1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên

55 407 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 356,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG MINH KHẢI Tên đề tài: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC H

Trang 1

HOÀNG MINH KHẢI

Tên đề tài:

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên Thông Chính Quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Lớp : K9 – Liên thông trồng trọt Khoá học : 2013 - 2015

Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Trung Dũng

Khoa Nông Học, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

THÁI NGUYÊN – 2014

Trang 2

đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm, sự quan tâm của các thầy

cô giáo khoa Nông Học, sự phối hợp và giúp đỡ của các bạn trong lớp

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Dương Trung

Dũng đã dành thời gian quý báu tận tình chỉ bảo cho em trong suốt quá trình

thực hiện đề tài

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà Trường và các thầy, cô giáo bộ môn Nông học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em thực hiện đề tài này Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K9- Liên Thông Trồng Trọt luôn đồng hành và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Do điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế nên báo cáo đề tài nghiên cứu của em không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự

đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để bài báo cáo của em được hoàn

thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Hoàng Minh Khải

Trang 3

NN & PTNT : Nông nhiệp và phát triển nông thôn

Vietgap : Thực hành nông nghiệp tốt ở Việt Nam

Trang 4

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2

Phần 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.1.1 Cơ sở khoa học 3

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 3

1.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 4

1.2.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình nghiên cứu chè trong nước 8

1.3.Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới 12

1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam 15

2.4.3 Định hướng phát triển ngành chè 19

2.5 Nhận định tổng quát về tình hình sản xuất, nghiên cứu chè và điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng cây chè 20

Phần 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Vật liệu nghiên cứu 21

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Nội dung nghiên cứu 22

2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu đến khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới 22

2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của sâu đến khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4.1 Phương pháp bố trí và sơ đồ thí nghiệm 22

Phần 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên 24

3.1.1 Vị trí địa lý 24

Trang 5

3.3 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè

mới tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 28

3.3.1 Đặc điểm hình thái cây chè 28

3.3.2 Tình hình sâu hại 31

Phần 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33

4.1 Kết luận 33

4.2 Đề nghị 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 6

Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích đã áp dụng trong sản xuất 10

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2005-2012 13

Bảng 1.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước 14

có sản lượng chè cao từ năm 2005-2012 14

Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng chè tại Việt Nam 16

Bảng 1.5: Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo thị trường 18

Bảng 3.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2014 26

Bảng 3.2 Chiều cao cây 28

Bảng 3.3 Đường kính gốc 29

Bảng 3.4 Chiều rộng tán 30

Bảng 3.5 Độ cao phân cành 30

Bảng 3.6 Diễn biến mật độ bọ cánh tơ trên các giống chè nghiên cứu 31

Bảng 3.7 Diễn biến mật độ nhện đỏ 32

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có

nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống

Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Sản xuất chè giữ vài trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng

Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát triển chè trên cả hai hướng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nương chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ

Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm Giống được coi là tiền

đề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Đối

với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40-50 năm, đầu tư trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác Không thể phá đi trồng lại hàng năm được Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về giống chè sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của vườn chè trong thời gian rất dài Do vậy ở tất cả các nước trồng chè, giống chè tốt là biện pháp được quan tâm hàng đầu, được coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè Chính vì vậy

chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm ” Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một

số giống chè mới phù hợp với điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất

Trang 8

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè Đánh giá được tình hình sâu hại chính

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế

Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu

Có kết luận một cách chính xác về khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống chè Theo đó đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho người trồng chè và sinh viên các khóa tiếp theo

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Đánh giá, lựa chọn giống chè phù hợp điều kiện sinh thái giới thiệu cho

sản xuất tại Thái Nguyên

Trang 9

Phần 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học

Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm (Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài

(Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O Kuntze, được phân làm 4

thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919) Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis

var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var Assamica) và chè

Shan (Camellia Sinensis var Shan) Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân,

cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau

Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản Chè

được trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833,

Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương) năm 1940

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm

đã có khả năng ra hoa Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4% Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa

khi kết quả có từ 1 - 4 hạt Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa,

đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn

về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ

Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người

ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành Ưu điểm của phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính

Trang 10

tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành

Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong

đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống, Thời vụ giâm cành (điều

kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm

1.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới

1.2.1.1 Những kết quả nghiên cứu về giống chè

Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng Việc chọn lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy công tác nghiên cứu chè được quan tâm từ rất sớm

