Năm 2013 cả nước xuất khẩu được gần 141 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 229 triệu USD, trong những năm tới diện tích và sản lượng chè của Việt Nam tiếp tục tăng lên, vì thế cây chè ngà
Trang 1p
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––
HOÀNG VĂN TRỌNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT
SỐ GIỐNG CHÈ Ở THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI
NGUYÊN BÌNH – TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên Thông Chính Quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoá học : 2013 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––
HOÀNG VĂN TRỌNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT
SỐ GIỐNG CHÈ Ở THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI
NGUYÊN BÌNH – TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên Thông Chính Quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Lớp : K9 – Liên thông trồng trọt Khoá học : 2013 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Mão
Khoa Nông Học, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng,
phát triển của một số giống chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Nguyên Bình, Cao Bằng” Tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong bộ môn khoa Nông học – trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ này Đặc biệt tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc và kính trọng tới nhà giáo PGS.TS Đào Thanh Vân & TS Nguyễn
Thị Mão – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành nội dung thực tập
chuyên đề
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới lãnh đạo và cán bộ UBND xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng – đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành thực hiện thí nghiệm để hoàn thành việc thực tập chuyên đề
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, người thân và toàn thể bạn bè đã cổ vũ, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tuy nhiên, do điều kiện thời gian có hạn nên đề tài này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu xót Vì vậy, tôi mong được sự thông cảm cũng như những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các chuyên gia về nghành chè,
và các bạn đồng môn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Cao Bằng, Tháng 8 năm 2014
Sinh viên Hoàng Văn Trọng
Trang 5MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là loại cây công nghiệp dài
ngày, có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm Tuy nhiên nhờ sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, cây chè đã được trồng ở nơi khá xa với nguyên sản của nó
Hiện nay, trên thế giới có trên 60 quốc gia trồng chè, nhưng tập trung chủ yếu ở các nước châu Á và châu Phi Nhu cầu về uống chè và tiêu thụ chè trên thế giới càng tăng bởi lẽ chè là thứ uống bổ dưỡng và có giá trị sinh học cao
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện ưu thế về địa lý thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Hiện nay diện tích chè khoảng trên 100 ngàn ha trồng tập trung chủ yếu ở vùng núi, trung du phía Bắc và các tỉnh Tây Nguyên
Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đặc biệt
là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững
Năm 2013 cả nước xuất khẩu được gần 141 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 229 triệu USD, trong những năm tới diện tích và sản lượng chè của Việt Nam tiếp tục tăng lên, vì thế cây chè ngày càng khẳng định vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên ngành chè nước ta còn phát triển chậm so với tiềm năng cả
về năng suất, chất lượng và giá trị xuất khẩu Năng suất còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới như: Trung Quốc, Indônêsia, Ấn
Độ, Srilanca…Nguyên nhân là do giống chưa tốt hoặc chưa chọn được các
Trang 6giống phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, các biện pháp kỹ thuật
và sâu bệnh hại cây chè
Trong những năm gần đây diện tích chè ngày một tăng, đặc biệt ở các vùng trung du và vùng núi phía bắc Trong đó tỉnh Cao Bằng là nơi có điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây chè Với điều kiện đặc thù của vùng đất dốc, nhiều diện tích còn trống chưa sử dụng khai thác đem lại nguồn thu nhập cho người dân Huyện Nguyên Bình - Cao Bằng với diện tích nông nghiệp là 4.896,6 ha, diện tích trống là 894,86 ha, về điều kiện tự nhiên,
đất đai rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cây chè Định hướng của
huyện trong thời gian tới đưa các giống chè chất lượng cao vào sản xuất đại trà Nhất là vùng Phja Đén xã Thành Công, đưa cây chè thành sản phẩm hàng hóa của huyện, tăng thu nhập cho người dân Tuy nhiên trình độ dân trí không
đồng đều, trình độ canh tác lạc hậu, thiếu khoa học kỹ thuật, một số giống
trong những năm trước đã được đưa vào thử nghiệm, tuy nhiên cần nghiên cứu thêm để xác định giống phù hợp với điều kiện của vùng nhằm tăng năng suất, chất lượng chè Đem lại nguồn thu nhập cao, ổn định góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững cho người nông dân
Vì vậy, để mở rộng diện tích các giống chè mới đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề Nhất là nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các giống chè
có triển vọng Trên cơ sở đó xác định các yếu tố hạn chế cũng như ưu điểm của giống, nhằm tìm ra giống chè có khả năng sinh trưởng phát triển tốt đạt năng suất, chất lượng cao đủ sức cạnh tranh và đáp ứng cho thị trường
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè ở thời
kỳ kiến thiết cơ bản tại Nguyên Bình, Cao Bằng”
2 Mục đích - Yêu cầu
2.1 Mục đích của đề tài
Trang 7Đánh giá đặc điểm nông sinh học chủ yếu của các giống chè Kim
Tuyên, PH8 và Phúc Vân Tiên ở giai đoạn kiến thiết cơ bản Xác định được giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng
2.2 Yêu cầu của đề tài
Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các giống chè Kim Tuyên, PH8 và Phúc Vân Tiên ở giai đoạn kiến thiết cơ bản tại Phia Đén, Nguyên Bình, Cao Bằng
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xác định lựa chọn giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng
Bổ sung dữ liệu khoa học về giống chè có triển vọng phù hợp với điều
kiện sinh thái
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xác định được giống chè giống chè có khả năng sinh trưởng phát triển tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng
Sử dụng giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng chè; đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân giảm nghèo và vươn lên làm giàu bền vững
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Chè là cây trồng có giá trị kinh tế, chính vì vậy trong những năm gần
đây cây chè luôn được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương diện
nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất
Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp (cơ quan sinh dưỡng) do vậy để có năng suất và chất lượng tốt cần lựa chọn các giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu của vùng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật, kích thích quá trình sinh trưởng tạo búp mới
Trong nghiên cứu giống phù hợp với điều kiện sinh trưởng phát triển của vùng cần phải theo dõi một số chỉ tiêu của giống cho năng suất chất lượng nhất
Lựa chọn các giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng tác
động đến sinh trưởng phát triển, đến năng suất, chất lượng chè Tuy nhiên tại
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, thời gian gần đây mới bắt đầu mở rộng diện tích trồng chè Nhất là mới đưa vào trồng thử nghiệm một số giống chè chất lượng cao Tuy nhiên, việc lựa chọn giống phù hợp còn nhiều hạn chế
Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống phù hợp với điều kiện của vùng
1.2 Nguồn gốc, phân loại của cây chè
1.2.1 Nguồn gốc của cây chè
Nguồn gốc của chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay còn có nhiều ý kiến khác nhau, dựa trên cơ sở lịch sử, khảo cổ học, thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhât là:
- Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc:
Trang 9Theo Lê Thất Khương và cộng sự (1999)[12]: Daraselia (Gruzia) các nhà khảo cổ học như Trung Quốc như: Succheeupen, Jaoding,… đã giải thích
sự phân bố của cây chè như sau: Tinh Vân Nam – Trung Quốc là nơi bắt đầu hàng loại các con sông lớn đổ về những con song của Lào và Việt Nam, Lào, Campuchia, Minanma Đầu tiên cây chè được mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè di chuyển theo dòng nước đến các nước trên và lan truyền sang nhiều nước khác Cũng theo Daresila thì 1 luận điểm nữa có cơ sở khoa học là dựa theo học thuyết “Trung tâm khởi nguyên của cây trồng” của Vaviop thì cây chè còn có nguồn gốc ở Trung Quốc
Đào Thừa Chân ( Trung Quốc) (1951) cho rằng: Nơi nguyên sản của
cây chè là ở Vân Nam – Trung Quốc, chúng đã di chuyển về phía Đông qua tỉnh Tứ Xuyên, bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía Nam và Tây Nam - Ấn Độ, Mianma, Việt Nam biến thành giống chè lá to
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam (Ấn Độ):
Theo Nguyên Ngọc Kính (1979) [9] : Robest Buruce (Anh) (1823) đã phát hiện ra một số cây chè hoang dã ở Atxam (Ấn Độ) thuộc loại thân gỗ lớn, khác với cây chè thân bụi Linne thu thập ở Trung Quốc Sau đó qua nghiên cứu các học giả người Anh cũng cho rằng: Ấn Độ là nguyên sản của cây chè vì trong kho tang cổ thụ của Trung Quốc không có ghi nhận gì về cây chè cổ thụ trong đất nước Trung Quốc và giống chè ở Trung Quốc cũng như Nhật bản hiện nay là thu thập từ Ấn Độ
- Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam:
Những công trình nghiên cứu của Djemukhade (1982) [5] về sự tiến hóa của cây chè bằng cách phân tích chất Catechin trong chè mộc hoang dã, chè do con người trồng ở các vùng khác nhau trên thế giới (từ Tứ Xuyên, Vân Nam – Trung Quốc), các vùng chè cổ ở Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ,
Trang 10Lạng Sơn,…) tác giả kết luận: cây chè cổ ở Việt Nam tổng hợp các chất Catechin đơn giản hơn nhiều cây chè có nguồn gốc Trung Quốc (1961), các chất Catechin phức tạp ở cây chè Vân Nam nhiều hơn cây chè cổ Việt Nam
Từ những biến đổi sinh hóa này ở cả lá chè dại và lá chè được trồng trọt chăm sóc cho phép đi đến một kết luận mới là “nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam”
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau về địa điểm nhưng đều có sự thống nhất: Nguyên sản của cây chè có nguồn gốc từ châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm
1.2.2 Phân loại của cây chè
Tên khoa học của cây chè được thống nhất là Camellia sinensis (L) O.Kuntze
và có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L.[27]
Việc phân loại chè dựa vào các cơ sở sau :
- Cơ quan sinh dưỡng: Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của lá, số đôi gân lá
- Cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhụy cái
- Đặc tính sinh hóa: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin, mỗi giống chè có hàm lượng tanin biến đổi nhất định (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [8]
Chè Camellia sinensis được chia làm 4 thứ:
* Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var.bohea)
Đặc điểm: Cây bụi, thân thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn sóng
màu xanh đậm Lá dài 3,5-6,5 cm có 6-7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều, búp nhỏ hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường, khả năng chịu rét ở nhiệt độ (120C-150C) phân bố chủ yếu ở miền Đông Nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng chè khác
* Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var.marcophyla)
Trang 11Đặc điểm: Thân gỗ nhỏ, cao 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá to
trung bình chiều dài 12-15cm, rộng 5-7 cm, màu xanh nhạt, bóng Răng cưa sâu không đều,đầu lá nhọn, trung bình có 8-9 đôi gân lá rõ Năng suất cao, phẩm chất tốt, nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)
* Chè Shan (Camellia sinensis var.Shan)
Đặc điểm: Thân gỗ cao 6-10m, lá to và dài 15-18cm, có màu xanh nhạt, đầu lá
dài, răng cưa nhỏ và dày Tôm chè nhiều lông tơ trắng mịn trông như tuyết nên thích ứng ở điều kiện ấm, ẩm, địa hình cao Năng suất cao, phẩm chất tốt Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc) miền Bắc Mianma và Việt Nam
* Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica)
Đặc điểm: Thân gỗ cao tới 17m, phân cành thưa, lá dài 20-30cm mỏng, mềm,
thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục có trung bình 12-15 đôi gân lá Rất ít hoa quả, không chịu được rét hạn Năng suất phẩm chất tốt Trồng nhiều ở
Ấn Độ, Mianma, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác (Nguyễn Văn
