1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÔNG TIN bất cân XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại ở VIỆT NAM

63 1,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 429 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1.1.1 Khái niệm và bản chất của tình trạng thông tin bất cân xứng 5 1.1.2

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

Khoa Ngân hàng

Đề tài Nghiên cứu khoa học:

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện: NGÔ THỊ HẢI AN

Giảng viên hướng dân: TS ĐỖ THỊ KIM HẢO

Hà Nội, tháng 3 - 2012

Trang 3

Danh mục bảng, biểu đồ và đồ thị

Đồ thị 1.1 Thông tin không đối xứng về phía người mua làm thị trường

cung ứng dưới mức hiệu quả

10

Đồ thị 1.2 Thông tin không đối xứng về phía người bán làm thị trường

cung ứng trên mức hiệu quả

11

Đồ thị 1.3 Ảnh hưởng của lãi suất tới cung và cầu về đầu tư 21

Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM 2001 – 2011 26

Bảng 2.1 Chênh lệch về lãi suất ngân hàng của một số quốc gia trên thế

giới 2008 - 2010

28

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ nợ xấu trong một số NHTM lớn năm 2010 và 2011 40

MỤC LỤC

Trang 4

Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân

xứng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại

1.1.1 Khái niệm và bản chất của tình trạng thông tin bất cân xứng 5 1.1.2 Tính phi hiệu quả của tình trạng thông tin bất cân xứng 6

1.2 Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM 9 1.2.1 Khái quát về hoạt động tín dụng của các NHTM 9 1.2.2 Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM 12 1.2.3 Hậu quả của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng 15 1.3 Các biện pháp hiện có nhằm hạn chế bất cân xứng xứng thông

tin trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng hiện nay

Chương II Thực trạng bất cân xứng thông tin trong hoạt động

tín dụng của Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam

2.1 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam hiện

nay

20

2.2 Thực trạng thông tin bất cân xứng và ảnh hưởng của nó đến

hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam

Chương III Giải pháp xử lí thông tin bất cân xứng

3.1 Định hướng trong việc xử lý tình trạng thông tin bất cân xứng

trong hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam

44

3.2 Giải pháp xử lý thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín 44

Trang 5

dụng của NHTM Việt Nam

1.1.2.1Lựa chọn sai lệch trong hoạt động tín dụng của NHTM

1.1.2.2Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của NHTM

1.2 Các biện pháp hiện có nhằm hạn chế bất cân xứng xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng hiện nay

1.2.1 Thu thập thông tin

1.2.2 Phân tích tín dụng

Trang 6

1.2.3 Bảo đảm tiền vay

1.2.4 Giám sát tín dụng

Chương II Thực trạng bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam

2.1 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam hiện nay

2.2 Thực trạng thông tin bất cân xứng và ảnh hưởng của nó đến hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam

2.2.1 Tình hình thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTM

Việt Nam

2.2.2 Tình hình nợ xấu của các NHTM Việt Nam hiện nay

2.3 Đánh giá thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của NHTM

2.3.1 Những mặt được

2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân

Chương III Giải pháp xử lí thông tin bất cân xứng

3.1 Định hướng trong việc xử lý tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam

3.2 Giải pháp xử lý thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam

Trang 7

3.2.2.4Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá khách hàng

do mới chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng haicấp, công chúng chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng, nênhoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất sơ khai, chủyếu là cấp tín dụng, còn các loại hình dịch vụ ngân hàng khác, nhất là các dịch vụngân hàng bán lẻ hầu như chưa phát triển

Là nghiệp vụ kinh doanh chính, hoạt động tín dụng ngân hàng đem lại hơn80% tổng doanh thu cho các NHTM Việt Nam Tuy vậy, hoạt động này hiện nay

Trang 8

còn nhiều vấn đề cần được xem xét giải quyết, một trong số đó là tỷ lệ nợ xấutương đối cao.

Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, nguyên nhân cơbản gây ra tình trạng nợ xấu là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phíakhách hàng của mình mặc dù các NHTM đã có rất nhiều nỗ lực trong công tácthẩm định Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu quả nên cácngân hàng đã để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tincủa họ trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự án có rủi ro cao Trong hoạtđộng tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự án, về mục đích

sử dụng khoản tín dụng được cấp hơn khách hàng

Vấn đề thông tin bất cân xứng là nguyên nhân gây ra những trục trặc tronghoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam Do đó, để đảm bảo an toàntrong hoạt động của mình, bản thân các tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bấtcân xứng để hạn chế lựa chọn sai lệch và rủi ro đạo đức nhằm cho vay đúng ngườiđúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắnnhằm đảm bảo việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra

Nhận thức được sự cần thiết trong vấn đề xử lí thông tin bất cân xứng, cùngvới những kiến thức đã được trang bị ở HVNH nhóm tác giả mạnh dạn lựa chọn

vấn đề “Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt

động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên

cứu khoa học

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Những vẫn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng trong hoạt độngkinh doanh của NHTM

- Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTMViệt Nam

Trang 9

- Đề xuất giải pháp xử lý tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt độngtín dụng cua các NHTM Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu hiện tượng thông tin bất cân xứng tronghoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam giai đoạn hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu

- Trước hết tác giả đề tài vận dụng các phương pháp tư duy duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử để xem xét vấn đề nghiên cứu một cách kháchquan, logic

- Tác giả đề tài cũng sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh.Đặc biệt tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích đặc thù của kinh tếhọc là phân tích thực chứng và phân tích chuẩn tắc

4 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài được bố cục làm 3 chương:

Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng tronghoạt động tín dụng của NHTM

Chương II Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụngcủa các NHTM Việt Nam