Năm 1905, trạm nghiên cứu chè đầu tiên được thành lập trên đảo Java (Indonexia) Đến năm 1913, Cohen Suart đã phân biệt các giống chè dựa trên hình thái, nghiên cứu sinh lý của sự ra hoa, kết quả, xác định được những dấu hiệu đầu tiên của sự lựa chọn với những tương quan cơ bản của các yếu tố cấu thành năng suất.[2]

Các nước có thành tựu nổi bật trong việc lựa chọn giống mới là:

Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [18]: In donexia bắt đầu trồng chè vào năm 1864 nhưng không thành công, đến năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanka Đến nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lượng cao

Ấn Độ là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích chè nhưng lại là

nước đứng đầu thế giới về sản lượng chè Có được thành tích trên do Ấn Độ luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới vào sản xuất Theo PGS Đỗ Ngọc Quý và cs (2000) [14] thì từ những năm 50 của thế

kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong đó có

Trang 11

102 giống chè được nhân giống bằng phương pháp vô tính Đến năm 2009,

Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt Trong đó có

trên 20% giống trồng bằng phương pháp giâm cành

Trung Quốc có lịch sử trồng chè từ rất sớm Đời nhà Tống, Trung Quốc

đã có 7 giống chè tốt được chọn theo Phương pháp cá thể: Các giống Đại

Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên,… đã có từ 200 năm nay là các giống triết canh do nhân dân tạo ra.[8],[13]

Trong những năm 1950 – 1960 Trung Quốc luôn chú trọng công tác chọn tạo giống theo chiều sâu Năm 1956, Trần Khôi Vũ đã đưa ra phương pháp chọn giống 100 điểm đối với cây ăn quả Theo điều tra năm 1996, Trung Quốc đã có trên 1000 giống, trong đó xác định được 50 giống chè tốt phục vụ cho sản xuất

Srilanka qua nhiều năm chọn lọc cá thể kết hợp chọn dòng có sản lượng cao với tính chịu hạn, khả năng chống chịu sâu bệnh Kết quả tạo ra nhiều dòng TRI777, TRI2043, TRI2025 phù hợp với vùng núi cao, trung du

và vùng núi thấp Gần đây thêm dòng CT9 cho năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng ra rễ mạnh.[13]

Nhật Bản: Công tác chọn tạo dòng rất được chú ý Các giống chè ở đây chủ yếu là giống chè trung du lá nhỏ Hiên nay Viêt Nam nhập hai giống từ Nhật Bản là: Giống yabukyta và giống yakatamidori Đây là giống có khả năng chế biến chè xanh chất lượng tốt.[13]

Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ và cs (2000) [15]: Tại Kennya, các giống chè chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20%, diện tích chiếm 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn

điền lớn Ngoài ra, Kenya còn nhân giống bằng hình thức ghép

1.2.1.2 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè

* Những nghiên cứu về chu kỳ phát triển cá thể cây chè của các nhà khoa học cho thấy: Chè có 2 chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu

kỳ phát triển nhỏ

Chu kỳ phát triển lớn hay chu kỳ phát dục cá thể thì chia thành 5 giai

đoạn ( Theo tác giả Trung Quốc):

Trang 12

- Giai đoạn phôi thai ( giai đoạn hạt giống): Được tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành cho tới khi chín

- Giai đoạn cây con: Được tính từ khì hạt chè nảy mầm cho đến khi cây chè ra hoa, kết quả lần đầu Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 năm

- Giai đoạn cây non: Được tính từ khi chè ra hoa, kết quả lần đầu tiên khi cây chè định hình ( có bộ khung tán ổn định) Giai đoạn này kéo dài 2 – 3 năm

- Giai đoạn chè lớn ( giai đoạn chè kinh doanh, sản xuất): Được tính từ khi cây chè có bộ tán ổn định bước vào giai đoạn kinh doanh, thu hoạch búp tới khi có thể thay tán mới Giai đoạn này kéo dài từ 30 – 40 năm hoặc lâu hơn

- Giai đoạn chè già cỗi (hết giai đoạn kinh doanh, sản xuất): Được tính

từ khi chè có biểu hiện thay tán lá đến khi chè già và chết

Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm): Tính từ khi mầm chè bắt đầu phân hóa sau đốn cho đến khi mầm chè ngừng sinh trưởng Nó gồm 2 quá trình phát triển song song đó là quá trình sinh trưởng sinh dưỡng

và sinh trưởng sinh thực

- Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng: Bao gồm sinh trưởng búp, cành và sinh trưởng rễ