Hùng, 2006) [6]
1.2.3 Phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu Các kết quả nghiên cứu đều đì tới một kết luận chung: vùng khí hậu nhiệt đới là thích hợp cho cây chè Tuy nhiên do KH-KT ngày càng phát triển, đã lai tạo,chọn lọc nhiều giống chè khác nhau, và được trồng rộng rãi trên thế giới Theo Đỗ Ngọc Quý (1980) [11], hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42độ vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27độ Nam Coriente (Achentina)
Sự phân bố của cây chè tùy theo điều kiện đất đai và địa hình cũng có
sự khác nhau Đất trồng chè tốt phải có phản ứng chua, nhiều mùn, thoát nước tốt và có độ dốc thoải Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với những giống chè khác nhau và chất lượng khác nhau Các nhà khoa học
đều cho rằng: chè trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nước
Trang 12biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp Chè trồng ở Hoàng Sơn (An Huy – Trung Quốc), vùng Dajilling (Ấn Độ) có độ cao lớn so với mặt nước biển, có chất lượng nổi tiếng thế giới Ở Việt Nam chè có chất lượng cao được trồng ở Hà Giang, Mộc Châu, Nghĩa Lộ - Yên Bái
Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 15 – 20 độ C, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000 0C, lượng mưa trung bình hang năm 1.500 – 2.000 mm, độ ẩm đất 70 – 80% Sự phân bố chè theo những điều kiện tự nhiên khác nhau đã tạo nên những vùng chè có chất lượng khác nhau, tạo nên hương vị riêng của mỗi vùng.[7]
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9], các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam:
1.2 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới
1.2.1.1 Những kết quả nghiên cứu về giống chè
Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng Việc chọn lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy công tác nghiên cứu chè được quan tâm từ rất sớm
Năm 1905, trạm nghiên cứu chè đầu tiên được thành lập trên đảo Java (Indonexia) Đến năm 1913, Cohen Suart đã phân biệt các giống chè dựa trên hình thái, nghiên cứu sinh lý của sự ra hoa, kết quả, xác định được những dấu
Trang 13hiệu đầu tiên của xự lựa chọn với những tương quan cơ bản của các yếu tố cấu thành năng suất.[9]
Các nước có thành tựu nổi bật trong việc lựa chọn giống mới là:
Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [24]: In donexia bắt đầu trồng chè vào năm 1684 nhưng không thành công, đến năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanka Đến nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lượng cao
Ấn Độ là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích chè nhưng lại là
nước đứng đầu thế giới về sản lượng chè Có được thành tích trên do Ấn Độ luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới vào sản xuất Theo PGS Đỗ Ngọc Quý và cs (2000) [19] thì từ những năm 50 của thế
kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong đó có
102 giống chè được nhân giống bằng phương pháp vô tính Đến năm 2009,
Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt Trong đó có
trên 20% giống trồng bằng phương pháp giâm cành
Trung Quốc có lịch sử trồng chè từ rất sớm Đời nhà Tống, Trung Quốc
đã có 7 giống chè tốt được chọn theo Phương pháp cá thể: Các giống Đại
Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên,… đã có từ 200 năm nay là các giống triết canh do nhân dân tạo ra.[9],[18]
Trong những năm 1950 – 1960 Trung Quốc luôn chú trọng công tác chọn tạo giống theo chiều sâu Năm 1956, Trần Khôi Vũ đã đưa ra phương pháp chọn giống 100 điểm đối với cây ăn quả Theo điều tra năm 1996, Trung Quốc đã có trên 1000 giống, trong đó xác định được 50 giống chè tốt phục vụ cho sản xuất
Trang 14Srilanka qua nhiều năm chọn lọc cá thể kết hợp chọn dòng có sản lượng cao với tính chịu hạn, khả năng chống chịu sâu bệnh Kết quả tạo ra nhiều dòng TRI777, TRI2043, TRI2025 phù hợp với vùng núi cao, trung du
và vùng núi thấp Gần đây thêm dòng CT9 cho năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng ra rễ mạnh.[18]
Nhật Bản: Công tác chọn tạo dòng rất được chú ý Các giống chè ở đây chủ yếu là giống chè trung du lá nhỏ Hiên nay Viêt Nam nhập hai giống từ Nhật Bản là: Giống yabukyta và giống Kanaymidori Đây là giống có khả năng chế biến chè xanh chất lượng tốt.[18]
Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ và cs (2000) [20]: Tại Kennya, các giống chè chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20%, diện tích chiếm 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn
điền lớn Ngoài ra, Kenya còn nhân giống bằng hình thức ghép
1.2.1.2 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè
* Những nghiên cứu về chu kỳ phát triển cá thể cây chè của các nhà khoa học cho thấy: Chè có 2 chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu
kỳ phát triển nhỏ
Chu kỳ phát triển lớn hay chu kỳ phát dục cá thể thì chia thành 5 giai
đoạn ( Theo tác giả Trung Quốc):
- Giai đoạn phôi thai ( giai đoạn hạt giống): Được tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành cho tới khi chín
- Giai đoạn cây con: Được tính từ khì hạt chè nảy mầm cho đến khi cây chè ra hoa, kết quả lần đầu Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 năm
- Giai đoạn cây non: Được tính từ khi chè ra hoa, kết quả lần đầu tiên khi cây chè định hình ( có bộ khung tán ổn định) Giai đoạn này kéo dài 2 – 3 năm
Trang 15- Giai đoạn chè lớn ( giai đoạn chè kinh doanh, sản xuất): Được tính từ khi cây chè có bộ tán ổn định bước vào giai đoạn kinh doanh, thu hoạch búp tới khi có thể thay tán mới Giai đoạn này kéo dài từ 30 – 40 năm hoặc lâu hơn
- Giai đoạn chè già cỗi (hết giai đoạn kinh doanh, sản xuất): Được tính
từ khi chè có biểu hiện thay tán lá đến khi chè già và chết
Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm): Tính từ khi mầm chè bắt đầu phân hóa sau đốn cho đến khi mầm chè ngừng sinh trưởng Nó gồm 2 quá trình phát triển song song đó là quá trình sinh trưởng sinh dưỡng
và sinh trưởng sinh thực
- Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng: Bao gồm sinh trưởng búp, cành và sinh trưởng rễ
- Quá trình sinh trưởng sinh thực: Là quá trình hình thành trồi hoa, nở hoa, thụ phấn, và kết hạt
* Những nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng cây chè: Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9], M.M.A Liadade (1964) cho rằng: Khi chè có 5