Chương III Giải pháp xử lý tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạtđộng tín dụng của các NHTM Việt Nam

Trang 10

Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại

1.1 Tổng quan về sự bất cân xứng thông tin

1.1.1 Khái niệm và bản chất của tình trạng thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuấthiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tếhọc hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này làGeogre Akerlof, Michael Spence, Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinhtế

Thông tin bất cân xứng là tình trạng các tác nhân trên thị trường rơi vào tình trạng thiếu thông tin

Trang 11

- Trước hết, thông tin mang tính chất của một hàng hóa công cộng tức là khi

nó đã được cung ứng thì thông tin mang đầy đủ hai thuộc tính của hàng hóacông cộng: thuộc tính phi loại trừ và thuộc tính phi cạnh tranh Có nghĩa làngười cung ứng thông tin sẽ không thu được tiền của người sử dụng thôngtin, những người sử dụng thông tin không phải cạnh tranh trong quá tình sửdụng thông tin vì thế các cá nhân trong xã hội ngại cung ứng thông tin nênthị trường rơi vào tình trạng thiếu thông tin

- Thứ hai là thông tin không đối xứng là tình trạng trên thị trường khi mộtbên nào đó tham gia giao dịch không có thông tin về sản phẩm bằng bênkia Cụ thể là có thể bên người mua thiếu thông tin về sản phẩm, được gọi

là thông tin bất cân xứng nghiêng về phía người mua Có thể là bên ngườibán thiếu thông tin và được gọi là thông tin bất cân xứng nghiêng về phíabên bán

1.1.2 Tính phi hiệu quả của tình trạng thông tin bất cân xứng

Tính phi hiệu quả của hiện tượng thông tin bất cân xứng nghiêng về phía người mua

Giả định nếu thị trường đầy đủ thông tin (thông tin hoàn hảo) thì bên mua

và bên bán sẽ trao đổi tại mức sản lượng Q0 với giá cả là P0 (hình 1.1)

Vì người mua thiếu thông tin về sản phẩm nên đường cầu về sản phẩm dịchchuyển sang trái (xuống dưới) từ D0 đến D1 Giả định rằng cung hàng hóa chưathay đổi mức sản lượng được trao đổi trên thị trường bây giờ là Q1 Mức giá giảm

từ P0 xuống P1.So với trường hợp khi thị trường có đầy đủ thông tin toàn xã hộimất đi một lượng sản phẩm là = Q0 – Q1,và tổn thất phúc lợi xã hội được xácđịnh bằng diện tích tam giác ABC Tức là vẫn với nguồn lực ban đầu, nhưng vìvấn đề thông tin bất cân xứng nên thị trường đã tạo nên một mức sản lượng nhỏhơn so với việc có đầy đủ thông tin làm cho nguồn lực sử dụng kém hiệu quả

Trang 12

Vùng tổn thất ABC vì thế còn được gọi là “tổn thất hiệu quả” hay “vùng mấtkhông”.

Và người bán sẽ cung ứng mức sản lượng Q1 > Q0 Và gây vùng tổn thất hiệu quả

là diện tích tam giác ABC bởi với ∆Q có thêm này lợi ích thu thêm của xã hội(diện tích Q1ABQ0) nhỏ hơn chi phí xã hội phải bổ sung (diện tích Q1CBQ0)

Trang 13

Như vậy trong mọi trường hợp thông tin bất cân xứng đều làm thị trườnghoạt động phi hiệu quả.

Thông tin không đối xứng về phía người bán làm thị trường cung ứng trên mức hiệu quả

Hình 1.2 1.1.3 Các dạng của thông tin bất cân xứng

P

Q

B

A C

Trang 14

có thông tin về những người mua bảo hiểm nên sẽ gặp rủi ro Trường hợp này, chiphí lựa chọn sai lệch sẽ do người bán gánh chịu.

Một ví dụ điển hình khác về vấn đề này cũng được đưa ra trong một nghiêncứu của Geogre A Akerloft với tựa đề “The Market for Lemons” – nghiên cứu đãgiúp ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 Giả có hai người chào bán ôtô của họ.Người thứ nhất là phụ nữ trung tuổi, một người hiếm khi tự lái xe và luôn bảoquản ôtô của mình luôn trong trạng thái tốt nhất Người thứ hai là một thanh niêntrẻ tuổi ưu thích mạo hiểm và tốc độ, thêm vào đó để tiết kiệm tiền anh ta khôngmấy khi bảo dưỡng xe Họ cùng đến nơi thu mua xe cũ để rao bán xe Với mộtngười mua thông thường không thể phân biệt được sự khác nhau giữa chất lượnghai chiếc xe, họ sẽ đưa ra mức giá trung bình cho cả hai chiếc và sẽ không trảnhiều hơn nếu không có sự đảm bảo rằng chiếc đó tốt hơn chiếc còn lại Ngườiphụ nữ trung tuổi dĩ nhiên biết được xe của mình thực sự đáng giá đến mức nàonên cô ta sẽ không chấp nhận bán xe Trong khi đó, người thanh niên cũng nhậnthức được đó là một mức giá hời cho chiếc xe có “lịch sử” không mấy sáng sủacủa mình nên anh ta sẽ chớp lấy cơ hội và bán xe

Trong hoạt động mua bán người bán nắm rõ thông tin về sản phẩm củamình, che đậy thông tin Người mua không đủ thông tin về sản phẩm Trường hợpnày, chi phí lựa chọn sai lệch sẽ do người mua gánh chịu

Ví dụ trên đây chỉ là về mặt lý thuyết bởi có rất nhiều cách để phân biệtchất lượng của một chiếc xe như quãng đường xe đã chạy, năm xe được sản xuất,