- Quá trình sinh trưởng sinh thực: Là quá trình hình thành trồi hoa, nở hoa, thụ phấn, và kết hạt

* Những nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng cây chè: Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8], M.M.A Liadade (1964) cho rằng: Khi chè có 5 lá thì ở các nách lá thứ nhất, thứ hai đã có mầm nách, khi có lá thứ 6 xuất hiện thì có mầm nách thứ 3, khi có 7 lá thì mầm nách thứ 4 xuất hiện,… Ông cũng cho rằng: Khi mầm chè qua đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là

lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Các mầm nách lá thứ 4 và lá thứ 5 của các đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp ở đợt sinh trưởng thứ hai

* Nghiên cứu về sinh trưởng của búp chè tác giả K.E Bakhotatde (1971) và K.M Djemukhatde (1976) cho rằng: Sự sinh trưởng búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, các nước có mùa đông rõ rệt, búp chè ngừng sinh trưởng vào mùa đông và nó được phục hồi vào thời kỳ ấm lên, ngược lại ở những nước nhiệt đới (Srilanka hay Nam Ấn Độ) búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch chè quanh năm

Trang 13

Tác giả Carr (1970) (1979)[21] [22], thí nghiệm đã đi đến kết luận: Nhiệt độ tối thiểu cho sinh trưởng của cây chè là 13- 140 C, tối thích 18 – 300

C, những ngày có nhiệt độ tối đa vượt quá 300 C và tối thiểu thấp hơn 140 C thì sinh trưởng của cây chè giảm Nhiệt độ đất ( tầng 0 – 30cm) thích hợp cho sinh trưởng của cây chè là 20 – 25đô C Carr cho rằng số giờ chiếu sáng ngày dài càng tốt, sự ngủ nghỉ sẽ xuất hiện khi độ dài ngày giảm xuống dưới 11 giờ

15 phút/ngày Hầu hết các vùng chè có lượng mưa 150mm/tháng thì sẽ sinh trưởng liên tục, tổng lượng mưa thích hợp là 1800mm/năm và chè không thể sinh trưởng được ở vùng có lượng mưa dưới 1150mm/năm mà không có tưới nước hợp lý

* Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, tác giả Carr (1992)[23] đã đưa ra giá trị trung bình là 475 ngày Việc tính toán cho 4 vùng khác nhau về kinh độ, độ cao so với mặt nước biển, nhiệt độ không khí bình quân cho thấy số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 45 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông

* Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè trong điều kiện không đốn và có

đốn thì tác giả K.M Djemukhatde (1982) [4] cho rằng: Trong điều kiện để

giống hay không đốn thì các mầm chè được phân hóa trong vụ thu và vụ đông

sẽ hình thành búp trong vụ xuân Trong khi đó nương chè có đốn thì sự phân hóa mầm chè chủ yếu bắt đầu sinh trưởng muộn hơn một số ngày so với nương chè để giống hay không đốn

* K.M Djemukhatde (1948) đã nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa búp chè và năng suất đã cho thấy: Tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích là tương quan chặt r = 0,965 ± 0,004

* Nghiên cứu mối quan hệ giữa lá chè và năng suất chè của K.E Bakhotatde (1971) đã chỉ các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như sau: Màu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá

Lá có màu vàng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa

Lá có màu cafe có lợi cho các chỉ tiêu về sinh lý

* I.G.Kerkatde (1080) đã nghiên cứu về hình dạng lá chè dựa trên góc nghiêng của lá: Góc lá tối ưu cho quang hợp là 45 độ

Trang 14

1.2.2 Tình hình nghiên cứu chè trong nước

1.2.2.1 Những kết quả nghiên cứu về giống chè

Năm 1918, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên ở Việt Nam được thành lập,

từ đó công tác nghiên cứu chè được tiến hành rộng rãi và sâu sắc hơn Theo Dupasquer - 1923 đến năm 1923, Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè đầu tiên với giống chè là Trung Du, Shan và Atxam (Ấn Độ), đã thu thập được tập

đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to [8] Bên

cạnh việc điều tra, thu thập các giống, Trạm chè Phú Hộ cũng tiến hành nhập các giống từ nhiều nước Từ năm 1918 - 1927 đã thu thập 13 giống từ Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc và tiến hành bố trí thí nghiệm, so sánh Từ kết quả nghiên cứu năm 1923 Dupas quier cho rằng: Chè Manipua và Atxam được trồng từ Ấn Độ tới nay đã tỏ ra thích hợp với sản xuất và cho kết quả tốt ở Việt Nam Đối với giống Trung Du, ông nhận xét: Trung Du là giống ít đòi hỏi nhất, nó mọc ngay trên đất xấu