lá thì ở các nách lá thứ nhất, thứ hai đã có mầm nách, khi có lá thứ 6 xuất hiện thì có mầm nách thứ 3, khi có 7 lá thì mầm nách thứ 4 xuất hiện,…
Ông cũng cho rằng: Khi mầm chè qua đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là
lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Các mầm nách lá thứ 4 và lá thứ 5 của các đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp ở đợt sinh trưởng thứ hai
* Nghiên cứu về sinh trưởng của búp chè tác giả K.E Bakhotatde (1971) và K.M Djemukhatde (1976) cho rằng: Sự sinh trưởng búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, các nước có mùa đông rõ rệt, búp chè ngừng sinh trưởng vào mùa đông và nó được phục hồi vào thời kỳ ấm lên, ngược lại ở những nước nhiệt đới (Sri lanka hay Nam Ấn Độ) búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch chè quanh năm
Trang 16Tác giả Carr (1970) (1979)[27] [28], thí nghiệm đã đi đến kết luận: Nhiệt độ tối thiểu cho cho sinh trưởng của cây chè là 13- 14 0C, tối thích 18 – 30 0C, những ngày có nhiệt độ tối đa vượt quá 30 0C và tối thiểu thấp hơn 14 0C thì sinh trưởng của cây chè giảm Nhiệt độ đất ( tầng 0 – 30cm) thích hợp cho sinh trưởng của cây chè là 20 – 25 0C Carr cho rằng số giờ chiếu sáng ngày dài càng tốt, sự ngủ nghỉ sẽ xuất hiện khi độ dài ngày giảm xuống dưới 11 giờ
15 phút/ngày Hầu hết các vùng chè có lượng mưa 150mm/tháng thì sẽ sinh trưởng liên tục, tổng lượng mưa thích hợp là 1800mm/năm và chè không thể sinh trưởng được ở vùng có lượng mưa dưới 1150mm/năm mà không có tưới nước hợp lý
* Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, tác giả Carr (1992)[30] đã đưa ra giá trị trung bình là 475 ngày Việc tính toán cho 4 vùng khác nhau về kinh độ, độ cao so với mặt nước biển, nhiệt độ không khí bình quân cho thấy số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 45 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông
* Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè trong điều kiện không đốn và có
đốn thì tác giả K.M Djemukhatde (1982) [5] cho rằng: trong điều kiện để
giống hay không đốn thì các mầm chè được phân hóa trong vụ Thu và vụ
Đông sẽ hình thành búp trong vụ Xuân Trong khi đó nương chè có đốn thì sự
phân hóa mầm chè chủ yếu bắt đầu sinh trưởng muộn hơn một số ngày so với nương chè để giống hay không đốn
* K.M Djemukhatde (1948) đã nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa búp chè và năng suất đã cho thấy: Tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích là tương quan chặt r = 0,965 ± 0,004
* Nghiên cứu mối quan hệ giữa lá chè và năng suất chè của K.E Bakhotatde (1971) đã chỉ các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như sau: Màu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá
Trang 17Lá có màu vàng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa
Lá có màu cafe có lợi cho các chỉ tiêu về sinh lý
* I.G.Kerkatde (1080) đã nghiên cứu về hình dạng lá chè dựa trên góc nghiêng của lá: Góc lá tối ưu cho quang hợp là 45 độ
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chè trong nước
1.2.2.1 Những kết quả nghiên cứu về giống chè
Năm 1918, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên ở Việt Nam được thành lập, từ
đó công tác nghiên cứu chè được tiến hành rộng rãi và sâu sắc hơn Theo
Dupasquer - 1923, đến năm 1923, Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè
đầu tiên với giống chè là Trung Du, Shan và Atxam (Ấn Độ), đã thu thập được tập đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to
[9] Bên cạnh việc điều tra, thu thập các giống, Trạm chè Phú Hộ cũng tiến hành nhập các giống từ nhiều nước Từ năm 1918 - 1927 đã thu thập 13 giống
từ Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc và tiến hành bố trí thí nghiệm, so sánh Từ kết quả nghiên cứu năm 1923 Dupas quier cho rằng: Chè Manipua và Atxam
được trồng từ Ấn Độ tới nay đã tỏ ra thích hợp với sản xuất và cho kết quả
tốt ở Việt Nam Đối với giống Trung Du, ông nhận xét: Trung Du là giống ít
đòi hỏi nhất, nó mọc ngay trên đất xấu
Năm 1969 - 1978, nhiều cuộc điều tra và nhập nội giống được tiến hành Trong thời gian này các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Trần Thanh, Nguyễn Văn Niệm đã đề ra phương pháp chọn dòng, chọn ra được giống chè PH1 và 1A là 2 giống cho năng suất cao và phẩm chất tốt [18] Từ năm 1976 - 1990, bằng phương pháp chọn dòng các tác giả Nguyễn Văn Niệm, Trần Thị Lư đã chọn ra các giống TRI777, TH3 là 2 giống có triển vọng, được Bộ Nông nghiệp cho phép khảo nghiệm ra sản xuất Năm 1994 đã có 33 giống chè
được nhập nội vào Việt Nam trong đó có 9 giống chè Đài Loan; 15 giống
Trung Quốc; 11 giống Nhật Bản; 2 giống ấn Độ Đến nay, nhu cầu sử dụng
Trang 18giống tốt trong sản xuất ngày càng tăng, nên công tác giống ngày càng được quan tâm hơn Hiện nay nước ta có trên 130 giống chè, trong đó có hơn 20 giống đã được đưa ra trồng sản xuất đại trà [27] Tại Viện nghiên cứu chè Việt Nam (nay là trung tâm Nghiên cứu chè - Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc) đã xây dựng được một vườn bảo tồn quỹ gen chè, lưu giữ nhiều giống được thu thập từ nhiều nơi trên thế giới và trong nước Tuy nhiên công tác chọn giống ở nước ta vẫn chủ yếu tìm gen năng suất cao, khả năng chống chịu nên khả năng tận dụng và phát huy lợi thế của nguồn gen quý chưa được nhiều, dù đã có một vốn gen khá Vì vậy chúng ta chưa có được một giống chè gắn liền với thương hiệu giống cụ thể như Trung Quốc với sản phẩm chè Long Tỉnh 43 được sản xuất từ giống chè LT43, chè chất lượng cao Thiết Quân Âm từ nguyên liệu giống chè Thiết Quan Âm Nhờ có chính sách mở cửa thông qua những mối liên doanh liên kết nước ta
và quyết định số 43/1979/QĐ/TTg của chính phủ đến nay đã thu thập thêm
được một số giống chè đặc sản của Đài Loan, Trung Quốc như: Phúc Vân
Tiên, Keo Am Tích, Long Vân, Bát Tiên, Kim Tuyên, Vân Sương…Là cơ sở pháp lý quan trọng và cũng là cơ hội cho ngành chè tiến hành một cuộc cách mạng trong nghiên cứu và sản xuất thông qua chương trình nhập khẩu giống
Trang 19Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích đã áp dụng trong sản xuất
Stt Tên giống chè Năm công nhận giống Diện tích áp dụng
1 PH1 Quốc gia 1986 2vạn ha, trồng tại các tỉnh trồng chè
2 1A Khảo nghiệm 1986 20ha, tại Phú Thọ, Nghê An, Lâm Đồng
3 TH3 Khảo nghiệm 1989 20ha tại Phú Thọ, Yên Bái, Son La
