ĐẶC ĐIỂM CHỈ SỐ SCORTEN CỦA BỆNH NHÂN DỊ ỨNG THUỐC CÓ HỘI CHỨNG STEVENS - JOHNSON VÀ LYELL LƯƠNG ĐỨC DŨNG - Tổng cục V, Bộ Công an TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả đặc điểm chỉ số SCORTEN của
Trang 1Y häc thùc hµnh (879) - sè 9/2013 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2004) Hướng dẫn quy trình chăm sóc
người bệnh – Nhà Xuất bản Y học, tập II, 169 – 172
2 Bộ Y tế (2000) Giáo trình Điều dưỡng cơ bản Nhà
Xuất bản Y học
3 Tài liệu hướng dẫn quy trình chống nhiễm khuẩn
Bệnh viện tập I (xuất bản Y học 2003 – Bộ Y tế trang 187
– 192 – 285)
4 Đánh giá ứng dụng tăm bông y tế trong thay băng
vết mổ sạch tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Phụ sản Hà
Nội năm 2009 (trang 190 – kỷ yếu hội nghị khoa học Điều dưỡng Nhi khoa toàn quốc lần thứ VI)
5 Đánh giá thực trạng thay băng tại hai khoa Ngoại – Sản Bệnh viện đa khoa huyện Chương Mỹ năm 2008, (trang 132 – Hội nghị khoa học Điều dưỡng lần II năm 2010)
6 Đánh giá thực trạng và căn nguyên gây nhiễm khuẩn vết mổ tại khoa Ngoại BV Đa khoa tỉnh Nam Định tháng 11 năm 2007 (trang 270 - kỷ yếu đề tài NCKH Điều dưỡng toàn quốc lần thứ III năm 2007
ĐẶC ĐIỂM CHỈ SỐ SCORTEN CỦA BỆNH NHÂN DỊ ỨNG THUỐC CÓ HỘI
CHỨNG STEVENS - JOHNSON VÀ LYELL
LƯƠNG ĐỨC DŨNG - Tổng cục V, Bộ Công an
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm chỉ số SCORTEN của
102 bệnh nhân dị ứng thuốc có hội chứng Stevens -
Johnson và Lyell (SIS và TEN) tại Trung tâm Dị ứng -
Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng
01/2012 đến tháng 6/2013 bằng phương pháp mô tả
hồi cứu kết hợp với tiến cứu Kết quả cho thấy: bệnh
nhân nam (58,8%) gặp nhiều hơn nữ (41,2%), tuổi
trung bình là 46,6 ± 20,2 Chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm
20-39 tuổi (35,3%), sau đó đến nhóm 40-49 tuổi
(32,5%), bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm 25,5%, thấp
nhất là nhóm dưới 19 tuổi chiếm 6,9% Chỉ số
SCORTEN trung bình của các bệnh nhân SIS-TEN là
1,05±1,08 điểm, chủ yếu là từ 0-1 điểm (77,5%), 2
điểm là 14,7%, 3 điểm là 2,9%, 4 điểm là 2,9%, trên 5
điểm chiếm 2% SCORTEN trung bình của nhóm bệnh
nhân SIS (0,85±0,70 điểm) thấp hơn so với nhóm bệnh
nhân TEN (1,71±1,70 điểm) SCORTEN càng tăng thì
CPR, ure, creatinin, GOT, GPT, đường máu, billirubin
toàn phần trong máu càng tăng; albumin máu,
cholesterol máu và HCO3- càng giảm Mức độ rối loạn
chức năng gan, thận của bệnh nhân dị ứng thuốc có
hội chứng SIS-TEN được biểu hiện rõ nhất khi chỉ số
SCORTEN trên 3 điểm
Từ khoá: Dị ứng thuốc, Hội chứng Stevens -
Johnson và Lyell, SCORTEN
SUMMARY
Objectives: To characterize the SCORTEN index
obtained from 102 allergy patients having Stevens -
Johnson and Lyell (SIS&TEN) syndrome, during the
period from January 2012 to June 2013, at the Center