Năm 1969 - 1978, nhiều cuộc điều tra và nhập nội giống được tiến hành Trong thời gian này các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Trần Thanh, Nguyễn Văn Niệm đã đề ra phương pháp chọn dòng, chọn ra được giống chè PH1 và 1A là 2 giống cho năng suất cao và phẩm chất tốt [13] Từ năm 1976 - 1990, bằng phương pháp chọn dòng các tác giả Nguyễn Văn Niệm, Trần Thị Lư đã chọn ra các giống TRI777, TH3 là 2 giống có triển vọng, được Bộ Nông nghiệp cho phép khảo nghiệm ra sản xuất Năm 1994 đã có 33 giống chè

được nhập nội vào Việt Nam trong đó có 9 giống chè Đài Loan; 15 giống

Trung Quốc; 11 giống Nhật Bản; 2 giống ấn Độ Đến nay, nhu cầu sử dụng giống tốt trong sản xuất ngày càng tăng, nên công tác giống ngày càng được quan tâm hơn Hiện nay nước ta có trên 130 giống chè, trong đó có hơn 20 giống đã được đưa ra trồng sản xuất đại trà [20] Tại Viện nghiên cứu chè Việt Nam (nay là trung tâm Nghiên cứu chè - Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc) đã xây dựng được một vườn bảo tồn quỹ gen chè, lưu giữ nhiều giống được thu thập từ nhiều nơi trên thế giới và trong nước Tuy nhiên công tác chọn giống ở nước ta vẫn chủ yếu tìm gen năng suất cao, khả năng chống chịu nên khả năng tận dụng và phát huy lợi thế của nguồn gen quý chưa được nhiều, dù đã có một vốn gen khá Vì vậy chúng ta

Trang 15

chưa có được một giống chè gắn liền với thương hiệu giống cụ thể như Trung Quốc với sản phẩm chè Long Tỉnh 43 được sản xuất từ giống chè LT43, chè chất lượng cao Thiết Quân Âm từ nguyên liệu giống chè Thiết Quan Âm Nhờ có chính sách mở cửa thông qua những mối liên doanh liên kết nước ta

và quyết định số 43/1979/QĐ/TTg của chính phủ đến nay đã thu thập thêm

được một số giống chè đặc sản của Đài Loan, Trung Quốc như: Phúc Vân

Tiên, Keo Am Tích, Long Vân, Bát Tiên, Kim Tuyên, Vân Sương…Là cơ sở pháp lý quan trọng và cũng là cơ hội cho ngành chè tiến hành một cuộc cách mạng trong nghiên cứu và sản xuất thông qua chương trình nhập khẩu giống

Trang 16

Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích đã áp dụng trong sản xuất

Stt Tên giống chè Năm công nhận

giống Diện tích áp dụng

1 PH1 Quốc gia 1986 2vạn ha, trồng tại các tỉnh trồng chè

2 1A Khảo nghiệm 1986 20ha, tại Phú Thọ, Nghê An, Lâm

Đồng

3 TH3 Khảo nghiệm 1989 20ha tại Phú Thọ, Yên Bái, Son La

4 TRI777 Quốc gia 1997 500ha tại Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái

Nguyên

5 LDP1 Quốc gia 2002 1,5vạn ha tại các tỉnh trồng chè

6 LDPH2 Khảo nghiệm 1994 2000ha tại Phú Thọ, Nghệ An, Hà

Tĩnh

7 Kim Tuyên Khảo nghiệm 2003 1000ha tại Lâm Đồng, Lạng Sơn Phú

Thọ, Hà Tây, Yên Bái, Sơn La

8 Bát Tiên Khảo nghiệm 2003 800ha tại Sơn La, Tuyên Quang, Lâm

Đồng, Yên Bái

9 Thúy Ngọc Khảo nghiệm 2003 400ha tại Lâm Đồng, Lạng Sơn, Phú

Thọ, Yên Bái, Sơn La

10 Phúc Vân

Tiên Khảo nghiệm 2003

10h tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ

An, Yên Bái

11 Keo Am Tích Khảo nghiệm 2003 10h tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ

An, Yên Bái

12 PT95 Khảo nghiệm 2003 15ha, tại Phú Thọ, Nghệ An, Thái

Nguyên, Yên Bái

13 Hùng Đỉnh

Bạch Khảo nghiệm 2003

10h,tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ

An, Yên Bái

14 Cây Chè Shan

1000ha, tại Yên Bái, Hà Giang, Sơn La, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu

Tổng 40.785ha = 35,5% diện tích

Trang 17

1.2.2.2 Những kết quả nghiên cứu về sinh trưởng sinh dưỡng

Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] cho rằng búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian

Sơ đồ sinh trưởng được tóm tắt:

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] cho thấy: Trong năm chè có

3 - 5 đợt để sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể có tới 8 - 9 đợt sinh trưởng Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, điều kiện đất đai, khí hậu, chế độ canh tác

Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] nghiên cứu về mối quan hệ giữa búp và sản lượng thì sản lượng chè quyết định bởi 2 yếu tố: Mật độ búp và trọng lượng búp Mật độ búp liên quan tới sản lượng của chè

Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[17] khi nghiên cứu về sinh trưởng búp chè và sản lượng chè đã cho rằng: Tổng số búp/cây có mối tương quan thuận không chặt với sản lượng là yếu tố ổn định, vì thế số búp/cây có ý nghĩa với sản lượng

Tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) khi nghiên cứu về hệ số diện tích lá cho rằng: Hệ số diện tích lá và mật độ búp có quan hệ thuận với nhau từ tháng 5 –

12 Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[17] cũng có kết luận tương tự và hệ số diện tích lá thích hợp từ tháng 4 – 6

Trang 18

Nghiên cứu các tính trạng của chè liên quan tới chất lượng thì tác giả Nguyễn Văn Niệm (1992)[10] cho rằng: Dạng lá lồi lõm,màu xanh vàng ( nhạt) có chất lượng tốt hơn dạng xanh đậm, nhẵn bằng, các giống chè Shan có nhiều lông tuyết dù ở cả vùng thấp thì chất lượng cũng cao

1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới

Chè hiện nay chiếm khoảng 1/3 lượng tiêu dùng của thị trường đồ uống nóng thế giới, nhưng chỉ chiếm 20% tổng giá trị của thị trường này Theo

đánh giá của chuyên gia trong các nước sản xuất kinh doanh chè thuộc tổ

chức Nông Lương Quốc tế, những năm cuối thế kỷ 20 có trên một nửa dân số thế giới uống chè Hầu hết các nước đều có người uống chè, trong đó khoảng

160 nước có nhiều người uống chè Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên toàn thế giới là 0,5kg/người/năm và con số này sẽ càng tăng lên trong thời gian tới (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7]

Theo thống kê của Fao tại thị trường Châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga

đều có xu hướng tăng Trong giai đoạn 2009-2010 nhập khẩu chè đen của

Nga sẽ tăng từ 223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là 3% Có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chế biến đặc biệt trong khi tại các thị trường Tây Á và Châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống(w.w.w.viettrade.gov.vn)[3]

Trước nhu cầu tiêu thụ chè chất lượng cao ngày càng tăng lên các nước sản xuất và xuất khẩu chè buộc phải đầu tư chiều sâu cho các vùng cải tiến giống, thực hiện nghiêm ngặt hơn nữa các kỹ thật canh tác, thu hái khiến cho năng suất chè tăng lên rõ rệt Năng suất bình quân của các nước sản xuất chè chủ yếu trong hơn 10 năm trở lại đây trung bình tăng 48% Ấn Độ là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới với tốc độ năng suất trung bình từ năm 1990 đến nay là 55% theo sau là Srilanka 45%, Trung Quốc 35%, Indonesia 31% Năm 1991 năng suất chè trung bình trên thế giới là 1,12 tấn/ha, đến năm 2004 năng suất trung bình đã tăng 1,3 tấn/ha (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7]

Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới từ năm 2005-2012 được thể hiện ở bảng 1.2:

Trang 19

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2005-2012

(10.000ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2014)[23]

Qua số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè trong giai đoạn

từ năm 2002-2010 cho thấy:

Diện tích chè thế giới tăng đều qua các năm từ năm 2005-2012 Từ năm

2006 – 2007 là sự gia tăng về diện tích có sự vượt trội hơn các năm tăng từ 273,89 năm 2006 lên 292,97 năm 2007 Trong 8 năm trở lại đây diện tích trồng chè tăng khoảng 1,02-1,03% Theo thống kê năm 2005, diện tích chè thế giới tương đối cao, trong đó diện tích chè Châu Á chiếm 76,7%, Châu Phi

là 8,05%

Năng suất chè thế giới nhìn chung tăng từ năm 2005 - 1012, tuy nhiên năng suất có sự giảm sút từ 146,09 tạ/ha (năm 2010) xuống 141,52 tạ/ha (năm 2011) nhưng lại tăng dần vào năm tiếp theo 147,07 tạ/ha ( năm 2012)