… Nhưng đối với trường hợp những người đi vay ngân hàng lại khó phân biệt hơnnhiều Bởi với cùng một mức lãi suất cho một khoản vay cụ thể, những kháchhàng có độ rủi ro thấp có thể sẽ giữ tiền ở nơi khác, trong khi những khách hàng

có độ rủi ro cao hơn sẽ ngay lập tức đồng ý đề nghị của ngân hàng

Khi vấn đề lựa chọn sai lệch trở nên đặc biệt nghiêm trọng thì thị trường cóthể sẽ sụp đổ

Trang 15

Để có sự tồn tại của rủi ro đạo đức, ba điều kiện sau phải được thỏa mãn:

- Thứ nhất, phải có sự khác biệt về quyền lợi giữa các bên

- Thứ hai, phải có một cơ sở nào đó để tạo ra trao đổi có lợi hay một hìnhthức hợp tác khác nhau giữa các cá nhân (tức là có lí do để dồng ý giaodịch) từ đó làm lộ ra mâu thuân về quyền lợi

- Thứ ba, phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điềukiện thỏa thuận có đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không

Một trong những vụ lừa đảo lớn từng bị phanh phui phải kể đến vụ lừa gạtgiới đầu tư của Bernard Madoff Bernard Madoff là một doanh nhân Mĩ và lànguyên chủ tịch sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ Ông đã sáng lập công tyBernard L Madoff Investment Sercurity LLC ở phố Wall vào năm 1960 và là chủtịch công ty này đến ngày 11 tháng 12 năm 2008, khi ông bị bắt vì tội gian lận tàichính Bernard L Madoff Investment Sercurity từng là một hang thương mại hàngđầu phố Wall, thường có nhiệm vụ như một nhà cung cấp “thị trường thứ ba”, tức

là không thông qua các hãng “chuyên biệt” mà thực hiện trực tiếp các đơn đặthàng mua bán thẳng từ các nhà môi giới bán lẻ Nhiều thập niên trôi qua, Madoff

đã nổi tiếng trong giới đầu tư, nhiều người xem ông ta là người một thành đạttrong lĩnh vực đầu tư đáng tin cậy Danh sách đầu tư vào Madoff lên đến hàngtrăm hàng ngàn người, thậm chí có cả những người rất giàu có và thế lực ở Mĩ Họkhông biết rằng số tiền mà họ kiếm được hay rút ra sau khi đầu tư vào đây thực tế

là tiền bỏ ra của các nhà đầu tư mới Madoff thực tế đã không sử dụng tiền theođúng mục đích ban đầu của các nhà đầu tư Kiểu lừa đảo còn được gọi là thuyết

Trang 16

lừa đảo Ponzi hay lừa đảo đa cấp Trong khoảng thời gian cuộc khủng hoảng tíndụng 2008 diễn ra, càng nhiều người đến mà thu khoản đầu tư của mình về kếtquả là Mô hình Ponzi của Madoff đã hoàn toàn sụp đổ Tuy vậy trước khi bị bắt,

vụ lừa đảo của Madoff cũng đã gây ra thiệt hại 50 tỷ đôla Mĩ cả tiền mặt và chứngkhoán

Còn có một dạng khác của rủi ro đạo đức thường rất hay xảy ra trong thịtrường bảo hiểm, đó là khi khách hàng sau khi mua bảo hiểm trở nên thiếu cẩntrọng hơn vì họ đã có hợp đồng bảo hiểm gánh đỡ mọi mất mát

1.2 Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM

1.2.1 Khái quát về hoạt động tín dụng của các NHTM

Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp

và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi váy sửdụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàntrả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán Luật các tổchức tín dụng định nghĩa: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận đểkhách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả trả bằng các nghiệp

vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và cá nghiệp vụkhác” Trong thực tế hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng nhưng dù ở bất

cứ dạng nào cũng đều thể hiện hai mặt cơ bản sau:

- Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người kháctrong một thời gian nhất định

- Đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người sử dụng hoàn lại cho người sởhữu một giá trị lớn hơn Phần tăng thêm được gọi là phần lời hay còn gọi

là lãi suất Tín dụng ngân hàng là quan hệ phát sinh giữa các ngân hàng,các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội baogồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước

Trang 17

Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn chocác doanh nghiệp, hộ gia đình… mà còn để đầu tư đổi mới kĩ thuật, giải quyết việclàm… Vậy tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng quan trọng trong nềnkinh tế thị trường cũng là hoạt động mang về lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM.Tuy nhiên đây cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cũng như gây thiệt hạinhiều nhất trong hệ thống ngân hàng.

Hiện nay hoạt động cho vay trong ngân hàng vẫn là chủ yếu, chiếm từ 70%đến 90% tài sản có và một tỉ lệ tương đương trong tống thu nhập của hệ thốngngân hàng Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu đã được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao vàđang có xu hướng tăng lên Sở dĩ có tình trạng này là do các nguyên nhân:

Một là, việc cho vay vẫn chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thịtrường bất độn sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và có nhiều biến độngphức tạp

Hai là, do sức ép cạnh tranh và cơ chế khoán trong kinh doanh dẫn tớinhiều trường hợp nới lỏng điều kiện vay vốn để giành giật khách hàng Công tácthẩm định dự án đầu tư cho vay không tốt, qua loa hoặc có nhiều hành vi gian lận,móc ngoặc

Bà là, nhiều nợ xấu phát sinh do chậm việc chậm cấp Ngân sách nhà nước

để giải ngân, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ bản dẫn tới nợ động vốn ở cácngân hàng

Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyểnbiến cho nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi Khi nghiêncứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro nhưlãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không cókhả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thưuờng được xemxét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học

Trang 18

Xét về nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM có thể

kể đến:

- Nguyên nhân từ phía khách hàng

+ Khách hàng gian lận, cố ý lừa ngân hàng: gian lận về số liệu, giấy tờ,quyền sở hữu tài sản, báo cáo tài chính không chính xác, thế chấp một tàisản ở nhiều ngân hàng,…

Khách hàng sau khi được cấp vốn có thể sử dụng vốn sai mục đích, làm

ăn thua lỗ dẫn đến phá sản và không trả được nợ Hoặc khách hàng có tưcách kém, cố tình không trả nợ, lừa đảo ngân hàng

+ Khách hàng không gian lận: Khách hàng có trình độ kém, không cónăng lực quản lý và không có phương án kinh doanh hiệu quả, doanhnghiệp không thể cạnh tranh cũng dẫn đến không trả được nợ cho ngânhàng Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh hay gặpnhững nguyên nhân khách quan như thiên tai, trộm cắp,… cũng sẽ làmtăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng

- Nguyên nhân từ phía ngân hàng:

+ Thông tin tín dụng không đầy đủ

+ Trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng còn hạn chế

+ Ngân hàng chú trọng về lợi tức, đặt lợi tức cao hơn những khoản vay antoàn

+ Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng (hạ thấp tiêu chuẩntín dụng, bỏ qua một số buớc kiểm định,… nhằm lôi kéo khách hàng)+ Hoạt động kiểm tra, giám sát không được tiến hành thường xuyên

- Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh:

+ Môi trường kinh tế: Chính sách vĩ mô của chính phủ

+ Môi trường pháp lý: Hoạt động kinh doanh bị giới hạn bởi khuôn khổpháp luật

Trang 19

+ Môi trường xã hội: những biến động lớn về kinh tế, chính trị trên thếgiới

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng nhưng chủ yếu nhất vẫn lànguyên nhân con người mà ở đây cụ thể là khách hàng và cán bộ ngân hàng Lợidụng sự sơ hở trong cơ chế, chính sách của hệ thống kiểm định đầu tư, phía kháchhàng hoàn toàn có thể che đậy thông tin cũng như nảy sinh những hành vi gây bấtlợi cho phía ngân hàng

1.2.2 Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM

Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốcbất ngờ như khung hoảng kinh tế, thiên tai,… nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấunhiều nhất là do ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mìnhmặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định

Như vậy, thông tin bất cân xứng là một trong những nguyễn nhân cơ bản ảnhhưởng đến rủi ro trong các hoạt động tin dụng của các ngân hàng thương mại Việcnghiên cứu tác động của thông tin bất cân xứng sẽ được làm rõ thông qua nghiêncứu về hai biểu hiện của nó là lựa chọn sai lệch và rủi ro đạo đức

1.2.2.1 Lựa chọn sai lệch trong hoạt động tín dụng của NHTM

Lựa chọn sai lệch xảy ra trước cho vay, khi ngân hàng bị khách hàng chegiấu một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn khách hàng không tốt và cấp tín dụngkhông hiệu quả Khách hàng có độ rủi ro cao thường là những khách hàng tích cựcnhất trong việc xin vay Hậu quả của của lựa chọn sai lệch có thể dẫn đến việc cấptín dụng cho khách hàng có độ rủi ro cao nên trong trường hợp này các ngân hàng

có thể sẽ cắt giảm cho vay hoặc không tiếp tục cho vay mặc dù trên thị trường cònrất nhiều khách hàng tốt

Cụ thể, trong hoạt động tài chính ngân hàng, lựa chọn sai lệch sẽ xuất hiệnkhi nguồn vốn khan hiếm và lãi suất cho vay bị đẩy lên cao

Trang 20

Theo nguyên tắc “rủi ro cao – lợi nhuận cao” và nguyên tắc loại trừ, khinguồn cung tín dụng dồi dào, mức lãi suất cho vay thấp thì cả dự án có suất sinhlợi thấp, rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ một cách chắc chắn và những dự án

có suất sinh lợi cao, rủi ro cao với đảm bảo khả năng trả nợ ít chắc chắn hơn đềuđược cấp tín dụng để thực hiện Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi nguồn vốn khanhiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao Để ngân hàng có lợi nhuận, các dự án antoàn sẽ dễ bị bỏ qua bởi suất sinh lợi thấp và các dự án có độ rủi ro cao với suấtsinh lợi cao sẽ được cấp vốn để thực hiện Đây chính là vấn đề lựa chọn sai lệchtrong hoạt động tài chính ngân hàng Khi mà chỉ các dự án có độ rủi ro cao đượcthực hiện thì nguy cơ vỡ nợ của các tổ chức tín dụng là rất cao

Có hai kiểu sai lệch thông tin chính:

- Khách hàng chỉ cung cấp thông tin tốt và che dấu những thông tin xấu

- Khách hàng cố tình cung cấp thông tin sai, cố ý lừa đảo ngân hàng

Nhưng cho dù việc sai lệch thông tin có xảy ra ở dạng nào thì cũng thường

có một điểm chung đó chỉ xảy ra ở những khách hàng có năng lực quản lý kémcũng như không có khả năng kinh doanh

1.2.2.2 Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của NHTM

Rủi ro đạo đức trong lĩnh vực tín dụng xảy ra sau khi cấp tín dụng, nhữngngười được cấp tín dụng luôn có xu hướng muốn thực hiện đầu tư rủi ro hơnnhững người cho vay mong đợi, vì chủ đầu tư sẽ có được những khoản lợi nhuậnbrất lớn nếu dự án thành công, trong khi những người cấp tín dụng chỉ nhận đượcmột khoản lợi ích cố định Ngược lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay sẽ bị mấtmột phần hoặc toàn bộ vốn do không được hoản trả đầy đủ