4 TRI777 Quốc gia 1997 500ha tại Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái
Nguyên
5 LDP1 Quốc gia 2002 1,5vạn ha tại các tỉnh trồng chè
6 LDPH2 Khảo nghiệm 1994 2000ha tại Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh
7 Kim Tuyên Khảo nghiệm 2003 1000ha tại Lâm Đồng, Lạng Sơn Phú Thọ,
Hà Tây, Yên Bái, Sơn La
8 Bát Tiên Khảo nghiệm 2003 800ha tại Sơn La, Tuyên Quang, Lâm Đồng,
Yên Bái
9 Thúy Ngọc Khảo nghiệm 2003 400ha tại Lâm Đồng, Lạng Sơn, Phú Thọ,
Yên Bái, Sơn La
10 Phúc Vân Tiên Khảo nghiệm 2003 10h tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An,
Khảo nghiệm 2003 1000ha,tại Yên Bái, Hà Giang, Sơn La, Lào
Cai, Điện Biên, Lai Châu
Trang 201.2.2.2 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển ở Việt Nam
Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9] cho rằng búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian
Sơ đồ sinh trưởng được tóm tắt:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9] cho thấy: Trong năm chè có
3 - 5 đợt để sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể có tới 8 - 9 đợt sinh trưởng Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, điều kiện đất đai, khí hậu, chế độ canh tác
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9] nghiên cứu về mối quan hệ giữa búp và sản lượng thì sản lượng chè quyết định bởi 2 yếu tố: Mật độ búp và trọng lượng búp Mật độ búp liên quan tới sản lượng của chè
Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[23] khi nghiên cứu về sinh trưởng búp chè và sản lượng chè đã cho rằng: Tổng số búp/cây có mối tương quan
Trang 21thuận không chặt với sản lượng là yếu tố ổn định, vì thế số búp/cây có ý nghĩa với sản lượng
Tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) khi nghiên cứu về hệ số diện tích lá cho rằng: Hệ số diện tích lá và mật độ búp có quan hệ thuận với nhau từ tháng 5 –
12 tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[23] cũng có kết luận tương tự và hệ số diện tích lá thích hợp từ tháng 4 – 6
Nghiên cứu các tính trạng của chè liên quan tới chất lượng thì tác giả Nguyễn Văn Niệm (1992)[15] cho rằng: Dạng lá lồi lõm,màu xanh vàng ( nhạt) có chất lượng tốt hơn dạng xanh đậm, nhẵn bằng
1.2.2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trong canh tác chè
Theo tác giả Hà Ngọc Ngô (1977) [14], tưới nước cho chè ở Việt Nam lần đầu tiên được nghiên cứu vào những năm 1960-1961 tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ dưới sự chỉ đạo của giáo sư Fridland trên chè 4 tuổi ở độ dốc 110 Kết quả cho thấy tưới nước đã làm tăng sản lượng chè từ 13-38% và cho bội thu cao trong các tháng vụ Đông
Theo Chu Thị Thơm và cs (2005) [22] thì phủ rác có tác dụng chống cỏ dại, giữ ẩm, chống xói mòn, tăng độ mùn, độ xốp cho đất Cách phủ rác có thể làm tăng năng suất chè từ 35-50%
Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Đông (2010) [6] thì việc tưới nước cho chè qua Đông kết hợp với các biện pháp tủ giữ ẩm và làm đất trước khi tủ
đã làm tăng năng suất chè từ 107,27-181,49% Việc tưới tủ kết hợp với làm đất trước khi tủ cho chè đem lại hiệu quả kinh tế cao
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Mỹ (2010) [13] về ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của chè giai đoạn TRI 777 tại
xã Phú Hộ tỉnh Phú Thọ thì che phủ đất bằng xác thực vật cho chè trong giai
đoạn TRI 777 có tác dụng tích cực đối với sinh trưởng phát triển của chè
Trang 22(tăng chiều cao cây, tăng chiều rộng tán, tăng chỉ số diện tích lá, giảm cỏ dại )
đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc
Theo Đường Hồng Dật (2004) [4] ở nước ta, do lượng mưa phân bổ không đều qua các tháng trong năm, lượng chè chiếm 70% sản lượng cả năm Trong khi các tháng vụ Đông – Xuân, do thời tiết khô hạn, nhiệt độ thấp, cho nên sản lượng chè rất thấp, có tháng như tháng 1, các nương chè hầu như không cho thu hoạch
Trong các tháng có lượng mưa trên 100 mm, thu hoạch búp chè đạt trên 10% sản lượng chè cả năm Dưới 50 mm, thu hoạch búp chè chỉ đạt dưới 5% sản lượng cả năm
Tưới nước cho chè, hoặc kết hợp giữa tưới nước và tủ gốc giữ ẩm cây chè sinh trưởng tốt và làm cho thu hoạch búp với năng suất cao Ngay cả trong các tháng vụ Đông-Xuân, nhiệt độ thấp, thời tiết khô hạn vẫn làm tăng năng suất và sản lượng chè
Đại học Nông lâm Thái Nguyên (1997), nghiên cứu biện pháp kỹ thuật
nâng cao năng suất chât lượng chè vụ đông xuân ở Bắc Thái Kết quả cho thấy sản lượng chè có tủ, tưới nước và tủ, tưới nước cả 3 tháng 10, 11, 12 tăng tương ứng từ 17- 110% Tỷ trọng vụ chè đông xuân so cả năm của đối chứng
đốn ngày 25/12 không tưới tủ là 22,9%, có tưới là 32,2%; đốn 25/2 có tưới là
37%; đốn 25/4 có tưới là 56,7% Đốn chè vào tháng 4 năm sau có tưới + tủ, sản lượng chè đông xuân thu trong 3 tháng 10, 11, 12 cao nhất đạt 2.271 kg/ha so với đối chứng là 210,7% Hiệu quả kinh tế lớn nhất vì bán trước tết với giá cao
Kết quả ngiên cứu của PGS.TS Lê Tất Khương (1997) cho thấy: Các công thức được tủ giữ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới đã tăng tỷ lệ búp có tôm từ 3,7- 18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0- 17,3%, tăng
Trang 23hàm lượng tanin từ 0,7- 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa tan từ 1,0- 1,5% Còn đốn chè vào tháng 12, ở các công thức có tủ và tưới nước đã làm tăng năng suất chè vụ đông và xuân từ 10,4- 125,1% và đã làm tăng mức thu- chi từ 5,3- 67,5% so với không tủ , không tưới nước [11]
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới
Chè hiện nay chiếm khoảng 1/3 lượng tiêu dùng của thị trường đồ uống nóng thế giới, nhưng chỉ chiếm 20% tổng giá trị của thị trường này Theo
đánh giá của chuyên gia trong các nước sản xuất kinh doanh chè thuộc tổ
chức Nông Lương Quốc tế, những năm cuối thế kỷ 20 có trên một nửa dân số thế giới uống chè Hầu hết các nước đều có người uống chè, trong đó khoảng
160 nước có nhiều người uống chè Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên toàn thế giới là 0,5kg/người/năm và con số này sẽ càng tăng lên trong thời gian tới (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [10]
Theo thống kê của Fao tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga
đều có xu hướng tăng Trong giai đoạn 2009-2010 nhập khẩu chè đen của