Mặc dù năm suất có giảm ở 1 số năm nhưng sản lượng chè vẫn tăng nhanh qua các năm từ 365,05 (nghìn tấn ) năm 2005 lên 481,81 (nghìn tấn) năm 2012

Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè Chè tập trung nhiều nhất ở Châu Á sau đó đến Châu Phi Các nước có diện tích trồng chè lớn như Kenia, Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanka…Sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản lượng chè cao được thể hiện qua bảng 1.3:

Trang 20

Bảng 1.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước

có sản lượng chè cao từ năm 2005-2012

Kenya 328,50 310,58 369,60 345,80 314,10 399.00 377,91 369,40 Sri Lanka 317,20 310,80 305,22 318,47 290,00 282,30 327,50 330,00 Việt Nam 132,52 151,00 164,00 174,90 185,70 198,46 206,60 216,90 Indonesia 177,70 146,85 150,22 150,85 146,44 150,00 150,20 150,10 Nhật Bản 100,00 91,80 94,10 94,10 86,00 85,00 82,10 85,90 Bangladesh 57,58 58,00 58,50 59,00 59,50 60,00 60,50 61,50 Myanmar 25,00 26,00 27,70 29,00 30,25 31,06 31,00 32,00

Toàn TG 3.650,52 3.703,17 3.978,84 4.207,70 4.261,72 4.572,25 4.624,40 4.818,18

(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2014)[23]

Bảng 1.3 cho thấy Trung Quốc là nước có sản lượng lớn nhất với 1.714,90 nghìn tấn, Tiếp đó là Ấn Độ với diện tích là 1.000 nghìn tấn Việt Nam đứng thứ 6 về sản lượng trong tổng số 10 nước có sản lượng chè lớn trên thế giới năm (2012)

Qua số liệu bảng 1.3 cho thấy, hai nước có diện tích và sản lượng chè cao nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, cũng là hai nước có khả năng tiêu thụ chè

Trang 21

lớn nhất thế giới Các nước còn lại như Anh, Mỹ, Canada sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước xuất khẩu chè

Sản xuất chè trên thế giới tập trung chủ yếu ở Châu Á Trong số 10 nước dẫn đầu về sản lượng (chiếm khoảng 90% tổng sản lượng trên thế giới) thì có tới 7 nước Châu Á Trong những năm qua, diện tích trồng chè thế giới tăng không đáng kể nhưng năng suất chè có sự cải thiện vượt bậc nên sản lượng gia tăng Trong khi đó chè đang bị cạnh tranh gay gắt từ các loại đồ uống khác nên giá chè có xu hướng giảm từ năm 1998-1999 đến nay (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7]

1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam

Ở nước ta có lịch sử phát triển chè lâu đời từ năm 1939 Việt Nam đã là

một trong những nước xuất khẩu chè của thế giới, sau hơn 20 năm phát triển

kể từ khi nước nhà thống nhất cả nước có hơn 7,5 vạn ha chè trong khi đó diện tích chè thu hoạch là 5,5 vạn ha, tổng sản lượng búp chè tươi đạt 198.000 tấn tiêu dùng trong cả nước hơn 21000 tấn với tổng giá trị là 450 tỉ đồng Những con số này đã phần nào nói lên chè có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước nhà [5]

Cây chè hiện nay được phân bố trên địa bàn 40 tỉnh thành trong cả nước, tập chung chủ yếu ở những vùng chè trọng điểm như: Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái…[1]

Ngành chè Việt Nam thừa hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên và xã hội Tuy nhiên cây chè mới chỉ thực sự được người Việt Nam đầu tư phát triển mạnh từ những năm cuối thế kỷ 20 trở đi Đặc biệt trong những năm gần đây, nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách đầu tư, ưu tiên phát triển cây chè Cây chè được coi như cây xóa đói giảm nghèo và tiến đến làm giàu của nhiều

hộ nông dân Do đó diện tích, năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên từ năm 2005 đến nay

Trang 22

Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng chè tại Việt Nam

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: Theo FAO năm 2014) [23]

Qua bảng trên ta thấy diện tích, năng suất, sản lượng chè trong những năm của đầu thế kỷ 21 có sự tăng trưởng khá mạnh từ năm 2005 đến năm 2012 Diện tích đất trồng chè của Việt Nam tăng trung bình trong những năm