of Allergology and clinical immunology, Bach Mai
hospital, study describes the process of retrospective
in association with randomized Our results show that
the ratio of male patients (58.8%) is higher than that of
female patients (41.2%), where the average age of the
patients is (46.6 ± 20.2) years old The patients at an
age of 20 to 39 years account for highest ratio (35,3%),
and the second highest ratio (32.5%) corresponds to
the patients at their age ranging from 40 to 49 years,
while the patients above 60 years old have a ratio of
25.5%, where the lowest ratio (6.9%) belongs to the
patients under 19 years old The average value of
SCORTEN index calculated for SIS-TEN patients is
(1.05±1.08) points, more specifically from 0-1 points
(77.5%), 2 points (14.7%), 3 points (2, 9%), 4 points (2.9%) and above 5 points (2%) The average SCORTEN index of SIS-allergy patients (0.85 ± 0.70 points) is lower than that of TEN-allergy patients (1.71±1.70 points) When the SCORTEN index increases, the CPR, urea, creatinine, GOT, GPT, glucose and full blood bilirubin also increase, albeit blood albumin, blood cholesterol and HCO3- decrease The dysfunction level of liver and kidney experienced
by SIS&TEN allergy patients is shown most obviously when the value of SCORTEN index is around 3 points
Keywords: Medicine Allergy, Stevens - Johnson
and Lyell syndrome, SCORTEN index
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, tỷ lệ dị ứng thuốc đang
có xu hướng gia tăng rõ rệt ở nhiều nơi trên thế giới
do tình trạng ô nhiễm môi trường sống, việc sử dụng thuốc bừa bãi và sự ra đời của nhiều nhóm thuốc mới
Dị ứng thuốc có thể chỉ biểu hiện nhẹ và thoáng qua, nhưng cũng có thể rất nặng, khiến người bệnh phải nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện, thay đổi việc dùng thuốc hoặc thậm chí bị đe dọa tính mạng Có nhiều thể dị ứng thuốc với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau, mức độ bệnh từ nhẹ đến nặng Trong đó, hội chứng Stevens-Johnson (Stevens-Johnson Syndrome-SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc hay hội chứng Lyell (Toxic Epidermal Necrolysis-TEN) được coi là những thể dị ứng thuốc có bọng nước với biểu hiện lâm sàng nặng nề, nhiều biến chứng, tỉ lệ mắc ngày càng gia tăng, đặc biệt tỉ lệ tử vong cao đang là mối quan tâm hiện nay của các thầy thuốc lâm sàng [1,3,4,5,6,7,8,9]
Để đánh giá mức độ nặng của các bệnh nhân có hội chứng SJS và TEN trên lâm sàng người ta sử dụng chỉ số SCORTEN (Severity scores for TEN) của hai tác giả Hanley và Mc Neil được áp dụng từ năm
1982 Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Đặc điểm chỉ số SCORTEN của bệnh nhân dị ứng thuốc có hội chứng Stevens-Johnson và Lyell” nhằm hai mục tiêu:
1 Đặc điểm chỉ số SCORTEN của bệnh nhân dị ứng thuốc có hội chứng Stevens - Johnson và Lyell