Với các hợp đồng vay ngân hàng hay bảo hiểm thì rủi ro đạo đức phát sinh

từ phía người đi vay hay đi mua bảo hiểm Họ sử dụng tiền vay không đúng mụcđích hay do đã được bảo hiểm nên họ sẽ bất cần hơn so với trước khi mua bảo

Trang 21

hiểm Ở thị trường chứng khoán, rủi ro đạo đức phát sinh nếu như người đại diệnđiều hành Công ty khong sử dụng nguồn vốn hiệu quả và đúng mục đích Do tínhchất của đầu tư trên thị trường là đầu tư gián tiếp nên việc quản lý, giám sát vốnđầu tư của các nhà đầu tư sẽ phải thông qua một số người đại diện để điều hànhcông ty Rủi ro đạo đức sẽ gia tăng nếu như tỷ lệ sở hữu cổ phần của người đạidiện thấp Vì nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệmcủa họ không cao và sự thiệt hại trên phần vốn góp là thấp Chính vì thế, hiện naytiêu chí đầu tiên để có những cổ đông muốn tham gia Hội đồng quản trị thì họ phải

có một tỷ lệ vốn góp nhất định nào đó

Như đã trình bày ở trên, để tồn tại rủi ro đạo đức cần có ba điều kiện, trong

đó điều kiện thứ ba là phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem cácđiều kiện trong thỏa thuận có được tuân thủ và thực hiện đúng hay không Tronghoạt động tín dụng, giám sát việc sử dụng các khoản tín dụng của ngân hàngthường vấp phải nhiều khó khăn đến từ cả phía ngân hàng và người đi vay Bảnthân các ngân hàng có thể gặp phải các rủi ro do rủi ro đạo đức của người đi vaykhi ngân hàng không giám sát được hoạt động của người đi vay, kích thích ngườinày dùng khoản vay một cách mạo hiểm quá mức Rủi ro đạo đức xảy ra sau chovay, khi khách hàng có động cơ đầu tư vào những dự án có mức độ rủi ro cao Nếu

dự án đó thành công thì khách hàng sẽ thu được lợi rất lớn, ngược lại nếu dự ánthất bại thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu hậu quả do khách hàng thua lỗ

Rủi ro đạo đức xảy ra khi khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mụcđích, đầu tư vào dự án kém hiệu quả, lừa đảo ngân hàng,… Những khách hàng nàythường là những chủ của những doanh nghiệp có tỉ lệ vốn tự có thấp hay chủ củakhoản vay được cấp mà không phải thế chấp tài sản Xung đột về lợi ích giữangười vay và ngân hàng từ vấn đề rủi ro đạo đức dẫn đến tình trạng một số ngânhàng giảm cho vay, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế

Trang 22

Ngoài ra, còn có rủi ro đạo đức của các tổ chức tín dụng sau khi cho vay.

Đó là thiếu sót trong quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay có đúng mục đích haykhông

1.2.3 Hậu quả của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng

Thông tin bất cân xứng và hậu quả của nó được hình thành bởi sự không đồngnhất trong thông tin giữa các bên tham gia một thỏa thuận tài chính Vấn đề chínhthường xảy ra ở đây là người đi vay hay khách hàng có thể nhận thức được nhiều hơn

so với ngân hàng về rủi ro liên quan đến dự án mà họ đang xin vay

Như trong chứng minh của Stiglitz và Weiss (1981), khách hàng có dự án vớimức độ rủi ro càng cao sẽ càng nỗ lực xin vay thậm chí với lãi suất cao, bởi nếu dự ánthành công họ sẽ thu lợi nhuận lớn, còn khi dự án thất bại ngân hàng mới là ngườiphải gánh chịu hậu quả Điều này khiến cho phía ngân hàng sẽ cắt giảm cung cho vay,

số lượng các khoản vay giảm tác động làm lãi suất tăng ngày một cao hơn so với mứccân bằng Thực tế cho thấy quá trình thường này làm tăng khả năng dẫn tới các cuộckhủng hoảng kinh tế và mức độ lạm phát nằm ngoài dự đoán

Thực trạng hiện nay cho thấy, trên thị trường luôn có sự xuất hiện của hiệntượng bất cân xứng thông tin tác động trực tiếp vào mức lãi suất của ngân hàng.Bằng chứng là giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay thông qua hệ thống ngânhàng luôn có một sự chênh lệch lớn để bù đắp chi phí tăng thêm do bất cân xứngthông tin gây ra

A

E

Trang 23

Ảnh hưởng của lãi suất tới cung và cầu về đầu tư

Hình 1.3

Giả định mức lãi suất tiền gửi hiện nay là igt1 và lãi suất cho vay là iđv1 vàlượng tiền gửi luôn được luân chuyển trong nền kinh tế.Ta sẽ có số lượng ngườicho vay và người đi vay là Q1.Điều này dẫn đến ngân hàng cần mất một khoản phí

bù đắp chi phí do bất cân xứng thông tin gây ra, tổn thất của nền kinh tế sẽ bằng

SABE

Nếu bất cân xứng thông tin diễn ra ngày càng thường xuyên hơn, ngân hàngbuộc phải nâng lãi suất cho vay đến iđv2 và hạ lãi suất tiền gửi đến igt2 Tức làkhoảng chênh lệch giữa hai mức lãi suất này trở nên cao hơn vì ngân hàng phải Bùđắp nhiều hơn Lượng người đi vay cũng như người cho vay sẽ giảm từ Q1 xuốngcòn Q2 bởi không phải nhà đầu tư nào cũng có thể chấp nhận mức lãi suất mới này.Tổn thất của nền kinh tế lúc này sẽ bằng SCDE lớn hơn diện tích SABE, hay lớn hơntổn thất của nền kinh tế hiện tại

