là giun đũa của động vật, người thường nhiễm ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis và giun đũa mèo Toxocara cati.. Kết quả: tỷ lệ biết chó mèo có giun thấp 35% và không khác biệt giữa
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (878) - SỐ 8/2013 113
ĐẶC ĐIỂM KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH NUÔI CHÓ, MÈO LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM
NGUYỄN THỊ NGA - Đại học Y Thái Bình
LÊ TRẦN ANH, NGUYỄN KHẮC LỰC
Học viện Quân Y
TÓM TẮT
Toxocara spp là giun đũa của động vật, người
thường nhiễm ấu trùng giun đũa chó (Toxocara canis)
và giun đũa mèo (Toxocara cati) Mục tiêu: xác định
một số đặc điểm kiến thức và thực hành nuôi chó mèo
liên quan đến nhiễm Toxocara spp Phương pháp: 235
bệnh nhân nghi nhiễm Toxocara spp đến khám và
điều trị tại Viện 103 từ 9/2012 – 3/2013 được điều tra
bảng hỏi và xét nghiệm ELISA phát hiện kháng thể
kháng Toxocara Kết quả: tỷ lệ biết chó mèo có giun
thấp (35%) và không khác biệt giữa nhóm nhiễm và
không nhiễm Toxocara spp 77,1% người biết chó mèo
có giun biết Toxocara spp có khả năng gây bệnh ở
người nhưng sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu
chưa có ý nghĩa Nhận thức về đường lây của
Toxocara spp không liên quan với nhiễm Toxocara
spp Tỷ lệ BN nhiễm Toxocara spp trong gia đình có
nuôi chó; mèo hay tiếp xúc với chó, mèo không có sự
khác biệt giữa hai nhóm NC (OR từ 0,84 – 1,51) Nuôi
chó, mèo xích nhốt làm tăng nguy cơ nhiễm Toxocara
spp (OR = 2,35) Tỷ lệ nhiễm Toxocara spp ở nhóm
thực hành vệ sinh của chó, mèo đúng cách và không
đúng cách chưa khác biệt giữa hai nhóm (OR =1,47)
Từ khóa: Toxocara spp., chó, mèo, kiến thức, thực
hành
SUMMARY
Larval stages of Toxocara canis and Toxocara cati,
common intestinal roundworms of dogs and cats,
respectively, frequently infect humans worldwide
Objectives: to determine the knowledge and practice of
dog or cat ownership related to Toxocara infection
Method: 235 patients being suspected of infection at
103 Hospital from September 2012 to March 2013
were questionnaire interviewed their serum samples
were tested for antibodies to Toxocara
excretory-secretory antigens by ELISA Results: The percentage
of knowing dogs and cats having worms was low
(35%) and did not differ between positive and negative
groups 77.1% of the patients knowing that dogs or
cats having nematodes were aware of the ascarids’s
capacity of causing disease to humans but the
difference between the two groups was not
significantly Knowledge of transmission of Toxocara
spp was not associated with the infection No
significant association was observed between
ownership of or contacts with dogs or cats and
Toxocara infection (OR 0.84 - 1.51) Dogs and cats
were locked in chains or cages increased the risk of
Toxocara infection (OR = 2.35) Properly or improperly
hygiene practices for dogs or cats did not affect the
rate of seropositivity (OR = 1.47)
Keywords: Toxocara spp., dogs, cats, knowledge,
practice
ĐẶT VẤN ĐỀ
Toxocara spp là loại giun tròn ký sinh ở người và động vật tuy nhiên người có thể nhiễm và mắc bệnh
do ấu trùng giun, hay gặp nhất là nhiễm Toxocara canis (giun đũa chó) và Toxocara cati (giun đũa mèo)
Nhiễm ấu trùng Toxocara spp có thể không có triệu chứng nhưng cũng có thể tổn thương nhiều cơ quan khác nhau Việt Nam thuộc vùng khí hậu nóng ẩm, trình độ dân trí còn thấp, điều kiện vệ sinh còn hạn chế… là điều kiện thuận lợi để bệnh Toxocara spp phát sinh phát triển Người dân có thói quen nuôi chó, mèo nhưng hiểu biết và thực hành phòng chống bệnh
