khối lượng vật chất khi tích lũy Nhóm thứ III có 5 chỉ tiêu tương quan ngịch với năng suất: Tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ nhiễm virus, tỷ lệ bệnh đốm lá, tỷ lệ sâu đục quả Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra mô hình cây đậu tương có năng suất cao là: Số quả/cây nhiều/ tỷ lệ quả chắc cao, khối lượng 1000 hạt lớn, tỷ lệ quả có 2-3 hạt cao, diện tích lá thời kỳ quả mẩy cao, khối lượng tươi thời kỳ hoa rộ và chắc xanh cao, số nốt sần trên cây nhiều
Hiện nay có một số chương trình hợp tác giữa bộ Nông nghiệp và ICRISAT có nhiều cơ quan như: Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện cây Lương thực, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau-Màu Châu Á, các trường Đại học Nông nghiệp cùng các cơ quan nghiên cứu khoa học khác đã tập trung nghiên cứu chọn tạo giống từ các nguồn vật liệu trong nước, nhập nội và gây đột biến Kết quả công tác nghiên cứu, chọn tạo giống
ở Việt Nam có 4188 lượt mẫu giống được khảo sất Trong giai đoạn
1996-2000, chủ yếu tại Viện KHoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (Trung tâm giống cây trồng Việt Xô 3041 mẫu và Trung tâm nghiên cứu Đậu đỗ 325 mẫu) Trong đó 1147 mẫu giống ở các cơ sở nghiên cứu khác
Trang 24Theo Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh (2004)[11] để nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các tỉnh phía bắc, trong công tác nghiên cứu Viện Di truyền đã đặt ra nhiệm vụ tạo ra giống đậu tương cực ngắn ngày với các chỉ tiêu chuẩn: Thời gian sinh trưởng từ 70-80 ngày, năng suất vụ đông đạt 1,8-2,5 tấn/ha (50-80kg/sào), hạt vàng, chất lượng hạt tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh, chống nóng, lạnh khá cao Theo hướng này giống đậu tương DT99
đã được đưa ra khảo nghiệm quốc gia từ vụ đông 1998 Giống đã được khu
vực hóa năm 2000 và hội dồng khoa học Viên Di truyền Nông nghiệp đề nghị
được công nhận là giống chính thức năm 2003
Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam [12] đã thành công trong việc chọn tạo ra một số giống đậu tương có năng suất cao như: DT96, DT2001, DT99, DT2006 và đặc biệt là giống đậu rau (DT02 và DT06)
- Giống DT02: Là giống có triển vọng khảo nghiệm quốc gia, được khảo nghiệm sản xuất đại trà ở một số tỉnh phía Nam, có triển vọng tốt Giống thu non dùng ăn tươi, xào nấu, hạt già to gấp đôi bình thường (310-380g/1000 hạt khô), quả to dài 5,5cm, rộng 1,35cam, tỷ lệ quả 2-3 hạt cao (80%), thời gian thu hạt già 85-90 ngày Năng xuất quả non thu lúc vào chắc hạt đạt 10-20 tấn/ha, năng suất hạt già 18-35 tạ/ha Giống thíc ứng rộng, chống chịu khá
- Giống DT06: Có năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, hiện đang tiếp tục nghiên cứu và hợp tác với các doanh nghiệp triển khai tại Đồng Bằng Sông Cửu Long trong thời gian tới
- Sau 7 năm khảo nghiệm liên tục (1998-2004 tại nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhóm tác giải Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh, Trần Duy Quý, Phan Bảo Trung thuộc Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao tiến bộ Khoa học kỹ thuật (thuộc viện Di truyền Nông nghiệp)[15] đã sả xuất thành công giống đậu tương chịu hạn mới DT96, đây là giống đậu tương đầu tiên ở nước
ta được lai tạo bằng phương pháp xạ (từ hai giống DT90 và ĐT84), nhằm tại
đột biến cao về năng suất và chất lượng Giống DT96 có thời gian sinh trưởng
là 98 ngày (vụ xuân) và 96 ngày (vụ hè) và 90 ngày (vụ đông), năng suất đạt
Trang 253,5-4 tấn/ha, cao hơn 30% so với các giống thường Đặc biệt giống có hàm lượng protein khá cao (gần 43%) DT96 đã được công nhận chính thức làm giống chính thức 7-2004
Trong những năm gần đây, ngoài việc chọn lọc các giống đậu tương mới cho năng suất cao đã có nhiều chương trình nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất của đậu tương như:
- Phương pháp làm đất tối thiểu [14]: Qua năm thử nghiệm đã gieo thành công đậu tương bằng phương pháp làm đất tối thiểu, tỉnh Hà Nam đang nhân rộng diện tích (70.000 ha) đậu tương trong vụ đông 2006, tăng 20% so với năm trước Điều đáng quan tâm là hiệu quả kinh tế của phương pháp làm
đất tối thiểu cao gấp đôi so với phươn pháp truyền thống Do phương pháp
này chỉ khơi thông sơ bộ rãnh thoát nước nền ruộng nhằm điều khiển độ ẩm thích hợp cho hạt nảy mầm và phát triển, qua đó tận dụng tối đa được diện tích đất
- Phương pháp gieo đậu tương bằng máy [16]: Vụ đông năm 2006 toàn quốc có khoảng 71 ngàn ha đậu tương, trong đó tỉnh Hà Tây chiếm 31.603 ha chiếm một nửa diện tích cả nước Theo thông báo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, diện tích trồng đậu tương của cả tỉnh tăng 14% so với cùng thời kỳ năm ngoái Có được những kết quả trên là trong vụ đông năm 2006 tỉnh Hà Tây đã ứng dụng phương pháp gieo đậu tương bằng máy Dự kiến toàn tỉnh thu được 278 tỷ đồng nhờ việc trồng đỗ tương bằng máy
Trong những năm ngần đây, bằng việc nỗ lực không ngừng của đội ngũ các cán bộ nghiên cứu khoa học nông nghiệp, bằng phương pháp, và các biện pháp kỹ thuật khác nhau Cho đến nay năng suất và sản lượng đậu tương không ngừng tăng, có tập đoàn giống đậu tương khá phong phú Đây là nguồn nguyên liệu quý giá phục vụ cho công tá lai tạo và chọn lọc giống cây trồng
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu gồm: 6 giống đậu tương và giống DT84 làm giống đối chứng
- Phạm vi nghiên cứu:
So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương
vụ xuân 2014 tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm tiến hành: Thí nghiệm được tiến hành tại trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên
- Thơi gian tiến hành thí nghiệm: từ tháng 3 – tháng 6 năm 2014
3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm và quy trình kỹ thuật
Trang 27Thời vụ gieo trồng: Vụ xuân năm 2014, gieo ngày 25/03/2014