Bất cân xứng thông tin không chỉ gây ra vấn đề về lựa chọn sai lệch mà cònlàm xuất hiện rủi ro đạo đức Việc xác định một cách đầy đủ về chất lượng của khoảnđầu tư hay quản lý chặt chẽ số vốn đã giải ngân không hề đơn giản, chính vấn đề này

đã vô tình là “động lực” để khách hàng sử dụng vốn vay vào những hoạt động tư lợinhư chấp nhận nhiều rủi ro hơn hay cố ý phân bổ món vay sai lệch so với dự án banđầu từ đó làm chất lượng khoản đầu tư sụt giảm

1.3 Các biện pháp hiện có nhằm hạn chế bất cân xứng xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng hiện nay

D

Q 1

C

Trang 24

1.3.1 Thu thập thông tin

Phương pháp tốt nhất để hạn chế bất cân xứng thông tin là thu thập thôngtin của những những người đi vay càng nhiều càng tốt Kiểm tra lịch sử đi vay củakhác hàng sẽ hạn chế được cả nguy cơ lựa chọn sai lệch và rủi ro đạo đức Thực tếnếu cán bộ ngân hàng đầu tư thời gian và công sức tìm hiểu sẽ thấy rất nhiềunguồn dữ liệu về khách hàng cá nhân cũng như khách hàng doanh nghiệp Ở ViệtNam, ngân hàng có thể lấy thông tin về doanh nghiệp qua sàn giao dịch chứngkhoán mà cụ thể là giá cố phiếu và trái phiếu bởi trước khi niêm yết cổ phiếu vàtrái phiếu các doanh nghiệp đều phải công khai báo cáo tài chính của mình Cònvới khách hàng cá nhân cán bộ ngân hàng có thể kiểm tra các khoản vay, việc làmhay thu nhập,… Tuy nhiên, như đã nói, việc này thường tốn thời gian và công sức

và trong một nền kinh tế năng động như hiện nay điều này có thể làm giảm hiệuquả kinh doanh của cả ngân hàng và doanh nghiệp Chưa kể đến doanh nghiệp cóthể đưa những báo cáo tài chính sai lệch

1.3.2 Phân tích tín dụng

Các hệ thống thông tin tín dụng thông qua cơ chế xếp hạng tín dụng cungcấp cho các ngân hàng những thông tin cần thiết trong việc đánh giá, thẩm địnhkhách hàng Xếp hạng tín dụng hay xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá

về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ củađối tượng đi vay Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp phân tích để xếp hạngtín dụng chính:

Chỉ số Z của Edward I Altman: Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học

thuật và thực nghiệm công nhận và sử dụng rộng rãi Mặc dù chỉ số Z được phátminh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nước vẫn có thể sử dụng với mức độ đáng tin cậykhá cao Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số

đa yếu tố MDA

Chỉ số Zeta: Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z Zeta làm

việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và công ty bán lẻ với độ

Trang 25

chính xác hơn 90% trước khi công ty phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ nămthứ 5 trở lên trước khi phá sản.

Một số tổ chức xếp hạng tín dụng có uy tín trên thế giới hay còn gọi làphương pháp chuyên gia có thể kể đến:

Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch: Fitch xếp hạng

doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích định lượng Phân tích địnhtính gồm phân tích rủi ro ngành, môi trường kinh doanh, vị thế của doanh nghiệptrong ngành, năng lực của ban quản trị, phân tích kế toán Trong phân tích địnhlượng, Fitch nhấn mạnh đến thước đo dòng tiền của thu nhập, các khoản đảm bảo

và đòn bẩy

Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của S&P: Cũng như Fitch,

phương pháp xếp hạng của S&P bao gồm cả phân tích định tính và định lượng.S&P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trongquá khứ Trong quy trình xếp hạng, S&P không phân loịa theo tính chất của dữliệu mà pohân loại theo rủi ro (rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính)

Phương pháp xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s: Moody’s thiết lập 11 tỷ

số chung nhất để sử dụng trong phân tích so sánh Các tỷ số nàyđược Moody’sứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau, nhiều ngành khác nhau Tuy nhiên,trong quy trình cụ thể, Moody’s có thể xem xét bớt hoặc thêm các chỉ tiêu cho phùhợp với từng ngành riêng

Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hiện đang sử dụng thông tin doanh nghiệp

từ CIC, nhưng tính cập nhật thực sự vẫn chưa cao và chưa đi vào hệ thống hoànchỉnh

1.3.3 Bảo đảm tiền vay

Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều có những điều khoản bắt buộc về tàisản thế chấp Điều này sẽ hạn chế nguy cơ rủi ro do bất cân xứng thông tin Bởi

Trang 26

nếu theo đúng trình tự của điều khoản này thì ngân hàng nhất định sẽ thu lại được

ít nhất là một phần vốn vay nếu rủi ro xay ra Tuy vậy, điều khoản về bảo đảm tiềnvay sẽ chỉ phát huy tác dụng nếu đó đúng là tài sản mà khách hàng thực sự làmchủ hoặc thị trường chứng khoán hay bất động sản không biến động mạnh nếu tàisản thế chấp là cổ phần hay nhà đất

1.3.4 Giám sát tín dụng

Mỗi cán bộ tín dụng phụ trách số lượng khách hàng nhất định của mình vàthực hiện kiểm tra định kì Việc kiểm tra này thường chỉ mang tính lý thuyết chứkhông thực tiễn bởi với những doanh nghiệp trữ hàng ở kho bãi cách xa ngân hàngthì việc kiểm tra mỗi doanh nghiệp như vậy sẽ tốn khá nhiều chi phí phát sinhchưa kể đến doanh nghiệp có thể móc ngoặc với những cán bộ ngân hàng tha hóa