từ chó mèo sang người còn chưa đầy đủ Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm về kiến thức, thực hành nuôi chó mèo liên quan đến nhiễm Toxocara spp làm cơ sở để xây dựng các nội dung tuyên truyền phòng chống bệnh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: 235 bệnh nhân (BN) đến khám và điều trị tại viện 103, có biểu hiện toàn thân hay tại chỗ (da, tiêu hóa, hô hấp ) nghi do nhiễm
Toxocara sp, đồng ý tham gia nghiên cứu và cung cấp thông tin
- Vật liệu nghiên cứu (NC): bảng hỏi với các câu hỏi đóng, bộ dụng cụ xét nghiệm ELISA, bộ kit chẩn đoán TES-ELISA của Công ty Việt sinh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp NC: mô tả, tiến cứu
- Các kỹ thuật áp dụng trong NC: các bệnh nhân được phỏng vấn theo bảng hỏi, được lấy máu làm kỹ thuật ELISA được thực hiện theo qui trình của nhà sản xuất
- Địa điểm NC: labo xét nghiệm ký sinh trùng, khoa Khám bệnh, khoa điều trị (Truyền nhiễm, Nội Thần kinh) tại viện 103
- Thời gianNC : 9/2012 – 3/2013
- Xử lý số liệu : theo phương pháp thống kê y sinh học bằng phần mềm SPSS 13.0
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1 : Đặc điểm tuổi, giới, trình độ bệnh nhân nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu Chỉ tiêu
Kết quả ELISA
Tổng (n=235) P1-2
Dương tính (n=106) (1)
Âm tính (n=129) (2)
SL (%) SL (%) SL (%)
Nhó
m tuổi
1- 5 0 0,0 8 6,2 8 3,4
>0,05
6 - 15 4 3,8 8 6,2 12 5,1
16 - 40 61 57,
52,
7 129 54,9
41 - 60 36 34,
27,
61 - 74 5 4,7 9 7,0 14 6,0
Trang 2Y HỌC THỰC HÀNH (878) - SỐ 8/2013 114
Tuổi trung bình
(±SD) 37,82± 12,63
34,16±
16,51
35,81±
14,97 >0,05 Giới
Nam 53 50,
48,
8 116 49,4 >0,05
Nữ 53 50,
51,
2 119 50,6
Trình
độ
Đến
trung học
cơ sở
16 15,
22,
>0,05
Trung
học phổ
thông
42 39,
28,
Trên
trung học
phổ
thông
48 45,
48,
8 111 47,2
Phân bố nhóm tuổi, tuổi trung bình, tỷ lệ gặp giữa
các giới hay trình độ văn hóa khác nhau khác biệt
chưa có ý nghĩa giữa nhóm BN nhiễm và không nhiễm
Toxocara spp
Bảng 2 Tỷ lệ biết về chó, mèo có giun đũa
Nhóm
nghiên cứu
Hiểu biết
Kết quả ELISA
Tổng (n=200*) P1-2 Dương tính
(n=96) (1)
Âm tính (n=104) (2)
SL (%) SL (%) SL (%)
Có giun 38 39,6 32 30,8 70 35,0 >
0,05 Không có
giun 58 60,4 72 69,2 130 65,0
>
0,05
*: 200 BN có khả năng trả lời phỏng vấn
Có 35% BN biết chó mèo có giun, tỷ lệ BN biết chó,
mèo có giun đũa giữa 2 nhóm NC khác biệt chưa có ý
nghĩa thống kê
Kết quả NC cho thấy tỷ lệ hiểu biết về giun đũa của
những động vật nuôi rất gần gũi trong nhà (chó, mèo)
tương đối thấp Điều này cho thấy người dân nuôi chó
mèo theo thói quen và ít quan tâm đến những bệnh tật
ở chó mèo, đây là nội dung cần thiết để tuyên truyền
nâng cao hiểu biết của người dân Mặc dù vậy tỷ lệ
nhiễm Toxocara spp ở hai nhóm NC chưa có sự khác
biệt
Bảng 3 Nhận thức của bệnh nhân về khả năng
gây bệnh ở người và đường lây của Toxocara spp
Nhóm
nghiên cứu
Nhận thức
Kết quả ELISA
Tổng (n=70*) P1-2
Dương
tính (n=38) (1)
Âm tính (n=32) (2)
SL (%) SL (%) SL (%)
Có gây bệnh 30 78,9 24 75,0 54 77,1 >0,05
Lây do chơi
với chó, mèo 18 60,0 12 50,0 30 55,6 >0,05
Lây do
không rửa
tay sau tiếp
xúc
với chó mèo
26 86,7 20 83,3 46 85,2 >0,05
*: 70 BN biết chó, mèo có giun
Tỷ lệ biết về khả năng gây bệnh ở người và đường
lây của giun đũa chó, mèo của BN chưa thấy sự khác
biệt giữa 2 nhóm NC