Trang 2Y häc thùc hµnh (879) - sè 9/2013 123
2 Mối liên quan giữa chỉ số SCORTEN với một số
yếu tố tiên lượng bệnh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán xác định
hội chứng SJS và TEN do dị ứng thuốc, điều trị tại
Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện
Bạch Mai
2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả hồi
cứu kết hợp với tiến cứu
* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2012 đến
tháng 6/2013
* Phương pháp lựa chọn ĐTNC: Các bệnh nhân
được lựa chọn theo trình tự thời gian, không phân biệt
tuổi tác, giới tính, mức độ nặng nhẹ, giai đoạn của
bệnh
* Chỉ số SCORTEN: được xác định theo bảng điểm
sau
Yếu tố nguy cơ Điểm 0 Điểm 1
Tuổi < 40 tuổi ≥ 40 tuổi
Mắc bệnh ác tính Không Có
Tần số tim < 120 lần/phút ≥ 120 lần/phút
Diện tích da bị loét
trợt < 10% ≥ 10%
Ure máu ≤ 10 mmol/l > 10 mmol/l
Đường máu ≤ 14 mmol/l > 14 mmol/l
Bicarbonate máu ≥ 20 mmol/l < 20 mmol/l
Tổng điểm
Bệnh nhân có điểm SCORTEN càng cao thì mức
độ bệnh càng nặng Nguy cơ tử vong của bệnh nhân
SJS và TEN theo SCORTEN: từ 0-1 điểm, tỷ lệ tử
vong 3,2%, 2 điểm là 12,1%, 3 điểm là 35,3%, 4 điểm
là 58,3%, từ 5 điểm trở lên là trên 90% [9,10]
Ngoài ra, người ta còn tính được xác suất gây tử
vong (p) của các bệnh nhân SJS và TEN theo công
thức tính xác suất Hosmer–Lemeshow:
p (Probability of death) =
e(-4.448 + 1.237*SCORTEN)/(1 + e(-4.448 + 1.237*SCORTEN))
Trong đó: hằng số e là cơ số của logarit tự nhiên,
có giá trị là 2,71828
KẾT QUẢ
Bảng 1 Phân bố bệnh nhân SJS-TEN theo tuổi,
giới
Nhóm
tuổi
n % n % n %
19 tuổi 3 5,0 4 9,5 7 6,9
20 – 39
tuổi 19 31,7 17 40,5 36 35,3
40 – 59
tuổi 18 30,0 15 35,7 33 32,4
60 tuổi 20 33,3 6 14,3 26 25,5
Tổng 60 100,0 42 100,0 102 100,0
SD 46,6 ± 20,2
Nhận xét: Không có sự khác biệt về giới giữa các nhóm tuổi với p>0,05, nam giới chiếm tỷ lệ 58,8%, nữ chiếm 41,2%, tỷ lệ nam/nữ = 1,4/1
Bảng 2 Chỉ số SCORTEN của bệnh nhân SJS-TEN
Điểm SCORTEN
SIS TEN Tổng
n % n % n %
0 - 1 66 84,6 13 54,2 79 77,5
2 11 14,1 4 16,7 15 14,7
3 1 1,3 2 8,3 3 2,9
4 0 0,0 3 12,5 3 2,9
≥ 5 0 0,0 2 8,3 2 2,0 Tổng 78 100,0 24 100,0 102 100,0
p < 0,001
SD 0,85 ± 0,70 1,71 ± 1,70 1,05 ± 1,08
Nhận xét: Chỉ số SCORTEN của nhóm bệnh nhân SIS thấp hơn nhóm bệnh nhân TEN với p<0,001 Chỉ
số SCORTEN trung bình của đối tượng nghiên cứu là 1,05±1,08 điểm, cao nhất là 5 điểm, thấp nhất là 0 điểm
Bảng 3 Liên quan chỉ số SCORTEN với một số chỉ
số sinh hoá máu
Điểm SCORTEN CRP Ure Creatinin GOT GPT
0 - 1 50,0±
57,1
6,5±
4,5
79,9±
70,6
62,1±
101,1
68,1± 75,0
2 116,1±
76,5
11,5±
6,6
95,8±
53,3
47,9±
51,6
59,0± 45,2
3 35,0±
21,1
10,8±
5,9
87,7±
29,1
40,0±
20,6
49,7± 30,9
4 240,3±
85,3
42,8±
16,7
465,3±
351,9
33,0±
11,3
24,0± 15,6
≥ 5 202,0±
21,2
64,1±
63,5
332,0±
261,6
69,5±
14,8
66,0± 39,6 Tổng 68,4±