Nga sẽ tăng từ 223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là 3% Có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chế biến đặc biệt trong khi tại các thị trường Tây Á và châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống(w.w.w.viettrade.gov.vn)[3]
Trước nhu cầu tiêu thụ chè chất lượng cao ngày càng tăng lên các nước sản xuất và xuất khẩu chè buộc phải đầu tư chiều sâu cho các vùng cải tiến giống, thực hiện nghiêm ngặt hơn nữa các kỹ thật canh tác, thu hái khiến cho năng suất chè tăng lên rõ rệt Năng suất bình quân của các nước sản xuất chè chủ yếu trong hơn 10 năm trở lại đây trung bình tăng 48% Ấn Độ là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới với tốc độ năng suất trung bình từ năm 1990 đến nay là 55% theo sau là Srilanka 45%,
Trang 24Trung Quốc 35%, Indonesia 31% Năm 1991 năng suất chè trung bình trên thế giới là 1,12 tấn/ha, đến năm 2004 năng suất trung bình đã tăng 1,3 tấn/ha (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [10]
Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới từ năm 2005-2012 được thể hiện ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2005-2012
(10.000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2014)
Qua số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè trong giai đoạn
từ năm 2002-2010 cho thấy:
Diện tích chè thế giới tăng đều qua các năm từ năm 2005-2012 Từ năm
2006 – 2007 là sự gia tăng về diện tích có sự vượt trội hơn các năm tăng từ 273,89 năm 2006 lên 292,97 năm 2007 Trong 8 năm trở lại đây diện tích trồng chè tăng khoảng 1,02-1,03% Theo thống kê năm 2005, diện tích chè
Trang 25thế giới tương đối cao, trong đó diện tích chè châu Á chiếm 76,7%, châu Phi
là 8,05%
Năng suất chè thế giới nhìn chung tăng từ năm 2005 - 1012, tuy nhiên năng suất có sự giảm sút từ 146,09 tạ/ha (năm 2010) xuống 141,52 tạ/ha (năm 2011) nhưng lại tăng dần vào năm tiếp theo 147,07 tạ/ha ( năm 2012)
Mặc dù năm suất có giảm ở 1 số năm nhưng sản lượng chè vẫn tăng nhanh qua các năm từ 365,05 (nghìn tấn ) năm 2005 lên 481,81 (nghìn tấn) năm 2012
Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè Chè tập trung nhiều nhất ở châu Á sau đó đến châu Phi Các nước có diện tích trồng chè lớn như Kenia, Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanka…Sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản lượng chè cao được thể hiện qua bảng 1.3:
Trang 26Bảng 1.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản
lượng chè cao từ năm 2005-2012
(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2014)
Bảng 1.3 cho thấy Trung Quốc là nước có sản lượng lớn nhất với 1.714,90 nghìn tấn, Tiếp đó là Ấn Độ với diện tích là 1.000 nghìn tấn Việt Nam đứng thứ 6 về sản lượng trong tổng số 10 nước có sản lượng chè lớn trên thế giới năm (2012)
Qua số liệu bảng 1.3 cho thấy, hai nước có diện tích và sản lượng chè cao nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, cũng là hai nước có khả năng tiêu thụ chè
Trang 27lớn nhất thế giới Các nước còn lại như Anh, Mỹ, Canada sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước xuất khẩu chè
Sản xuất chè trên thế giới tập trung chủ yếu ở châu Á Trong số 10 nước dẫn đầu về sản lượng (chiếm khoảng 90% tổng sản lượng trên thế giới) thì có tới 7 nước châu Á Trong những năm qua, diện tích trồng chè thế giới tăng không đáng kể nhưng năng suất chè có sự cải thiện vượt bậc nên sản lượng gia tăng Trong khi đó chè đang bị cạnh tranh gay gắt từ các loại đồ uống khác nên giá chè có xu hướng giảm từ năm 1998-1999 đến nay (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7]
1.4 Tình hình sản xuất và định hướng phát triển ngành chè ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình sản xuất
Trong những năm qua, Chính phủ và các Bộ đã quan tâm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học - công nghệ giúp ngành chè chọn tạo, nhập nội được nhiều giống chè có năng suất cao, chất lượng tốt, hỗ trợ nông dân trồng chè; thiết bị, cải tiến quy trình canh tác và chế biến; xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường…
Đến hết năm 2013, nước ta đã có khoảng 130.000 ha chè, trong đó diện
tích chè kinh doanh khoảng 105.000 ha, năng suất bình quân khoảng 7,7 tấn búp tươi/ ha; có trên 455 cơ sở chế biến chè với tổng công suất chế biến trên 450.000 tấn chè khô/năm, sản lượng chè khô khoảng 180.000 tấn; xuất khẩu 145.000 tấn (hơn 80%), kim ngạch đạt khoảng 250.000.000 USD; tiêu thụ trong nước khoảng 35.000 tấn, doanh thu khoảng 3.000 tỷ đồng Sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ và đã đứng vào hàng thứ 6 trên thế giới về sản lượng và thứ 5 về xuất khẩu [7]
Trang 28Cây chè hiện nay được phân bố trên địa bàn 40 tỉnh thành trong cả nước, tập chung chủ yếu ở những vùng chè trọng điểm như: Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Lâm Đồng…[1]
Dưới đây là số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng của một số tỉnh trọng điểm về ngành chè giai đoạn 2006 – 2012
Bảng 1.4 Diện tích trồng chè của một số tỉnh giai đoạn 2006 – 2012
Trang 29Bảng 1.5 Năng suất chè của một số tỉnh giai đoạn 2006 – 2012
An 74,7 76,2 86,7 88,5 87,6 108,5 121,6 Sơn La 68,8 72,1 61,1 61,1 64,7 72,8 68,6 Lai
Châu 80,5 83,0 83,8 82,2 79,6 86,3 85,2
Nguồn: http://fsiu.mard.gov.vn/data/trongtrot.htm
Từ bảng 1.5 cho ta thấy trong giai đoạn 2006 - 2012 năng suất chè đều tăng Nghệ An là tỉnh có năng suất chè đạt cao nhất là 121,6 tạ (năm 2012) tiếp theo là tỉnh Thái Nguyên cũng có năng suất chè cao đạt 108,8 tạ.các tỉnh còn lại có năng suất đạt trung bình, Hà Giang là tỉnh có năng suất đạt thấp nhất năm 2012 là 37,5 tạ
Trang 30Bảng 1.6 Sản lượng của một số tỉnh giai đoạn 2006 – 2012
Ngành chè Việt Nam thừa hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên và xã hội Tuy nhiên cây chè mới chỉ thực sự được người Việt Nam đầu tư phát triển mạnh từ những năm cuối thế kỷ 20 trở đi Đặc biệt trong những năm gần đây, nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách đầu tư, ưu tiên phát triển cây chè Cây chè được coi như cây xóa đói giảm nghèo và tiến đến làm giàu của nhiều
Trang 31hộ nông dân Do đó diện tích, năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên từ năm 2005 đến nay
Bảng 1.7 Diện tích năng suất, sản lượng chè tại Việt Nam
Năm Diện tích (nghìn
ha)
Năng suất (tấn/ha)
(Nguồn: Theo FAO năm 2014)
Qua bảng trên ta thấy diện tích, năng suất, sản lượng chè trong những năm của đầu thế kỷ 21 có sự tăng trưởng khá mạnh từ năm 2005 đến năm