Trong số những BN biết chó mèo có giun, tỷ lệ biết giun đũa chó, mèo có khả năng gây bệnh ở người khá cao (77,1%) nhưng không có sự khác biệt giữa hai nhóm NC Nhận thức về đường lây của Toxocara spp giữa hai nhóm NC cũng khác biệt chưa có ý nghĩa Sự không khác biệt này có thể do lây nhiễm Toxocara
spp không chỉ phụ thuộc vào chơi với chó, mèo hay
không rửa tay sau tiếp xúc với chó, mèo
Bảng 4 Ảnh hưởng của nuôi hay tiếp xúc chó, mèo đến nhiễm Toxocara sp
Nhóm nghiên
cứu Nuôi
chó; mèo
Kết quả ELISA
P1-2 OR (CI95%)
Dương tính (n=106) (1)
Âm tính (n=129) (2)
SL TL (%)
SL TL (%) Nuôi
chó
>0,05
1,51 (0,89-2,54) Không 56 52,8 81 62,8
Nuôi mèo
>0,05
0,84 (0,48-1,48) Không 77 72,6 89 69,0
Nuôi chó hoặc mèo
>0,05
1,36 (0,81-2,27) Không 47 44,3 67 51,9
Tiếp xúc với chó, mèo
>0,05
1,28 (0,74-2,23) Không 70 66,0 92 71,3
Tỷ lệ BN nhiễm Toxocara spp gia đình có nuôi chó; mèo hay tiếp xúc với chó, mèo không có sự khác biệt giữa hai nhóm NC, OR từ 0,84 – 1,51
Mặc dù nhiễm Toxocara spp được cho là hay gặp
ở những người nuôi hay thường xuyên tiếp xúc với chó, mèo [9] nhưng một số NC cho rằng không có sự liên quan rõ ràng NC của Ajayi OO (2000) ở Nigeria cũng không thấy liên quan giữa nuôi chó và nhiễm
Toxocara spp [3] Không thấy tăng tỷ lệ nhiễm
Toxocara spp ở những người làm việc ở bệnh viện thú y, người vệ sinh chuồng trại động vật hay người nuôi mèo, điều này được giải thích là do sự vệ sinh tốt của từng cá nhân [6] Mặt khác lây nhiễm Toxocara spp thường liên quan nhiều tiếp xúc với đất cát nhiễm trứng giun ở ngoại cảnh hơn là nuôi chó mèo [5] Một điều đáng chú ý là nuôi mèo có thể có tác dụng “bảo vệ” chống nhiễm Toxocara spp với OR = 0,84 (mặc
dù p>0,05) Một NC tại Brazil cho thấy tỷ lệ nhiễm
Toxocara spp ở những người có nuôi mèo thấp hơn hẳn so với không nuôi mèo (19,8% so với 32,9%; p = 0,004) Các tác giả cho rằng khi nuôi mèo đã hạn chế tình trạng chó lang thang đi lạc vào nhà do đó hạn chế
ô nhiễm trứng giun T canis mặc dù có thể làm tăng
nguy cơ nhiễm T cati [7] Tuy nhiên nguy cơ nhiễm Toxocara spp từ mèo thấp Loại trừ chó (không phải mèo) tại Iceland những năm 1940 đã thanh toán được nhiễm Toxocara spp Các tác giả cho rằng thói quen giấu phân của mèo, ít xuất hiện cùng với chủ ở những nơi công cộng như công viên… đã hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường và cho người [2] Chính vì những yếu tố như nuôi hay tiếp xúc với chó, mèo không phải
Trang 3Y HỌC THỰC HÀNH (878) - SỐ 8/2013 115
là nguy cơ tăng nhiễm Toxocara spp nên dù nhận
thức về khả năng chó, mèo có giun hay khả năng gây
bệnh, lây nhiễm Toxocara spp của những BN nghiên
cứu còn hạn chế cũng không ảnh hưởng nhiều đến tỷ
lệ nhiễm giữa nhóm nhiễm và nhóm không nhiễm
Toxocara spp Khi môi trường bị ô nhiễm bởi trứng
Toxocara spp thì mọi người trong cộng đồng đều có
nguy cơ nhiễm như nhau [1] Người dân ở khu vực
nhiệt đới thường có thói quen thả rông chó, mèo do đó
chó mèo nhiễm Toxocara spp có thể gây ô nhiễm một
vùng rộng lớn do dó nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng
nhiều [8]
Bảng 5 Ảnh hưởng của thực hành quản lý chó,
mèo
Nhóm
nghiên cứu
Thực hành
Kết quả ELISA
Tổng (n=121*
) P1-2
OR (CI95
%)
Dương
tính
(n=59)
(1)
Âm tính (n=62) (2)
SL (%) SL (%) SL (%)
Xích
nhốt
Có 38 64,
43,
53,
7 <0,
05
2,35 (1,13 – 4,88) Khôn
g 21
35,
56,
46,
3
Vệ
sinh
đúng
cách
**
Có 36 61,
51,
56,
2
>0,
05
1,47 (0,71 – 3,02) Khôn
g 23
39,
48,
43,
8
* 121: tổng số người nuôi chó, mèo
**: vệ sinh đúng cách: vệ sinh ở những chỗ nhất
định rồi dọn Vệ sinh không đúng cách: chó mèo thả
rông, vệ sinh tự do