74,1
9,6±
13,1
99,5±
114,3
58,8±
91,5
65,2± 68,8
Nhận xét: Chỉ số SCORTEN càng tăng thì các chỉ
số sinh hoá máu: CPR, ure, creatinin, GOT và GPT càng tăng
Bảng 4 Liên quan chỉ số SCORTEN với một số chỉ
số sinh hoá máu
Điểm SCORT
EN
Đường máu
Billirubin toàn phần
Albumi
n
Cholester
on HCO3-
0 - 1 6,6± 2,2 11,8±
8,7
34,4±6 ,3 4,6± 1,2
25,4±3 ,8
2 7,8± 2,9 46,1±61
,1
29,9±5 ,1 4,3± 1,7
23,0±4 ,7
3 8,7±3,7 8,6±1,1 32,6±5
,9 4,7±0,8
19,5±2 ,4
4 15,3±16
,6
11,5±5,
8
12,8±1 ,5 2,4±1,1
16,9±7 ,5
≥ 5 20,1±7,
2
17,3±
1,6
14,1±1 ,0 2,8± 1,4
15,1±0 ,0 Tổng 7,4± 4,2 15,7±23
,0
32,9±6 ,8 4,5± 1,3
23,9±4 ,8
Nhận xét: Chỉ số SCORTEN càng tăng thì các chỉ
số sinh hoá máu: đường máu, billirubin toàn phần trong máu tăng, các chỉ số albumin máu, cholesterol máu và HCO3- càng giảm
Trang 3Y häc thùc hµnh (879) - sè 9/2013 124
Bảng 5 Mức biến đổi của chỉ số SCORTEN qua
một số yếu tố tiên lượng
Điểm
SCORTE
N
Tuổi
trung
bình
Số ngày điều trị
Đường máu Ure máu HCO3-
< 3 điểm 44,6±19,
1
13,1±5,
4 6,7±2,3 7,3±5,2
24,9±4,
0
≥ 3 điểm 69,9±18,
1
16,7±6,
4
14,1±10,
6
36,1±34,
4
19,2±2,
9
Nhận xét: Bệnh nhân có chỉ số SCORTEN từ 3
điểm trở lên, chủ yếu xuất hiện ở người cao tuổi, có
đường máu, ure máu tăng cao rõ rệt, HCO3- giảm Sự
khác biệt có ý nghĩa với p < 0,01
BÀN LUẬN
1 Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu ở bảng 1 cho thấy, trong số
102 bệnh nhân dị ứng thuốc có hội chứng Stevens -
Johnson và Lyell, nam giới chiếm tỷ lệ 58,8%, nữ
chiếm 41,2%, tỷ lệ nam/nữ = 1,4/1 Tuổi trung bình của
bệnh nhân nghiên cứu là 46,6 ± 20,2 tuổi Cao nhất là
90 tuổi, thấp nhất là 10 tuổi Nghiên cứu của Phạm Thị
Hoàng Bích Dịu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân dị ứng thuốc
có bọng nước gặp ở nữ giới là 59,4% cao hơn ở nam
giới là 40,6% [1]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chia các bệnh
nhân nghiên cứu thành 4 nhóm tuổi, chiếm tỷ lệ cao
nhất là nhóm 20-39 tuổi (35,3%), sau đó đến nhóm
40-59 tuổi (32,5%), các bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm
25,5%, thấp nhất là nhóm từ 19 tuổi trở xuống chiếm
6,9% Không có sự khác biệt về giới giữa các nhóm
tuổi với p > 0,05
2 Đặc điểm chỉ số SCORTEN ở bệnh nhân dị
ứng có hội chứng Stevens - Johnson và Lyell
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, chỉ số SCORTEN trung
bình của các bệnh nhân SIS-TEN là 1,05±1,08 điểm,
cao nhất là 5 điểm, thấp nhất là 0 điểm, trong đó chủ
yếu là từ 0-1 điểm chiếm 77,5%, 2 điểm là 14,7%, trên
5 điểm chiếm 2% Như vậy, phần lớn các bệnh nhân
trong nghiên cứu của chúng tôi ở mức độ nhẹ, tỷ lệ
bệnh nhân có SCORTEN trên 3 điểm chiếm tỷ lệ
7,8% Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả
nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài khác [9,10]
Nghiên cứu cũng cho thấy, chỉ số SCORTEN trung