2012
Diện tích đất trồng chè của Việt Nam tăng trung bình trong những năm
2005 đến 2012 Trong đó, diện tích chè từ năm 2006 đến năm 2007 tăng nhanh nhất (5,3ha)
Diện tích trồng chè tăng dẫn tới năng suất chè lại tăng đều qua các năm
Từ 13.56 kg/ha (năm 2005) lên tới 18,70kg/ha (năm 2012)
Do diện tính và năng suất chè hàng năm tăng nên sản lượng chè cũng tăng với tốc độ nhanh trong 7 năm (2005-2012) Năm 2005 (132,52 nghìn tấn)
đến năm 2012 (216,90 nghìn tấn) sản lượng tăng thêm 84,38 tấn/ha điều đó
cho thấy sự tiến bộ của người sản xuất chè, đã biết chú trọng vào đầu tư vào chè, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chè, biết những giá trị to lớn mà
Trang 32chè mang lại cho người dân Đời sống người dân được cải thiện, giải quyết
được vấn đề việc làm cho người lao động
* Tuy nhiên bên cạnh những mặt thuận lợi trên thì chè nước ta cũng
đang tồn tai những khó khăn sau:
+ Diện tích cao mà năng suất chè Việt Nam còn quá thấp so với các nước trồng chè trong khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan
+ Nguồn vốn phục vụ cho sản xuất còn nghèo chưa đủ điều kiện để nhằm thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè
+ Chất lượng chè chế biến đa phần chưa cao, do công nghệ sau thu hoạch và công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm chưa được ngiên cứu và đầu
tư đúng mức, chất lượng chè nguyên liệu còn thấp, chủng loại (chẳng hạn chè
đen xuất khẩu chiếm tới 78%), còn kém đa dạng mẫu mã bao bì chưa đẹp,giữa chế biến và sản xuất nguyên liệu chưa gắn kết với nhau, vì vậy chè
Việt Nam trên thị trường quốc tế chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 2% sức cạnh tranh còn yếu.[2]
Theo hiệp hội chè Việt Nam để giữ vững và ổn định thị trường chè, hiệp hội và các tỉnh sẽ đưa ra một số giải pháp: xác định các giống chè mới
có năng suất, chất lượng để đưa vào canh tác, đồng thời chọn phương pháp nhân giống cho từng loại chè thành phẩm như: chè xanh, chè OTC, chè CCT… bên cạnh đó sẽ dần thay thế các diện tích chè giống cũ, lâu năm năng suất thấp bằng các giống chè mới có chất lượng cao, chất lượng tốt và cải tiến
kỹ thuật trồng mới theo hướng giảm và tối ưu hóa số lượng cây cho phù hợp từng giống chè.[3]
1.4.2 Tình hình tiêu thụ
Trang 33Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 3 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu chè ước đạt xấp xỉ 29 ngàn tấn với tổng kim ngạch ước đạt 43,6 triệu USD giảm 3,9% về lượng và tăng 4,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012
Hiện Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè đứng thứ 5 thế giới [3]
Bảng 1.8: Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo thị trường
STT Thị trường
2011
2012 so với năm 2011 (%)
Trị giá (USA)
Tỉ trọng (%)
Trị giá (USA)
Tỉ trọng (%)
Trị giá (USA) Tỉ trọng
(%) Tổng XK
Nguồn: Tổng cục Hải quan[3]
Nhìn chung trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khó khăn, thị trường tiêu thụ chè Việt Nam vẫn khá khả quan với thị trường xuất khẩu hàng đầu là thị trường Pakistan, với thị phần lớn nhất, giá trị xuất khẩu đạt khoảng 6,3 triệu USD; tiếp theo đó là thị trường Đài Loan với sản lượng xuất khẩu 4.065 tấn,
Trang 34trị giá 5,6 triệu USD, và đứng thứ 3 là thị trường Nga, sản lượng đạt 2.974 tấn trị giá 4,67 triệu USD.[3]
Ngoài ra xuất khẩu chè Việt Nam sang một số thị trường quan trọng khác trong những tháng đầu năm 2013 cũng có mức tăng trưởng khá cao, như Trung Quốc, Ba Lan, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE).[3]
+ Là một ngành kinh tế mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế-xã hội ở trung du và miền núi
+ Đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng chè trong nước, xuất khẩu ngày càng nhiều và có tích lũy để tái sản xuất mở rộng
+ Góp phần vào việc phân bố lại lao động và dân cư, thu hút ngày càng nhiều lao động, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và sinh hoạt cho người lao động, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số + Góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi sinh
+ Chú trọng việc phát triển khoa học công nghệ để khắc phục nhược
điểm và yếu kém hiện nay, cụ thể:
- Đưa công nghệ mới vào kinh doanh và phát triển đồi chè
- Lựa chọn loại hình công nghệ chế biến thích hợp, đổi mới bao bì, mẫu mã,
để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu
Trang 35- Có những giải pháp thích hợp để thu hút mọi nguồn vốn ở trong và ngoài nước nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển cây chè (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7]
1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Cao Bằng
Cao Bằng, có những vùng chè nổi tiếng như chè Đông Khê huyện
Thạch An (đến nay vẫn còn lưu truyền câu: Trà Đông Khê lê Bảo Lạc), chè
Nà Bao, chè Phja Đén của huyện Nguyên Bình Từ lâu cây chè đã được người dân Cao Bằng trồng tự phát nhằm mục đích phục vụ nhu cầu gia đình làm thức uống và một phần sản phẩm bán lẻ ra thị trường trên địa bàn tỉnh Chè được trồng tập trung ở các huyện như: Thạch An: diện tích khoảng 200
ha, Nguyên Bình: diện tích khoảng 30 ha, Hòa An và Thành phố: diện tích cũng khoảng 30 ha
Năm 2007, một đề tài khoa học “Nghiên cứu trồng và chế biến một số
giống chè chất lượng cao” được triển khai tại xóm Phja Đén, xã Thành Công
huyện Nguyên Bình với sự hỗ trợ kỹ thuật của Viện khoa học kỹ thuật miền
núi phía bắc Từ kết quả của đề tài đó, năm 2010 đã triển khai dự án “Ứng
dụng tiến bộ khoa học công nghệ phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất chè xanh chất lượng cao tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng” Thuộc
“Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2010-
2015 Dự án triển khai 20 ha, trong đó Doanh nghiệp 10 ha và nông dân 10
ha Sau 3 năm triển khai, doanh nghiệp đã trồng dược 13,5 ha, nông dân trồng
được 15 ha Hiện nay doanh nghiệp đang sản xuất giống để trồng thêm 50 ha,
trong đó doanh nghiệp tiếp tục trồng thêm 10 ha và hỗ trợ 50% giá giống cho nông dân trồng 40 ha trong năm 2014-2015
Trong những năm qua, nhờ có sự chuyển đổi giống chè, thay thế dần các giống chè cũ bằng các giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt;
