1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

VIÊM KHỚP tự PHÁT THIẾU NIÊN (VKTPTN) BỆNH lý TƯƠNG tự BẠCH cầu cấp (BCC)

2 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 191,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần này sưng đau khớp gối và khuỷu tay phải, sốt cao vào viện Nhi.. Sau 5 ngày vẫn sốt, đau nhức xương khớp tăng lên, tủy đồ kết luận bạch cầu cấp L2.. BÀN LUẬN Năm 1930, Seward công bố

Trang 1

Y HỌC THỰC HÀNH (878) - SỐ 8/2013 73

nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với

p=0,29 Khi theo dõi dọc theo thời gian qua 36 tháng,

chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tử vong ở nhóm ≥65 tuổi tại

thời điểm 6 tháng (18,8% so với 0%), 12 tháng (11,1%

so với 2,9%), 24 tháng (14,7% so với 2,2%) và 36

tháng (19,7% so với 7,4%) cao hơn nhóm <65 tuổi

Nghiên cứu của Gurwitz và cộng sự cho thấy mặc dù

tử vong nội viện sau NMCT cấp gần đây giảm ở nhóm

bệnh nhân <65 tuổi nhưng không ghi nhận được điều

đó cho nhóm bệnh nhân ≥65 tuổi Erne P cho thấy nếu

bắt đầu điều trị sớm với kháng kết tập tiểu cầu, ức chế

beta, nitrate, ức chế men chuyển và điều trị tái tưới

máu sẽ làm giảm được tỷ lệ tử vong nội viện nhưng cả

hai ức chế beta và tái tưới máu ít thường được dùng

trên bệnh nhân cao tuổi

Tỷ lệ tử vong của nữ giới trong nghiên cứu của

chúng tôi chiếm tỷ lệ khá cao và điều này cũng tương

tự với một số nghiên cứu khác Điều này có thể do

thực tế là nữ giới thường cao tuổi hơn nam giới lúc

nhập viện, nữ giới thường có bệnh đái tháo đường

kèm theo và nữ giới ít được điều trị tích cực hơn trong

thời gian nằm viện so với nam giới Ngoài ra do nữ

giới thường có biểu hiện triệu chứng không điển hình

và nhập viện trễ nên không còn phù hợp để điều trị tái

tưới máu cấp cứu

KẾT LUẬN

Tỷ lệ tử vong ngắn và trung hạn của nhóm bệnh

nhân ≥65 tuổi bị nhồi máu cơ tim cấp điều trị nội khoa

bảo tồn cao hơn nhóm bệnh nhân <65 tuổi Can thiệp

mạch vành qua da làm giảm được nguy cơ tử vong so

với điều trị nội khoa cho cả hai nhóm trên và dưới 65

tuổi Điều trị tái tưới máu bằng phương pháp can thiệp

động mạch vành qua có thể thực hiện được cho bệnh

nhân cao tuổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Thom T, Haase N, Rosamond W, et al (2006) Heart disease and stroke statistics – 2006 update: a report from the American Heart Association Statistics Committee and Stroke Statistics Subcommittee Circulation (113): pp e85-e151

2 Tổng Cục thống kê (2009) Kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009

3 Rich MW, Bosner MS, Chung MK, et al (1992), "Is age an independent predictor of early and late mortality in

patients with acute myocardial infarction?," Am J Med, 92,

7-13

4 Van de Werf F, Ardissino D, et al (2003) Management of acute myocardial infarc-tion in patients presenting with ST-segment el-evation Eur Heart J (24):

pp 28–66

5 Silber S, Albertsson P, Aviles FF, Camici PG, Colombo A, et al (2005) Guide-lines for Percutaneous Coronary Interventions The Task Force for Percutaneous Coronary In-terventions of the European Society of Cardiol-ogy Eur Heart J (8): pp 804–47

6 Holay MP, et al (2007) Clinical profile of acute myocardial infarction in elderly (prospective study) JAPI (55): pp 188-192

7 Tresch DD, Brady WJ, et al (1996) Comparison of elderly and younger patients with out of hospital chest pain Clinical characteristics of AMI, therapy and

outcomes Arch Intern Med (156): pp 1089-93

8 Velazquez EJ, Pfeffer MA, McMurray JV, for the VALIANT Investigators (2003) VALsartan In Acute myocardial iNfarcTion (VALIANT) trial: baseline

characteristics in context Eur J Heart Fail (5): pp

537-544

9 Richard GB, Christopher PC, et al (2004) The Effect

of Routine, Early Invasive Management on Outcome for Elderly Patients with Non–ST-Segment Elevation Acute

Coronary Syndromes Ann Intern Med (141): pp 186-195

10 Sheifer SE, Rathore SS, Gersh BJ, et al (2000) Time to presentation with acute myocardial infarction in the elderly: associations with race, sex, and socioeconomic characteristics

Circulation (102): 1651-6

VIÊM KHỚP TỰ PHÁT THIẾU NIÊN (VKTPTN)- BỆNH LÝ TƯƠNG TỰ BẠCH

CẦU CẤP (BCC)