bình của nhóm bệnh nhân SIS là 0,85 ± 0,70 điểm
thấp hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân TEN là 1,71 ±
1,70 điểm Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p<0,001
3 Liên quan chỉ số SCORTEN với một số chỉ số
sinh hoá máu
Kết quả nghiên cứu tại bảng 3 và bảng 4 cho thấy
chỉ số SCORTEN càng tăng thì các chỉ số CPR, ure,
creatinin, GOT, GPT, đường máu, billirubin toàn phần
trong máu càng tăng, khác biệt có ý nghĩa với p <0,05
SCORTEN biểu hiện rõ mức biến đổi các chỉ số chức
năng gan, thận của bệnh nhân dị ứng thuốc có hội
chứng Stevens – Johnson và Lell Ở những bệnh nhân
có chỉ số SCORTEN trên 3 điểm thì mức rối loạn chức
năng gan, thận có biểu hiện rõ rệt hơn
Kết quả tại bảng 4, chỉ số SCORTEN càng tăng thì
các chỉ số albumin máu, cholesterol máu và HCO3-
càng giảm (p<0,05) Những bệnh nhân có chỉ số SCORTEN trên 3 điểm biểu hiện rối loạn về đường máu và HCO3- càng rõ
Một số nghiên cứu khác trên thế giới về vấn đề này cho rằng, những bệnh nhân có chỉ số SCORTEN trên
3 điểm thì mức độ ảnh hưởng đến cơ quan nội tạng rất rõ rệt, phần lớn xuất hiện trên các bệnh nhân Lyell Nghiên cứu của chúng tôi có 8 bệnh nhân SCORTEN trên 3 điểm thì có đến 7 bệnh nhân có hội chứng Lyell Kết quả nghiên cứu ở bảng 5 cho thấy, những bệnh nhân SCORTEN trên 3 điểm có tuổi trung bình là 69,9±18,1, cao hơn nhiều so với các bệnh nhân SCORTEN dưới 3 điểm (44,6±19,1) Số ngày nằm viện trung bình của bệnh nhân SCORTEN trên 3 điểm
là 16,7±6,4 ngày, trong khi đó bệnh nhân SCORTEN dưới 3 điểm là 13,1±5,4 ngày
Các bệnh nhân những bệnh nhân SCORTEN dưới
3 điểm có chỉ số đường huyết trung bình là 6,7±2,3 mmol/l, còn nhóm SCORTEN trên 3 điểm có đường huyết là 14,1±10,6 mmol/l Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Tổn thương thận được đánh giá qua chỉ số ure máu, bệnh nhân SCORTEN trên 3 điểm có chỉ số ure máu là 36,1±34,4 mmol/l, trong khi đó nhóm SCORTEN dưới 3 điểm có ure tăng nhẹ (7,3±5,2 mmol/l)
Khí máu là một xét nghiệm có giá trị, cung cấp nhiều thông tin cho các bác sỹ, đặc biệt là các bác sỹ làm việc tại các khoa hồi sức cấp cứu về tình trạng toan kiềm, tình trạng thông khí và tình trạng oxy hóa máu của bệnh nhân Nếu ta làm thêm khí máu tĩnh mạch trung tâm (lấy qua catheter tĩnh mạch trung tâm), khí máu từ mao mạch phổi (lấy qua catheter Swan-Ganz) ta có thể có thêm được các thông tin về khả năng sử dụng oxy của tổ chức và tình trạng shunt của mạch máu hệ thống và mạch máu phổi Khi HCO3
-< 22 được gọi là toan chuyển hoá và khi HCO3- > 28 được gọi là kiềm chuyển hoá
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, ở những bệnh nhân có SCORTEN trên 3 điểm có chỉ số HCO3- trung bình là 19,2±2,9 Như vậy, phần lớn các bệnh nhân có SCORTEN trên 3 điểm bị nhiễm toan chuyển hoá
KẾT LUẬN