Trang 36cùng với việc cải tiến quy trình canh tác thiết bị và công nghệ chế biến đã góp phần nâng cao được năng suất và giá trị xuất khẩu chè Năng suất tăng từ 5,8 tấn/ha năm 2005 lên 7,7 tấn/ha năm 2013 (tăng 32,76%), giá trị xuất khẩu tăng từ 100 triệu USD năm 2005 lên 250 triệu USD năm 2013 (tăng 150%)
Bảng 1.9 Diện tích năng suất và sản lượng chè giai đoạn 2006 -
2012 tại Cao Bằng
(1000ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Qua bảng 1.9 ta thấy rằng diện tích và sản lượng chè có giảm trong giai
đoạn 2006 – 2012 nhưng sản lượng vẫn tăng do đã có sự quan tâm Sở Nông
nghiệp và PTNT tham mưu cho UBND tỉnh nhằm mở rộng diện tích trồng chè với các giống chè có năng suất cao, chất lượng tốt, như các giống chè Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Ôlong Thanh Tâm, PH8, PH10, …, đầu tư công nghệ chế biến để tăng giá trị sản phẩm chè, nâng cao thu nhập cho người nông dân, nhằm xóa đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu
* Định hướng phát triển chè ở Cao Bằng
- Phát triển hữu cơ chè núi cao: Chè (Camellia sinensis) không phải
cây trồng chủ lực ở Cao Bằng vì không thể phát triển với diện tích lớn như
Trang 37các tỉnh khác, nhưng tỉnh Cao Bằng có những điều kiện tự nhiên đặc thù để phát triển cây chè cho giá trị kinh tế cao Cao Bằng quy hoạch phát triển 2 ngàn ha chè chất lượng cao, trồng ở độ cao xung quanh 1.000 m so với mực nước biển với các giống chè nổi tiếng như: Thanh Tâm, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc vân Tiên và các giống chè chất lượng cao của việt nam: PH8, PH9, PH10 Do trồng ở độ cao 1.000 m nên chè ở cao Bằng có thể hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Để tăng cường và ổn định chất lượng chè, ngành nông nghiệp Cao Bằng chủ trương không bón phân hóa học, không sử dụng bất cứ chất hóa học nào trong quá trình trồng, chăm sóc, chế biến chè Chè trồng hoàn toàn bằng phân bón có nguồn gốc là phân hữu cơ: Chất thải gia súc, gia cầm, các chất hữu cơ như rơm rạ, thân cây ngô, cỏ rác được ủ với chế phẩm vi sinh học đã phân hủy như phân chuồng Những năm đầu trong giai đoạn kiến thiết cơ bản trồng xen với chè các loại cây họ đậu như cốt khí,
đỗ xanh, đỗ tương, lạc để tăng hàm lượng mùn trong đất và bổ xung dinh
dưỡng cho cây chè
- Phát triển vùng nguyên liệu với doanh nghiệp là hạt nhân:
Phát triển chè chất lượng cao đòi hỏi phải ứng dụng khoa học công nghệ về giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến và thị trường cho sản phẩm Doanh nghiệp là hạt nhân tổ chức trồng khoảng 20-50 ha để chủ động nguồn nguyên liệu cho cơ sở chế biến, là mô hình cho nông dân học tập, là người hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, người nông dân là vệ tinh thực hiện
đúng quy trình kỹ thuật dưới sự giám sát của doanh nghiệp và bán sản phẩm
cho doanh nghiệp để chế biến và tiêu thụ Phát triển chè núi cao phải thực hiện chặt chẽ liên kết bốn nhà, trong đó nhà doanh nghiệp là đối tác quan trọng cho người sản xuất
Trang 38- Phát triển vùng nguyên liệu gắn với du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường:
Sản xuất nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong chuỗi giá trị chè, lấy yêu cầu thị trường chè để lựa chọn công nghệ chế biến sản xuất hiệu quả Sản xuất chè với qui mô vừa và nhỏ lấy, doanh nghiệp là trung tâm
để đầu tư nhà xưởng thiết bị chế biến, tiêu thụ sản phảm; liên kết với các hộ
để mở rộng vùng sản xuất nguyên liệu chè chất lượng an toàn; phối hợp sản
xuất với phát triển dịch vụ và du lịch tạo sự phát triển bền vững bảo vệ môi trường sinh thái vùng núi cao
Trang 39Chương II ĐỐI TƯỢNG NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Các giống chè có chất lượng cao trồng tại Nguyên Bình-Cao Bằng
- Vật liệu nghiên cứu gồm 3 giống chè sau:
+ Giống chè Kim Tuyên (đối chứng) [27]
Nguồn gốc: Nhập nội từ Đài Loan Được công nhận giống tạm thời năm 2003, công nhận giống cây trồng mới năm 2008 Đây là giống mang mã
số 12 của Đài Loan được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính giữa mẹ là Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975 Nhập nội vào Việt Nam năm 1994, trồng ở các vùng chè có điều kiện sản xuất chè ôlong
Hình thái: Dạng thân bụi, cành phát triển hướng lên phía trên, mật độ cành dày, lá hình bầu dục, màu xanh vàng bóng, thế ngang, răng cưa rõ và
đều; dài lá 7,2cm, rộng 3,1cm Búp màu xanh nhạt, non phớt tím, trọng lượng
búp bình quân (1 tôm 2 lá): 0,5- 0,52g
Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp dày Khi trồng cây có
tỷ lệ sống cao Cây chè 4- 5 tuổi tán rộng trung bình 117 cm; Nhân giống bằng giâm hom có tỷ lệ sống cao
Chất lượng: Chế biến chè xanh có chất lượng rất cao Thành phần một
số chất: A.amin tổng số 1,6%; Catechin tổng số (mg/gck) 135; Tanin 28,97%; Chất hoà tan 38,85% Giống Kim Tuyên là giống năng suất khá cao, thích hợp quy trình thâm canh
+ Giống chè Phúc Vân Tiên [27]
Giống vô tính của Trung Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ
là giống chè Phúc Đỉnh Đại Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to
Trang 40Đặc điểm sinh vật học: Dạng thân gỗ nhỡ, thế cây hơi đứng, tán nhỏ
Cây cao ở điều kiện sinh trưởng tự nhiên có thể vươn cao tới 4-5 m Khả năng bật búp mạnh Búp mập màu xanh vàng sáng, có phủ lông tuyết
Chế biến chè xanh có hương thơm mạnh, vị tốt, màu nước có màu vàng rượu và bã màu xanh sáng
+ Giống chè PH8 [27]
Được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa giống chè TRI 777 và Kim Tuyên từ năm
1998 tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè Viện khoa học kỹ thuật nông
lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Đặc điểm: giống có khả năng thích ứng rộng chịu hạn và giá lạnh Dễ
giâm cành, tỷ lệ xuất vườn cao
Năng suất: sớm cho năng suất cao (tuổi 2 đã cho năng suất 3,68 tấn/ha
đến tuổi 8 đạt tới 17,24 tấn/ha), chịu thâm canh
Khả năng chống chịu sâu bệnh khá (bị hại bởi rầy xanh, bọ xít muỗi, cánh tơ ít, bị hại bởi nhện đỏ ở mức độ trung bình), đặc biệt giống bố Kim Tuyên và mẹ TRI777 bị rệp phảy phá hại nặng song giống PH8 hiện nay hầu như chưa xuất hiện
* Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/ 2014
- Địa điểm: Thôn Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
2.2 Nội dung nghiên cứu
Điều tra các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất chè tại Phia đén, Nguyên Bình - Cao Bằng theo phương pháp thu thập số liệu từ các nguồn: Sở Nông Nghiệp và PTNT, trung tâm khí tượng thủy văn, phòng Nông Nghiệp tại Cao Bằng