để chuộc lợi

Trang 27

Chương II Thực trạng bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam

2.1 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua mặc dù hệ thống các ngân hàng ở Việt Nam đã nỗlực tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng nhưng đây là một lĩnh vựckhá phức tạp nên khi thực hiện còn gặp nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều hạn chế

Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM

từ năm 2001 đến năm 2011

Đơn vị: %

Nguồn số liệu: http://luattaichinh.wordpress.com

Trang 28

Hiệu suất hoạt động của các ngân hàng Việt Nam dao động trong khoảng

33 – 69%, tùy thuộc vào yếu tố như cư cấu chủ sở hữu, mô hình và chiến lượckinh doanh cũng như chi phí hoạt động Chẳng hạn, các ngân hàng cổ phần ở ViệtNam hoạt động với cơ chế tự động cao hơn và đội ngũ nhân viên được trả lươngcao hơn Hiệu suất hoạt động của họ đã giảm do quá trình phát triển hạ tầng, chỉphí tiền lương tăng thêm và các chi phí quan rlý khác liên quan đến mở rộng mạnglưới và hoạt động bán lẻ Chi phí nhân sự cao do sự khan hiếm chuyên gia tronglĩnh vực này, vì vậy các ngân hàng phải tăng lương để giữ chân nhân viên

Ngày 4/11/2010, Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty tài chính quốc tế(IFC) đã công bố Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2011: Vệt Nam đứng thứ

78 trong tổng số 183 nền kinh tế trên thế giới về mức độ thuận lợi trong môitrường kinh doanh, tăng 10 bậc so với năm 2010

2.2 Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam

Kết quả hoạt động kinh doanh và tỉ lệ nợ xấu của NHTM tăng như trên đến

từ nhiều nguyên nhân khác nhau những một trong số đó phải kể đến thực trạng vềbất cân xứng thông tin đang xảy ra hiện nay mà ta có thể phân ra một cách cơ bảnthành hai nhóm nguyên nhân chính:

- Nguyên nhân cơ chế, chính sách của chính ngân hàng: thiếu chính sáchcho vay, thiếu các tiêu chuẩn rõ ràng, việc cấp tín dụng quá tập trung,thiếu sự chặt chẽ, khoa học

- Nguyên nhân con người bao gồm cán bộ NHTM và người đi vay

Các yếu tố thuộc hai nhóm trên vừa có tính độc lập tương đối, vừa quan hệchặt chẽ và chi phối lẫn nhau Chúng có thể làm cho hoạt động của NHTM giảmthiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng ngân hàng nhưng cũng

có thể gây ra tổn thất, thậm chí là rất lớn, dẫn tới sự phá sản của một số NHTM

Trang 29

2.2.1 Tình hình thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các

NHTM Việt Nam

Với hạ tầng thông tin còn chưa thực sự hệ thống và có tính cập nhật, ngàycàng nhiều các ngân hàng phải chịu những tổn thất lớn

Phổ biến nhất hiện nay có thể kể đến là hiện tượng làm giả hóa đơn chứng

từ Một ví dụ cụ thể là khoản vay của Công ty Đầu tư thương mại Đại Phát vay nợNgân hàng TMCP Quân đội (MB) Đại Phát đã sử dụng hóa đơn mua hàng từ đơn

vị nhập khẩu là một công ty con thuộc chính công ty này để xin vay vốn với mụcđích xin vay trên hồ sơ là nhập khẩu nguyên vật liệu để lắp ráp máy móc thiết bịphục vụ sản xuất và thế chấp bằng chính hàng hóa hình thành từ vốn cùng tài sảncủa công ty là ôtô Sự thật là công ty ĐTTM Đại Phát đã sử dụng chứng từ khống

để xin vay Dây truyền sản xuất được dùng để thế chấp có tồn tại hay không ngânhàng không thể xác minh cụ thể được do bên công ty đã có câu kết với đơn vị khobãi từ trước Ngoài ra, thế chấp thứ hai là tài sản ôtô của công ty khi đó lại chưađược cơ quan Công an xác nhận chuyển nhượng quyền sở hữu nên phải đến 3 nămsau ngân hàng mới thu hồi được tài sản này mà khi đó tài sản đã cũ và không còngiá trị như khi kí kết hợp đồng cho vay Nếu phía nhân viên ngân hàng có thêmthông tin về lô hàng có lẽ đã không lập hồ sơ và duyệt khoản vay Đây chỉ là mộttrong số rất nhiều trường hợp từng xảy ra không chỉ với TMCP Quân đội mà cònvới rất nhiều NHTM khác Bởi với thực tế hiện nay việc làm giả hóa đơn chứng từ

là không mấy khó khăn, cùng một hàng hóa có thể chu chuyển về mặt giấy tờ từcông ty này đến các công ty trung gian khác mà ngân hàng không thể kiểm soátđược Hay nói cách khác, các NHTM hiện nay vẫn duyệt nhiều hồ sơ xin vay mà

cơ sở chủ yếu là lòng tin đối với khách hàng

Bên cạnh đó, thiếu hụt thông tin còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp vayvốn dựa trên cơ sở uy tín Công ty cổ phần Tổng Bách Hóa (TBH mẹ) có công tycon là Công ty Tổng Bách Hóa Hải Phòng (TBH HP) Về công ty mẹ, đây là mộtkhách hàng lâu năm và có uy tín của MB do vậy công ty này có hạn mức cấp vốn

Trang 30

rất lớn Trong khi đó TBH HP lại có tiếng xấu và thiếu uy tín, nên khi xin vay muathép TBH HP đã vay dưới tên công ty mẹ Mặc dù thép là một trong nhiều mặthàng có tính chất khó kiểm soát chủ sở hữu vì không có đăng ký hay mã số ghitrên mặt hàng này, bất kỳ công ty nào chỉ cần móc nối với ban quản lý kho bãicũng có thể nhận đó là hàng của công ty mình, nhưng do uy tín của TBH mẹ nênngân hàng vẫn giải ngân

Tình trạng bất cân xứng thông tin không chỉ xảy ra với các khách hàngdoanh nghiệp mà còn phổ biến ở những khách hàng cá nhân Ví dụ như gói sảnphẩm có nhiều ưu đãi hiện nay mà nhiều NHTM cụ thể là Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam (BIDV) khuyến khích sử dụng: Cho vay tín chấp đảm bảobằng lương Về lý thuyết đối với một ngân hàng lớn mà nói đây được coi là khoảnvay có giá trị không cao bởi mục đích chủ yếu là để tiêu dùng cá nhân Tuy nhiên,nếu phân tích cụ thể ta có thể thấy rõ kẻ hở của sản phẩm này

Bình có mức lương tháng là 10 triệu đồng đổ lương trực tiếp vào tài khoản

ở BIDV Anh ta làm thẻ visa hạn mức 100 triệu đồng tỷ lệ trả nợ tối thiểu hàngtháng là 20% trên sao kê tháng trước và lập tài khoản có hạn mức thấu chi 50 triệuđồng gốc trả cuối kỳ lãi trả hàng tháng của ngân hàng này Ngoài ra anh ta còn vay

ở MB một khoản vay 50 triệu đồng thời hạn 3 năm gốc trả đều hàng tháng lãi trảhàng tháng để đầu tư chứng khoán Tất cả những khoản này đều được tín chấp bởicùng một tài khoản cá nhân của Bình ở BIDV Giả định nếu Bình sử dụng hết hạnmức tức là anh ta nợ ngân hàng 200 triệu với mức lãi suất đối với khách hàng cánhân là 20% một năm Như vậy mỗi tháng anh ta phải trả lãi 3.3 triệu đồng/tháng

và gốc là 21.4 triệu đồng/tháng tức gần 25 triệu đồng/tháng vượt quá mức thunhập của Bình Ở đây có thể thấy, ngân hàng khó có thể biết về các khoản nợ khácngoài ngân hàng mà khách hàng hiện có Việc thiếu hụt thông tin đã làm tăng tỉ lệ

nợ xấu trong hệ thống ngân hàng

Bất cân xứng thông tin gây thiệt hại cho ngân hàng nhưng nguyên nhânkhông phải bao giờ cũng là từ phía khách hàng Bên cạnh những món vay mua bán

Trang 31

thông thường hay những món vay cá nhân, các NHTM còn thực hiện cho nhữngcông ty nhập khẩu và phân phối vay những khoản tín dụng lớn lên đến hàng trăm

tỷ đồng Điển hình là trường hợp Đại lý phân phối ôtô Ngọc Anh vay 100 tỷ đóđồng của Ngân hàng TMCP Quân đội để nhập khẩu và phân phối ôtô nguyênchiếc Với những khoản vay dạng này, ngân hàng thường yêu cầu đảm bảo khoảnvay bằng giấy tờ nhà đất giá trị khoảng 150 tỷ đồng Tuy nhiên với một điều kiệnđảm bảo như vậy thì khó có doanh nghiệp nào có thể thực hiện Vì vậy, thực tếngân hàng thường tự nới lỏng điều kiện trên cụ thể ở đây là MB đã nhận tài sảnđảm bảo một phần là bất động sản, một phần chính là hàng hóa hình thành từ vốnvay Nếu theo đúng quy trình ngân hàng cần sở hữu một số giấy tờ xác nhận quyền

sở hữu đối với hàng hóa như hóa đơn mua hàng trực tiếp từ nước ngoài, chứngnhận kiểm định, tờ khai hải quan,… Ở trường hợp Đại lý Ngọc Anh, phía ngânhàng đã cầm đủ các giấy tờ và lô hàng cũng đã được vận chuyển đến kho bãi Tuynhiên sau đó Đại lý Ngọc Anh đã xin “mượn” lại những giấy tờ này với lý do chưahoàn tất một số thủ tục nhập hàng Dựa trên cơ sở uy tín mà Ngọc Anh đã tạodựng bằng những lần hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi trước đó, MB mặc dù chưanhận được hoàn trả của lô hàng lần này nhưng vẫn cho phép Đại lý Ngọc Anh cầmlại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản Ngay sau đó, đại lý này sau khi đã cónhững giấy tờ cần thiết trong tay, thực hiện bán hết sản phẩm nhưng không hoàntrả khoản vay cho ngân hàng theo đúng hợp đồng Phía ngân hàng cũng không thểthu hồi được vốn vì không còn quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản của Đại lýNgọc Anh

Cũng là khoản vay cho công ty nhập khẩu nhưng giả định là ngân hàngkhông cầm bất cứ chứng từ sở hữu tài sản nào ngay từ đầu, hay ngân hàng đãkhông giám sát việc công ty ngay từ bước đầu thực hiện quá trình nhập hàng hóa.Bởi điều đó đồng nghĩa với ngân hàng buộc phải cắt cử nhân viên đi theo và trựctiếp giám sát toàn bộ quá trình nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Tuy nhiên,việc làm này thường gây tốn chi phí và nhân lực nên thường bị nhiều các ngân

Ngày đăng: 20/08/2015, 07:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 1.1.3 Các dạng của thông tin bất cân xứng - GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÔNG TIN bất cân XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại ở VIỆT NAM
Hình 1.2 1.1.3 Các dạng của thông tin bất cân xứng (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w