- Chỉ số SCORTEN trung bình của các bệnh nhân SIS-TEN là 1,05±1,08 điểm Chủ yếu là từ 0-1 điểm (77,5%), 2 điểm là 14,7%, trên 5 điểm chiếm 2%
- SCORTEN trung bình của nhóm bệnh nhân SIS (0,85 ± 0,70 điểm) thấp hơn so với nhóm bệnh nhân TEN (1,71 ± 1,70 điểm) SCORTEN càng tăng thì CPR, ure, creatinin, GOT, GPT, đường máu, billirubin toàn phần trong máu càng tăng; albumin máu, cholesterol máu và HCO3- càng giảm
- Mức độ rối loạn chức năng gan, thận của bệnh nhân dị ứng thuốc có hội chứng SIS-TEN được biểu hiện rõ nhất khi chỉ số SCORTEN trên 3 điểm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Thị Hoàng Bích Dịu (2005), “Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của một số thể dị ứng thuốc có bọng nước tại khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện
Bạch Mai (2004-2005)”, Luận văn Thạc sỹ Y học chuyên
ngành Dị ứng – MDLS, trường Đại học Y Hà Nội
Trang 4Y học thực hành (879) - số 9/2013 125
2 Nguyễn Văn Đoàn (1996), “Gúp phần nghiờn cứu dị
ứng thuốc tại khoa Dị ứng- MDLS Bệnh viện Bạch Mai
(1991-1995)”, Luận ỏn Tiến sỹ khoa học y dược, trường
Đại học Y Hà Nội
3 Lờ Văn Khang (1994), “Gúp phần nghiờn cứu đặc
điểm lõm sàng và chẩn đoỏn đặc hiệu dị ứng thuốc do
khỏng sinh tại Khoa Dị ứng- MDLS, Bệnh viện Bạch Mai
(1981- 1990)”, Luận ỏn Tiến sỹ khoa học Y Dược, Hà
Nội:59- 94
4 Hoàng Thị Lõm (2000), “Tỡnh hỡnh dị ứng thuốc tại
khoa Dị ứng- MDLS, Bệnh viện Bạch Mai trong ba năm
(1997-1999)”, Luận văn tốt nghiệp Bỏc sỹ nội trỳ bệnh
viện khúa XXI (1997-2000) chuyờn ngành Dị ứng- MDLS,
trường Đại học Y Hà Nội: 32-71
5 Hoàng Thị Tuyết (2002), “Nhận xột đặc điểm lõm
sàng, xột nghiệm và điều trị Hội chứng Stevens - Johnson
tại khoa Dị ứng – MDLS, Bệnh viện Bạch Mai
(2000-2002)”, Luận văn Thạc sỹ Y học chuyờn ngành Dị ứng -
MDLS, Trường Đại học Y Hà Nội, 26-58
6 Dunant A A, Mockenhaupt Maja, Naldi Luigi,
Osvaldo Correia, Werner Schroder, Roujeau J.C (2002),
“Correlations Between Clinical Patterns and Causes of
Erythema Multiforme Majus, Stevens-Johnson Syndrome,
and Toxic Epidermal Necrolysis”, Arch Dermatol
2002;138:1019-1024
7 Fagot Jean-Paul, Mockenhaupta Maja, Bouwes-Bavinckb Jan-Nico (2001), “Nevirapine and the risk of Stevens-Johnson syndrome or toxic epidermal
necrolysis”, AIDS 2001, 15:1843-1848
8 Gueudry Julie, Roujeau J.C, Michel Binaghi, Gisốle Soubrane, Marc Muraine (2009), “Risk Factors for the Development of Ocular Complications of Stevens-Johnson Syndrome and Toxic Epidermal Necrolysis”,
Arch Dermatol 2009;145(2):157-162
9 Mirjana Ziemer, Christiane L Wiesend, Robert Vetter, Johannes Weiss, Sabine Blaschke, Johannes Norgauer (2007), “Cutaneous Adverse Reactions to Valdecoxib Distinct From Stevens-Johnson Syndrome
and Toxic Epidermal Necrolysis”, Arch Dermatol 2007;143:711-716