LÊ QUỲNH CHI, LÊ THỊ MINH HƯƠNG

Bệnh viện Nhi Trung Ương

MỞ ĐẦU

Viêm khớp tự phát thiếu niên là một bệnh khớp

mạn tính khá phổ biến ở trẻ em Xác định chẩn đoán

bệnh chủ yếu dựa vào chẩn đoán loại trừ Do đó chẩn

đoán bệnh thường khó khăn nhất là giai đoạn đầu

Hơn nữa tổn thương xương khớp không chỉ là biểu

hiện của bệnh lý tại khớp mà còn là triệu chứng của

bệnh lý toàn thân (bệnh nhiễm trùng hoặc các bệnh ác

tính)

Trên thế giới đã có những báo cáo về các trẻ em

có tổn thương xương khớp mà lúc đầu được chẩn

đoán VKTPTN, nhưng cuối cùng là bệnh lý ác tính [1]

Việc theo dõi, đánh giá của bác sỹ lâm sàng là chìa

khóa giúp xác định chẩn đoán [2] Nhằm minh họa cho

nhận định trên chúng tôi xin trình bày 3 bệnh án sau,

để rút kinh nghiệm trong việc chẩn đoán cho các

trường hợp VKTPTN, tránh điều trị không thích hợp và

các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra

GIỚI THIỆU BỆNH ÁN

Bệnh án số 1: Bệnh nhân Tr.V L nam, 7 tuổi, MSBA: 10175748, vào viện: 26/4/2011 Vào viện vì: sốt, sưng đau khớp Bệnh 1 tháng: sưng đau khớp cổ tay, khuỷu tay, cổ chân, sốt cao, gầy sút, điều trị ở nhà không đỡ chuyển viện Nhi Khám vào viện: sốt 390C,

da xanh, sưng đau và hạn chế vận động khớp, vài hạch cổ nhỏ Chẩn đoán theo dõi VKTPTN thể đa khớp Xét nghiệm: CTM: BC: 11,6 G/L (%N: 6,7%, L: 62,6%); Hb: 92G/L; TC: 343G/l, CRP: 5,4 mg/l, máu lắng: 130/ 135mm X quang khớp bt, làm huyết-tủy đồ: bình thường Điều trị corticoid, sau 5 ngày trẻ đỡ sốt, khớp đỡ sưng, nhưng đau nhiều về đêm, Gan 2 cm dưới bờ sườn, lách không to, hạch cũ Xét nghiệm máu lần 2: CTM: BC: 14,9 G/L (N: 62,7%, L: 30,3%); Hb: 99 G/L; TC: 216 G/L CRP: 12,8mg/l; máu lắng: 40/50 mm Tủy đồ lần 2: BT Tiếp tục được điều trị

Trang 2

Y HỌC THỰC HÀNH (878) - SỐ 8/2013 74

corticoid uống, kháng sinh, nhưng trẻ vẫn sốt cao, da

xanh, gầy, xuất huyết dưới da, gan to hơn, lách, hạch

không to Xét nghiệm máu lần3: BC: 18,6 G/L (N: 63%,

L: 25%); Hb: 87G/L; TC: 126 G/L; CRP: 229,6; Máu

lắng: 105/125 mm; LDH: 966 U/L, đông máu: bt

Ngừng corticoid, làm tủy đồ lần 3: chẩn đoán bạch cầu

cấp thể tủy

Bệnh án số 2: Bệnh nhân: Đ H Đ, nam, 5 tuổi,

MSBA: 12966547; vào viện 5/4/2013, lý do: sưng đau

khớp Bệnh 3 tháng, đau khớp gối, khớp vai 2 bên

Lần này sưng đau khớp gối và khuỷu tay phải, sốt cao

vào viện Nhi Khám vào viện: sốt 380C, khớp gối và

khuỷu tay phải sưng, đau, hạn chế vận động Chẩn

đoán: 1) VKTPTN; 2) Thấp tim; 3) Viêm khớp nhiễm

khuẩn, 3) Bệnh bạch cầu cấp Xét nghiệm: BC: 7,2 G/L

(N% 16,8%; L: 80,1%); Hb: 88 G/L; TC: 311 G/l CRP:

109,5 mg/dl; Máu lắng: 125 /130 mmHg; ASLO (-), Cấy

máu: âm tính; điện tim, siêu âm tim: BT X quang khớp

khuỷu: BT MRI khớp khuỷu: nghi tổn thương mạch

máu màng xương thứ phát Điều trị kháng sinh,

Ibrafen Sau 1 tuần vẫn sốt, khớp vẫn sưng đau, xét

nghiệm lại máu: BC: 7,7G/l (%N: 10,9%; L: 86,1%);

Hb: 86G/L; TC; 419 G/L, LDH: 566; tủy đồ chẩn đoán

bạch cầu cấp thể L1

Bệnh án số 3: Bệnh nhân Ng T Kh nam, 5 tuổi,

MSBA 11175188 Vào viện ngày 13/8/2011 Bệnh 6

tháng, đau xương khớp, chẩn đoán đau xương phát

triển 7 ngày trước khi vào viện trẻ sốt, đau khớp háng

phải Khám vào viện: Sốt 390C, da xanh, đau nhức

khớp háng phải, và hạn chế vận động Xét nghiệm:

CTM: Hb: 88g/dl; BC: 7,68 G/L (N%: 22,9%; L: 74,1%),

TC: 201 G/L, CRP: 109,2 mg/dl Siêu âm khớp, chụp X

quang khớp bt Chẩn đoán: viêm khớp háng nhiễm

khuẩn Điều trị: kháng sinh, Ibrafen Sau 5 ngày vẫn

sốt, đau nhức xương khớp tăng lên, tủy đồ kết luận

bạch cầu cấp L2

BÀN LUẬN

Năm 1930, Seward công bố trường hợp đầu tiên

về bệnh bạch cầu cấp được chẩn đoán trước đó là

viêm khớp thiếu niên Theo các tác giả tỷ lệ này ở trẻ

em là 12% - 65%, người lớn 4-13% [2] Bệnh nhân

thường biểu hiện sưng đau 1 khớp hoặc nhiều khớp,

ở các khớp lớn (khớp gối) nhưng đôi khi ở khớp nhỏ

Tổn thương khớp giống bệnh cảnh viêm khớp thiếu

niên, đặc biệt khi bệnh diễn biến > 4 – 6 tuần như 3

bệnh nhân của chúng tôi: đều có tổn thương khớp > 4

tuần Tổn thương khớp có thể trước những bất

thường về huyết học vài tháng [2], tủy đồ bình thường

càng ủng hộ chẩn đoán VKTN Điều trị corticoid sẽ cải

thiện tạm thời các triệu chứng lâm sàng, nhưng càng

gây khó phát hiện các bệnh lý ác tính Điều này được

chia sẻ rõ ở bệnh án số 1 X quang xương khớp cũng

cho những dấu hiệu gợi ý chẩn đoán sớm [3] Bệnh

nhân số 2 có tổn thương khớp khuỷu là một khớp ít gặp trong VKTN, chụp MRI đã gợi ý tổn thương thứ phát từ đó sớm tìm ra căn nguyên Phân tích kỹ các triệu chứng lâm sàng: tính chất đau trong VKTN tương xứng với mức độ viêm, đau trong ung thư thường đau nhiều về đêm, mức độ nghiêm trọng không tương xứng với tổn thương khớp Sự phân ly của các chỉ số viêm (CRP, máu lắng, số lượng bạch cầu, tiểu cầu) [4,5] Viêm khớp thiếu niên thể ít khớp số lượng bạch cầu, máu lắng chỉ tăng nhẹ hoặc bình thường, nhưng trong bệnh BCC máu lắng thường tăng rất mạnh không tương xứng với lâm sàng Số lượng bạch cầu thấp hoặc tăng cao quá mức, tỷ lệ bạch cầu trung tính giảm, tăng tỷ lệ các bạch cầu lympho, thiếu máu và tăng LDH là những cảnh báo về khả năng mắc bệnh BCC [4,5] Điều này thể hiện rõ trong bệnh án số 2, số

3

KẾT LUẬN

VKTPTN là bệnh lý gây tổn thương xương khớp rất

có liên quan với các bệnh lý ác tính nên cần chú ý để loại trừ (hay gặp là BCC) tránh chẩn đoán nhầm với viêm khớp thiếu niên

SUMMARY

Juvenile idiopathic arthritis - a joint damaged pathology, is associated with the malignant disease (especially acute lymphoblastic leukemia) All patients who present with arthritis should have thorough investigations otherwise early diagnosis may be missed This study describes three patients which presented with arthritis but later on they were diagnosed to be suffering from leukemia

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tsai MJ, Yan DC, Chiang BL, et al, (1995),

“Childhood leukemia mimicking juvenile rheumatoid

arthritis”, Zhonghua Min Guo Xiao Er Ke Yi Xue Hui Za

Zhi, 36(4): 274-8

2 Mirian S Tamashiro,I Nádia Emi Aikawa, et al (2011), “Discrimination of acute lymphoblastic leukemia from systemic-onset juvenile idiopathic arthritis at disease

onset”, Clinics (Sao Paulo; 66(10): 1665–1669

3 Farhad Tafaghodi, Yahya Aghighi Hadi Rokni Yazdi, et al, (2009), “Predictive plain X - ray findings in distinguishing early stage acute lymphoblastic leukemia from juvenile idiopathic arthritis”, Clin Rheumatol; 28: 1253- 1258

4 Ram Kumar Marwaha, Ketan Prasad Kulkarni, et

al, (2010), “Acute lymphoblastic leukemia masquerading

as juvenile rheumatoid arthritis: diagnostic pitfall and association with survival”, Ann Hematol 89: 249-254

5 Mariya I Spasova, Angelina A Stoyanova, Ivan N

et al, (2009), “Childhood acute lymphoblastic leukemia presenting with osteoarticular syndrome- characteristics and prognosis”, Folia Medica; 51 (1), pp 50 -55

Ngày đăng: 20/08/2015, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w