2005 đến 2012 Trong đó, diện tích chè từ năm 2006 đến năm 2007 tăng nhanh nhất (5,3ha)

Diện tích trồng chè tăng dẫn tới năng suất chè lại tăng đều qua các năm

Từ 13.56 kg/ha (năm 2005) lên tới 18,70kg/ha (năm 2012)

Do diện tính và năng suất chè hàng năm tăng nên sản lượng chè cũng tăng với tốc độ nhanh trong 7 năm (2005-2012) Năm 2005 (132,52 nghìn tấn)

đến năm 2012 (216,90 nghìn tấn) sản lượng tăng thêm 84,38 tấn/ha điều đó

cho thấy sự tiến bộ của người sản xuất chè, đã biết chú trọng vào đầu tư vào chè, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chè, biết những giá trị to lớn mà chè mang lai cho người dân Đời sống người dân được cải thiện, giải quyết

được vấn đề việc làm cho người lao động

* Tuy nhiên bên cạnh những mặt thuận lợi trên thì chè nước ta cũng

đang tồn tai những khó khăn sau:

+ Diện tích cao mà năng suất chè Việt Nam còn quá thấp so với các nước trồng chè trong khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan

Trang 23

+ Nguồn vốn phục vụ cho sản xuất còn nghèo chưa đủ điều kiện để nhằm thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè

+ Chất lượng chè chế biến đa phần chưa cao, do công nghệ sau thu hoạch và công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm chưa được ngiên cứu và đầu

tư đúng mức, chất lượng chè nguyên liệu còn thấp, chủng loại còn kém đa dạng mẫu mã bao bì chưa đẹp, vì vậy chè Việt Nam trên thị trường quốc tế chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 2% sức cạnh tranh còn yếu.[2]

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 3 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu chè ước đạt xấp xỉ 29 ngàn tấn với tổng kim ngạch ước đạt 43,6 triệu USD giảm 3,9% về lượng và tăng 4,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012

Hiện Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè đứng thứ 5 thế giới [3]

Trang 24

Bảng 1.5: Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo thị trường

2012

so với năm

2011 (%)

Trị giá (USA)

Tỉ trọng (%)

Trị giá (USA)

Tỉ trọng (%)

Trị giá (USA)

Tỉ trọng (%)

Nguồn: Tổng cục Hải quan[3]

Nhìn chung trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khó khăn, thị trường tiêu thụ chè Việt Nam vẫn khá khả quan với thị trường xuất khẩu hàng đầu là thị trường Pakistan, với thị phần lớn nhất, giá trị xuất khẩu đạt khoảng 6,3 triệu

Trang 25

USD; tiếp theo đó là thị trường Đài Loan với sản lượng xuất khẩu 4.065 tấn, trị giá 5,6 triệu USD, và đứng thứ 3 là thị trường Nga, sản lượng đạt 2.974 tấn trị giá 4,67 triệu USD.[3]

Ngoài ra xuất khẩu chè Việt Nam sang một số thị trường quan trọng khác trong những tháng đầu năm 2013 cũng có mức tăng trưởng khá cao, như Trung Quốc, Ba Lan, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE).[3]

+ Là một ngành kinh tế mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế-xã hội ở trung du và miền núi

+ Đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng chè trong nước, xuất khẩu ngày càng nhiều và có tích lũy để tái sản xuất mở rộng

+ Góp phần vào việc phân bố lại lao động và dân cư, thu hút ngày càng nhiều lao động, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và sinh hoạt cho người lao động, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số + Góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi sinh

+ Chú trọng việc phát triển khoa học công nghệ để khắc phục nhược

điểm và yếu kém hiện nay, cụ thể:

- Đưa công nghệ mới vào kinh doanh và phát triển đồi chè

- Lựa chọn loại hình công nghệ chế biến thích hợp, đổi mới bao bì, mẫu

mã, để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu

- Có những giải pháp thích hợp để thu hút mọi nguồn vốn ở trong và ngoài nước nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển cây chè (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7]

Trang 26

2.5 Nhận định tổng quát về tình hình sản xuất, nghiên cứu chè và điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng cây chè

Ở Việt Nam chè được trồng phổ biến, có giá trị xuất khẩu đem lại hiệu

quả kinh tế cao và là cây xóa đói giảm nghèo của nhiều khu vực trên cả nước

đặc biệt là khu vực trung du và miền núi

Chè là cây nghiệp lâu năm, có nhiệm kỳ kinh tế dài vì vậy giống có ý nghĩa quyết định tới năng suất, sản lượng Do đó, Việt Nam luôn quan tâm chú trọng đến công tác nghiên cứu và chọn tạo giống chè