10 Sarah Guegan, Sylvie B.G, Ewa P G, Roujeau J.C, Jean Revuz (2006), “Performance of the SCORTEN During the First Five Days of Hospitalization to Predict the Prognosis of Epidermal Necrolysis”, Journal of Investigative Dermatology 126, 272–276
SO SáNH HIệU QUả ĐIềU TRị LOéT HàNH Tá TRàNG Có NHIễM HELICOBACTER PYLORI
BằNG PHáC Đồ HPmax Và PHáC Đồ OAC
Phạm Bá Tuyến, Phạm Thị Hoa
Bệnh viện Y học Cổ truyền, Bộ Công An
Vũ Văn Khiên - Bệnh viện TƯQĐ 108
Đỗ Thị Phương - Trường Đại học Y Hà Nội
Tóm tắt
Nghiên cứu trên 85 bệnh nhân loét hành tá tràng có
H.pylori (+) được chia thành 2 nhóm: Nhóm 1 (n = 42)
dùng phác đồ Hpmax và nhóm 2 (n = 43) dùng phác
đồ OAC
Kết quả nghiên cứu cho biết: Hiệu quả lâm sàng
giữa 2 nhóm: *Số bệnh nhân có thời gian cắt cơn đau
trước 7 ngày ở nhóm 1(33,3%) tăng cao hơn so với số
bệnh nhân ở nhóm 2 (23,3%) *Số bệnh nhân có thời
gian hết ợ hơi, hết ợ chua trước 7 ngày ở nhóm 1
(26,2%) tăng cao hơn chưa có ý nghĩa (p >0,05) so với
số bệnh nhân ở nhóm 2 (13,9%) *Tỷ lệ diệt H.pylori
nhóm 1 đạt: 25/42 (59,5), thấp hơn so với nhóm 2
(69,8%) (p>0,05) Tỷ lệ liền sẹo hoàn toàn nhóm dùng
Hpmax đạt: 68,2%, tương đương với tỷ lệ liền sẹo hoàn
toàn nhóm bệnh nhân dùng OAC (71,1%) (p > 0,05)
Tác dụng phụ: Không có tác dụng phụ nghiêm trọng
giữa 2 nhóm dùng Hpmax và OAC Không có sự khác
biệt có ý nghĩa (p >0,05) về tác dụng phụ giữa nhóm
dùng Hpmax với nhóm dùng OAC ở bệnh nhân loét
HTT có H.pylori (+)
Từ khóa: Loét hành tá tràng, Helicobacter pylori,
HPmax, OAC
Summary
Research on 85 patients having duodenal ulcer
infected with H.pylori (+) shall be divided into 2 groups:
Group 1 (n = 42) applied Hpmax scheme and group 2 (n = 43) applied OAC scheme
Result: Clinical effect between 2 groups: *Number
of patients with time of pain relief less than 7 days in group 1 (33.3%), in group 2 (23.3%), No significant difference (p>0.05) *Number of patients with time for eructation, oxyrygmia recovery less than 7 days in group 1 (26.2%), in group 2 (13.9%).(p>0,05)
*H.pylori disability ratio was 25/42 (59.5) in group 1, and in group 2 (69.8%) Complete cicatrization in group applied Hpmax was 68.2%, equivalent to complete cicatrization in group applied OAC (71.1%) (p>0.05) Side effect: No serious side effect between two groups No significant difference (p>0.05) in side effect between two groups applied Hpmax and OAC for patients having duodenal ulcer infected with H.pylori (+)
Keywords: Duodenal ulcer, Helicobacter pylori,
HPmax, OAC
Đặt vấn đề
Loét hành tá tràng (LHTT) là một bệnh khá phổ biến trên Thế giới và ở Việt Nam[1] Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh là do mất cân bằng giữa yếu tố gây
loét( acid-pepsin, vi khuẩn Helicobacter pylori ) và
yếu tố bảo vệ( chất nhày, hàng rào niêm mạc ) Để
điều trị loét hành tá tràng cần dựa trên cơ sở sinh lý