Tỷ lệ xích nhốt chó mèo bị nhiễm Toxocara spp
cao hơn so với nuôi thả rông Hình thức vệ sinh của
chó, mèo chưa làm thay đổi tỷ lệ nhiễm ở 2 nhóm BN
nghiên cứu
Kết quả NC cho thấy xích nhốt chó, mèo là yếu tố
nguy cơ gây nhiễm Toxocara spp cho chủ nhân của
chó, mèo Tỷ lệ nhiễm ở nhóm có xích nhốt cao hơn
nhóm không xích nhốt có ý nghĩa (p<0,05) với OR =
2,35 Có thể do khi nuôi xích nhốt chủ của chó mèo
phải tiếp xúc, phải chăm sóc, dọn vệ sinh… nhiều hơn;
khi thực hành vệ sinh không chú ý thì những yếu tố
này có thể làm tăng tỷ lệ nhiễm Toxocara spp Tuy
nhiên tiếp xúc trực tiếp với chó mèo chỉ được coi là
yếu tố nguy cơ thứ yếu vì trứng của Toxocara spp cần
phát triển ở ngoại cảnh một thời gian (khoảng 2 – 4
tuần ở điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi) mới đến
giai đoạn lây nhiễm được [4]
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 235 BN nghi ngờ nhiễm Toxocara
spp chúng tôi rút ra một số kết luận sau :
- Tỷ lệ biết chó mèo có giun thấp (35%) và không khác biệt giữa nhóm nhiễm và không nhiễm Toxocara spp
- Tỷ lệ người biết chó mèo có giun nhận thức được
Toxocara spp có khả năng gây bệnh ở người khá cao (77,1%) nhưng sự khác biệt giữa hai nhóm NC chưa
có ý nghĩa Nhận thức về đường lây của Toxocara
spp không liên quan với nhiễm Toxocara spp
- Tỷ lệ BN nhiễm Toxocara spp trong gia đình có nuôi chó; mèo hay tiếp xúc với chó, mèo không có sự khác biệt giữa hai nhóm NC (OR từ 0,84 – 1,51)
- Nuôi chó, mèo xích nhốt làm tăng nguy cơ nhiễm
Toxocara spp T ỷ lệ nhiễm Toxocara spp ở nhóm thực
hành vệ sinh của chó, mèo đúng cách và không đúng cách chưa khác biệt giữa hai nhóm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thị Hồng (2001), Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do giun Toxocara spp ở người Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y – Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 A W Woodruff, D H de Savigny, P M Hendy-Ibbs, Toxocaral and toxoplasmal antibodies in cat breeders and
in Icelanders exposed to cats but not to dogs Br Med J (Clin Res Ed) 1982 January 30; 284(6312): 309–310 PMCID: PMC1495862
3 Ajayi OO, Duhlinska DD, Agwale SM, Njoku M., Frequency of human toxocariasis in Jos, Plateau State, Nigeria, Mem Inst Oswaldo Cruz 2000 Mar-Apr;95(2):147-9
4 CDC, Parasites - Toxocariasis (also known as Roundworm Infection), Epidemiology & Risk Factors,
5 Garcia LS 2001 Tissue Nematodes Diagnostic Medical Parasitology, 4th ed., ASM press, Washington
DC, p 309-312
6 Overgaauw P.A.M (1997), “General introduction Aspect of Toxocara epidemiology, Human toxocarosis”, Critical Reviews in Microbiology; 23: 215-31
7 Rubinsky-Elefant G, da Silva-Nunes M, Malafronte
RS, Muniz PT, Ferreira MU., Human toxocariasis in rural Brazilian Amazonia: seroprevalence, risk factors, and spatial distribution., Am J Trop Med Hyg 2008 Jul;79(1):93-8
8 Santarem VA, Rubinsky-Elefant G, Ferreira MU Soil-transmitted helminthic zoonoses in humans and associated risk factors In: Pascucci S, editor Soil contamination Rijeka: InTech; 2011, p 43-66 [http://www.intechopen.com/articles/show/title/soil- transmitted-helminthic-zoonoses-in-humans-and-associated-risk-factors]
9 Souza RF, Dattoli VC, Mendonỗa LR, Jesus JR, Baqueiro T, Santana Cde C, Santos NM, Barrouin-Melo
SM, Alcantara-Neves NM., [Prevalence and risk factors of human infection by Toxocara canis in Salvador, State of Bahia, Brazil] [Article in Portuguese] Rev Soc Bras Med Trop 2011 Jul-Aug;44(4):516-9