Chè là cây chịu ảnh hưởng rất lớn do tác động của các điều kiện sinh thái Yêu cầu tổng hợp các điều kiên sinh thái thích hợp là: Đất tốt, sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm Vì vậy nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng của chè rất được quan tâm Xuất phát từ vấn đề trên em tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống chè LPD1,

Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Yakatamidori thời kỳ kiến thiết cơ bản tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên ”

Trang 27

Phần 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Giống chè LDP1

+ Nguồn gốc: Được tạo từ tổ hợp lai giữa cây mẹ Đại Bạch Trà (Trung Quốc) và cây bố PH1 (Ấn Độ) có năng suất cao, chọn lọc theo phương pháp chọn dòng

+ Đặc điểm:

- Hình thái: Có diện tích lá to trung bình 18- 24 cm2, lá có màu xanh sáng, hình ô van thời gian sinh trưởng búp sớm và kết thúc sinh trưởng chậm

- Giống chè kim tuyên

+ Nguồn gốc: Nhập từ Đài Loan nhập nội

+ Hình thái: Dạng thân bụi, cành phát triển hướng lên phía trên, mật độ cành dày, lá hình bầu dục, màu xanh vàng bóng, thế ngang, răng cưa rõ và

đều; dài lá 7,2cm, rộng 3,1cm Búp màu xanh nhạt, non phớt tím, trọng lượng

búp bình quân (1 tôm + 2 lá): 0,5- 0,52gr

- Giống chè phúc vân tiên

+ Nguồn gốc: Giống Trung Quốc nhập nội - Hệ vô tính

+ đặc điểm hình thái: Tán cây trung bình, phân cành cao, mật độ cành dày, lá mọc ngang hoặc hơi rủ, lá dài 11,9- 13,2 cm; rộng 4,3- 4,9 cm,

lá hình bầu dục dài, chóp lá nhọn, lá dày, mặt lá hơi gồ ghề, màu lá xanh nhạt, răng cưa nông Búp lá màu xanh, nhiều tuyết, trọng lượng búp (1 tôm + 2 lá) 0,50gr

- Giống chè YAKATAMIDORI

+ Nguồn gốc: Giống chè Nhật Bản nhập nội – Hệ vô tính

+ Đặc điểm hình thái: Giống chè thấp cây, tán nhỏ ít cành chính, lá dày,

lá nhỏ Búp lá màu xanh, có tuyết, trọng lượng búp

(1tôm +2 lá non) 0,48gr

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích đã áp dụng trong sản xuất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích đã áp dụng trong sản xuất (Trang 16)
Sơ đồ sinh trưởng được tóm tắt: - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Sơ đồ sinh trưởng được tóm tắt: (Trang 17)
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2005-2012 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2005-2012 (Trang 19)
Bảng 1.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.3 Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước (Trang 20)
Bảng  1.3  cho  thấy  Trung  Quốc  là  nước  có  sản  lượng  lớn  nhất  với  1.714,90 nghìn tấn, Tiếp đó là  Ấn  Độ với  diện tích là  1.000 nghìn  tấn - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
ng 1.3 cho thấy Trung Quốc là nước có sản lượng lớn nhất với 1.714,90 nghìn tấn, Tiếp đó là Ấn Độ với diện tích là 1.000 nghìn tấn (Trang 20)
Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng chè tại Việt Nam - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng chè tại Việt Nam (Trang 22)
Bảng 1.5: Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo thị trường - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.5 Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo thị trường (Trang 24)
Bảng 3.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2014 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.1 Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2014 (Trang 32)
Bảng 3.2 Chiều cao cây - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.2 Chiều cao cây (Trang 34)
Bảng 3.3 Đường kính gốc - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.3 Đường kính gốc (Trang 35)
Bảng 3.5 Độ cao phân cành - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.5 Độ cao phân cành (Trang 36)
Bảng 3.4 Chiều rộng tán - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.4 Chiều rộng tán (Trang 36)
Bảng 3.6 Diễn biến mật độ bọ cánh tơ trên các giống chè nghiên cứu - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.6 Diễn biến mật độ bọ cánh tơ trên các giống chè nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.7 Diễn biến mật độ nhện đỏ - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.7 Diễn biến mật độ nhện đỏ (Trang 38)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm