1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐÁNH GIÁ kết QUẢ 8 TRƯỜNG hợp lõm NGỰC có sử DỤNG nội SOI LỒNG NGỰC hỗ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS tại BỆNH VIỆN CHỢ rẫy

5 379 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 252,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 8 TRƯỜNG HỢP LÕM NGỰC CÓ SỬ DỤNG NỘI SOI LỒNG NGỰC HỖ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY Lâm Văn Nút - Bệnh viện Chợ Rẫy TóM TắT Đặt vấn đề: Nội soi lồng

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 8 TRƯỜNG HỢP LÕM NGỰC CÓ SỬ DỤNG NỘI SOI LỒNG NGỰC HỖ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS TẠI BỆNH VIỆN CHỢ

RẪY

Lâm Văn Nút - Bệnh viện Chợ Rẫy TóM TắT

Đặt vấn đề: Nội soi lồng ngực hỗ trợ trong một số

trường hợp lõm ngực tái phát do những lần phẫu

thuật trước đó, những trường hợp lõm ngực nặng có

chèn ép tim - phổi và những trường hợp có bệnh kết

hợp đi kèm Tuy nhiên, vấn đề nội soi hỗ trợ hiện nay

vẫn còn một số quan điểm chưa đồng nhất

Mục tiêu: Đánh giá vai trò nội soi lồng ngực hỗ trợ

trong phẫu thuật Nuss

Phương pháp: mô tả dọc, tiến cứu

Kết quả: Có 3 trường hợp lõm ngực được phẫu

thuật thất bại trước đó: 2 trường hợp phẫu thuật

Ravitch (0,9%), 1 trường hợp phẫu thuật Nuss

(0,4%) Một trường hợp cắt nốt đơn độc phổi (0,4%),

1 trường hợp cắt kén khí (0,4%) Lõm ngực nặng

(HI>15) là 2 trường hợp (0,9%) Thời gian phẫu thuật

nội soi trung bình 122 ± 79 phút, nhiều hơn không

nội soi (p<0,001) Thời gian nằm viện trung bình 8,4

± 2,5 ngày và lượng máu mất trung bình 23 ± 10 ml

không khác biệt so với phẫu thuật không nội soi

(p>0,05)

Kết luận: Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu có nội soi

lồng ngực hỗ trợ được thực hiện an toàn, hiệu quả

Từ khóa: Nội soi lồng ngực

ĐặT VấN Đề

Lõm ngực là do sự quá phát của các sụn sườn

đẩy xương ức vào bên trong tạo thành ngực lõm

Theo thống kê ở Mỹ trong 1000 trẻ sinh ra thì có 1 trẻ

bị lõm ngực, tỉ lệ nam:nữ là 4:1 Lõm ngực chiếm

87% trong tất cả biến dạng lồng ngực Dị tật này ít

xảy ra ở người châu Phi [3, 8] Trẻ bị lõm ngực

thường có tâm lý không ổn định, hay mặc cảm và xấu

hổ với bạn bè cùng trang lứa, ngày càng xa lánh các

hoạt động xã hội, thể dục thể thao: tập thể dục, điền

kinh, bơi lội Đặc biệt, khi trẻ bị lõm ngực nặng sẽ

ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, tim mạch… Do

đó, những bệnh nhân này cần phải điều trị bằng phẫu

thuật [9]

Năm 1998, Nuss D công bố tổng quan 10 năm

kinh nghiệm phẫu thuật điều trị lõm ngực bẩm sinh

bằng kỹ thuật xâm lấn tối thiểu nâng ngực lõm bằng

thanh kim loại Hiện nay, kỹ thuật này đã được phẫu

thuật viên lồng ngực khắp nơi trên thế giới áp dụng

để thay thế những phương pháp trước đây xâm lấn

và tàn phá hơn vì phải cắt xương ức, sụn sườn

Phẫu thuật Nuss (phẫu thuật xâm lấn tối thiểu) cho

thời gian hồi phục nhanh hơn và ít biến chứng hơn vì

khi phẫu thuật chỉ cần rạch da ở 2 bên đường nách

giữa của lồng ngực ngang qua nơi lõm nhất, mỗi

đường dài khoảng 2 cm, đặc biệt không cần phải mở

xương ức và cắt các sụn sườn

Từ đầu năm 2008 đến nay, khoa Ngoại Lồng ngực - Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy đã triển khai phẫu thuật thường quy điều trị lõm ngực bẩm sinh bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu của Nuss, bước đầu cho kết quả rất tốt Năm 2009, bắt đầu triển khai nội soi lồng ngực hỗ trợ trong một số trường hợp lõm ngực tái phát do những lần phẫu thuật trước đó, những bệnh nhân lõm ngực nặng có chèn ép tim - phổi và những trường hợp có bệnh kết hợp đi kèm Chúng tôi nhận thấy rằng việc áp dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ thì an toàn, hiệu quả, thời gian hồi phục nhanh và ít biến chứng Tuy nhiên, vấn đề áp dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ trong phẫu thuật xâm lấn tối thiểu điều trị lõm ngực hiện nay còn tranh luận Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu “Đánh

giá vai trò nội soi lồng ngực hỗ trợ trong phẫu thuật xâm l ấn tối thiểu”

TổNG QUAN

Hầu hết phẫu thuật viên đứng bên phải bệnh nhân khi sử dung nội soi, một số trường hợp khác đề nghị dùng nội soi bên trái, đôi khi sử dụng nội soi cả hai

bên

Hình 1: Tạo đường hầm xuyên trung thất có nội soi

hỗ trợ

Đối với những bệnh nhân lõm quá sâu có thể sử dụng nội soi hai bên vì tim không chỉ bị chèn ép mà còn lệch về bên trái gây cản trở tầm nhìn từ phía bên phải Đặt trocar bên trái khi tim di lệch theo hướng đó đòi hỏi phải rất thận trọng Trocar thường đặt dưới chỗ rạch da, nhưng cũng có thể đặt qua chỗ rạch da, hoặc thậm chí trên chỗ rạch da khi hai tay duỗi ra phía sau Vị trí đặt phía dưới cho phép quan sát tốt quá trình tạo đường hầm qua trung thất và lúc khâu

cố định thanh kim loại

Theo Nuss D và cộng sự (2008), nghiên cứu điều trị bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu 1015 bệnh nhân lõm ngực từ năm 1987 đến năm 2008, tác giả cho rằng nội soi lồng ngực hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong nhóm bệnh này, vì nội soi giúp quan sát quá trình bóc tách và gỡ dính trước khi tạo đường hầm

Trang 2

xuyên qua trung thất trước sau xương ức

Ngược lại với Nuss D., một số tác giả cho rằng

không cần thiết phải nội soi lồng ngực hỗ trợ trong

quá trình thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, theo

nghiên cứu của Liu, W.Y và cộng sự (2008); Ji, Y và

cộng sự (2008), cho rằng không sử dụng nội soi lồng

ngực hỗ trợ khi thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu

điều trị bệnh nhân lõm ngực thì an toàn và hiệu quả,

giảm chấn thương và giảm thời gian phẫu thuật

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả dọc, tiền cứu

Từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 08 năm 2012

Tại khoa Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, bệnh viện

Chợ Rẫy, Tp Hồ Chí Minh

Cỡ mẫu: 229 bệnh nhân

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Phẫu thuật lõm ngực thất bại trước đó

Bệnh nhân có tiền căn phẫu thuật về lồng ngực:

tim, phổi – màng phổi, trung thất,

Haller CT Index > 15,5

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân nhỏ hơn 6 tuổi

Chấn thương thành ngực trước gây lõm ngực

Bệnh nhân hở xương ức

Hội chứng Poland

Vị trí rạch da

Rạch da hai bên ngực với chiều dài 2 cm mỗi bên

dọc theo đường nách trước hay nách giữa hoặc theo

chiều trước sau của lồng ngực

Khi đặt hai thanh, có thể rạch da hai đường mổ

riêng biệt cho mỗi thanh

Hình 2: Vị trí rạch da

Đối với bệnh nhân là phụ nữ, đường rạch da đặt

dưới nếp vú ở vị trí 6 giờ hoặc 9 giờ, có thể mở rộng

khi cần thiết Đường mổ dưới vú rất hiệu quả khi vào

thành ngực trước, thậm chí đặt cả hai thanh với độ

thẩm mỹ cao

Tạo đường hầm xuyên trung thất

Dùng Clamp Crawforth chọc vào khoang màng

phổi phải ngay bờ cao nhất của hố lõm, từ từ đi sát

thành ngực hướng vào trung thất ngay nơi sâu nhất

hố lõm

Có thể sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ xác định

đường đi chính xác của Clamp Crawforth, bằng cách

đặt một trocar dưới chỗ đường nách giữa hai đến ba

khoảng liên sườn

Sau đó tiếp tục dùng đầu Clamp Crawforth cẩn

thận chọc đường hầm từ từ xuyên qua trung thất

trước (trước tim và sau xương ức) vào khoang màng phổi trái, tiếp tục xuyên thành ngực ra ngoài dưới da thành ngực đối xứng bên trái

Qua đầu Clamp Craforwth ta luồn ống dẫn lưu màng phổi nhỏ (số 18Fr hoặc 20Fr) hoặc dây mềm

để hướng dẫn và kéo từ từ thanh kim loại qua trung thất theo hướng ngược lại (từ trái sang phải), mặt lõm thanh kim loại luôn hướng về phía sau

Nội soi lồng ngực hỗ trợ

Thông thường đặt trocar bên phải bệnh nhân Nội soi hai bên khi bệnh nhân lõm ngực quá sâu hoặc sau khi đặt nội soi bên phải chưa quan sát tốt khi tạo đường hầm xuyên trung thất trước

Trocar thường đặt dưới chỗ rạch da, nhưng cũng

có thể đặt qua chỗ rạch da, hoặc thậm chí trên chỗ rạch da khi hai tay duỗi ra phía sau

Vị trí đặt phía dưới cho phép quan sát tốt quá trình tạo đường hầm qua trung thất và lúc khâu cố định thanh kim loại

Quản lý và phân tích số liệu: Stata phiên bảng

10.0

KếT QUả Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 1 Giới (n=229)

Số trường hợp Tỉ lệ (%) Giới

Nhóm tuổi

Trung bình * 16,2 ± 4 (6 - 28)

(*) Tuổi trung bình và độ lệch chuẩn

- Tỉ lệ nam là 80%, chiếm đa số, gấp 4 lần nữ

- Nhóm tuổi từ 13 – 17 chiếm đa số 114 trường hợp, tỉ lệ 50%

- Tuổi trung bình là 16,2 với độ lệch chuẩn ± 4; nhỏ nhất 6 tuổi, lớn nhất 28 tuổi

Bảng 2 Độ sâu hố lõm (n=229)

Độ sâu d (cm) Số trường hợp Tỉ lệ (%)

2 < d ≤ 3 11 4,8 3< d ≤ 4 190 83

4 < d ≤ 5 21 9,2

5 < d ≤ 6 4 1,8

6 < d ≤ 7 1 0,4

Đa số lõm ngực có độ sâu hố lõm từ 3 đến 4 cm

có 190 trường hợp, tỉ lệ 83%

Lõm ngực có độ sâu hố lõm trên 7 cm có 2 trường hợp, tỉ lệ 0,9%

Bảng 3 Tiền căn phẫu thuật (n=229)

Biến số Số trường

hợp

Tỉ lệ (%) Phẫu thuật trung thất 1 0,4

Trang 3

Phẫu thuật Ravitch thất bại 2 0,9

Phẫu thuật Nuss thất bại 1 0,4

Có 3 bệnh nhân lõm ngực được phẫu thuật trước

đây thất bại gồm 2 trường hợp phẫu thuật Ravitch

(0,9%) do không giải quyết được tình trạng lõm ngực

của bệnh nhân, một trường hợp phẫu thuật Nuss thất

bại trước đó do thủng tim (0,4%)

Bảng 4 Phẫu thuật kết hợp (n=229)

Biến số Số trường hợp Tỉ lệ (%)

Cắt nốt đơn độc phổi 1 0,4

Cắt kén khí 1 0,4

Phẫu thuật kết hợp là 2 trường hợp chiếm tỉ lệ

0,9%, trong đó 1 trường hợp cắt nốt đơn độc phổi, và

1 trường hợp cắt kén khí

Phẫu thuật có nội soi hỗ trợ

Trong số 229 bệnh nhân, có 8 trường hợp, chúng

tôi cần phải sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ, kết quả

được ghi nhận như sau:

Bảng 5 Tiền căn phẫu thuật và bệnh kết hợp

(n=8)

Biến số Số trường

hợp Tỉ lệ (%)

Tiền căn PT

PT Ravitch 2 0,9

PT Trung thất 1 0,4

Bệnh kết hợp

Nốt đơn độc phổi 1 0,4

Giãn phế quản 1 0,4

Lõm ngực nặng (HI>15) 2 0,9

HI 7,7 ± 5,32* (3,8 -

19,3)

(*) Trung bình và độ lệch chuẩn

- Phẫu thuật có nội soi hỗ trợ 8 trường hợp, tỉ lệ

3,5%

- Có 2 trường hợp phẫu thuật Ravitch và 1 trường

hợp phẫu thuật Nuss thất bại trước đó

- Lõm ngực nặng 2 trường hợp, 1 trường hợp

HI=19,3 và 1 trường hợp HI=15,5

- Nội soi hỗ trợ phẫu thuật lõm ngực phối hợp với

cắt nốt đơn độc phổi 1 trường hợp và giãn phế quản

1 trường hợp

Bảng 6 Vị trí đặt trocar (n=8)

Biến số Số trường hợp Tỉ lệ (%)

Nội soi lồng ngực hỗ trợ 2 bên 2 trường hợp, tỉ lệ

25%; trong đó 1 trường hợp được phẫu thuật lõm

ngực bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu thất bại do

thủng tim; 1 trường hợp lõm ngực rất nặng có chỉ số

HI=19,3, có chèn ép tim phổi trên chụp cắt lớp điện

toán

Bảng 7 So sánh kết quả có nội soi và không nội

soi lồng ngực

Biến số Có nội soi

(n=8)

Không nội soi p

(n=221)

Thời gian phẫu thuật (phút) 122,1±78,7

89,2 ± 25,8 0,0004 Thời gian nằm

viện (ngày) 8,4 ± 2,5 8,3 ± 2,1 0,939 Lượng máu mất

(ml) 22,9 ± 9,9

20 (20 - 25) 0,121*

(*) Ki ểm định Wilcoxon rank - sum test (Mann-Whitney test)

- Thời gian phẫu thuật có nội soi hỗ trợ nhiều hơn thời gian phẫu thuật không sử dụng nội soi hỗ trợ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)

- Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về số ngày năm viện, lượng máu mất trong nhóm phẫu thuật có sử dụng nội soi hỗ trợ và nhóm phẫu thuật không sử dụng nội soi (p>0,05)

BàN LUậN Giới: Mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 229

trường hợp lõm ngực, trong đó có 184 nam (80%) và

45 nữ (20%), tỉ lệ nam/nữ là 4/1 Theo tác giả Kelly R.E và cộng sự (2010): nghiên cứu và điều trị 1215 bệnh nhi lõm ngực tại bang Virginia (Mỹ) trong giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2008, tỉ lệ nam /nữ là 4/1 Park H.J và cộng sự (2010), phân tích dữ liệu từ

1170 bệnh nhân lõm ngực được điều trị bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong thời gian từ năm 1999 đến năm 2008 tại bệnh viện Mary (Seoul, Hàn Quốc), trong đó có 941 nam và 229 nữ, tỉ lệ nam/nữ là 4/1 Như vậy, với tỉ lệ nam gấp 4 lần nữ, số liệu của chúng tôi tương đương với một số tác giả khác trên thế giới

Tuổi: Tuổi trung bình của nghiên cứu là 16,2 với

độ lệch chuẩn ± 4, tuổi nhỏ nhất 6 và lớn nhất 28 tuổi Có 3 nhóm tuổi trong nghiên cứu này: nhóm 6 –

12 tuổi có 34 trường hợp (15%), nhóm 13 – 17 tuổi chiếm đa số 114 trường hợp (50%), nhóm tuổi trưởng thành và người lớn có 81 trường hợp (35%) Kelly R.E và cộng sự (2010), công bố công trình nghiên cứu 21 năm kinh nghiệm điều trị lõm ngực tại bệnh viện nhi khoa, bang Virginia (Mỹ) cho 1215 bệnh nhân lõm ngực trong thời gian từ năm 1987 đến năm 2008, tuổi trung bình điều trị 10 năm đầu là 6 và

11 năm sau là 14 tuổi, nhỏ nhất là 1 và lớn nhất 31 tuổi Pilegaard H.K và cộng sự (2008), thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu cho 383 bệnh nhân lõm ngực từ năm 2001 đến năm 2006 Tuổi trung bình là

16, nhỏ nhất 7 và lớn nhất 43 tuổi

Năm 2009, Olbrecht V.A và cộng sự nghiên cứu

và điều trị 307 bệnh nhân lõm ngực bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2009 tại bệnh viện John Hopkins, Baltimore (Mỹ), tuổi trung bình của bệnh nhân là 15,5 tuổi

Nội soi lồng ngực hỗ trợ

Theo số liệu nghiên cứu của chúng tôi, có 8 trường hợp (3,5%) sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ trong phẫu thuật xâm lấn tối thiểu điều trị 229 bệnh nhân lõm ngực Trong đó có 2 trường hợp (0,9%) phẫu thuật bằng kỹ thuật Ravitch và 1 trường hợp (0,4%) phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trước đó thất bại; một trường

Trang 4

hợp phẫu thuật trung thất trước đây (0,4%) 2 trường

hợp bệnh nhân có lõm ngực nặng (0,9%) 2 trường

hợp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu kết hợp với: cắt nốt

phổi đơn độc thùy trên phổi phải: 1 trường hợp (0,4%),

khâu kén khí thùy trên và thùy dưới phổi phải: 1

trường hợp (0,4%) HI trung bình của 8 bệnh nhân này

là 7,7, nhỏ nhất 3,8 và lớn nhất 19,3 Thời gian phẫu

thuật có nội soi hỗ trợ trung bình 122 phút, số lượng

máu mất 23 ml, thời gian nằm viện 8,4 ngày

Trong 8 bệnh nhân sử dụng nội soi lồng ngực hỗ

trợ trong phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, có 2 trường

hợp nội soi lồng ngực hỗ trợ hai bên, trong đó 1

trường hợp lõm ngực nặng nhất có chỉ số HI là 19,3

và có chèn ép tim - phổi trên chụp cắt lớp điện toán;

1 trường hợp thủng tim do phẫu thuật xâm lấn tối

thiểu trước đó thất bại Tất cả đều đặt dẫn lưu màng

phổi và rút sau 24-48 giờ Biến chứng sau phẫu thuật

của 8 trường hợp trên không đáng kể, chỉ có 1

trường hợp tràn khí màng phổi lượng ít, không cần

đặt dẫn lưu màng phổi

Theo Nuss D và cộng sự (2008), nghiên cứu điều trị

bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu 1015 bệnh nhân lõm

ngực từ năm 1987 đến năm 2008, số bệnh nhân phẫu

thuật lại có dùng nội soi lồng ngực hỗ trợ do thất bại của

phẫu thuật trước đó được ghi nhận: 44 trường hợp

phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, 40 trường hợp phẫu thuật

Ravitch, 2 trường hợp phẫu thuật Leonard Tác giả cho

rằng nội soi lồng ngực hỗ trợ đóng vai trò quan trọng

trong nhóm bệnh này, vì nội soi giúp quan sát quá trình

bóc tách và gỡ dính trước khi tạo đường hầm xuyên

qua trung thất trước sau xương ức Dẫn lưu màng phổi

là cần thiết trong quá trình theo dõi sau mổ xem có tràn

khí, tràn máu khoang màng phổi hay không

Tuy nhiên, cũng có một số tác giả cho rằng không

cần thiết phải nội soi lồng ngực hỗ trợ trong quá trình

thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu Liu, W Y và

cộng sự (2008), thực hiện phẫu thuật 108 bệnh nhân

lõm ngực từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 8 năm 2007

bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu và không sử dụng

nội soi lồng ngực hỗ trợ Trong đó, có 91 nam và 17

nữ, có độ tuổi từ 34 tháng đến 25 tuổi Chỉ số HI từ 3,6

đến 10,1 Kết quả phẫu thuật đều thành công và không

có trường hợp nào biến chứng nặng Thời gian phẫu

thuật trung bình là 40 phút Lượng máu mất trung bình

10 ml Tác giả cho rằng không sử dụng nội soi lồng

ngực hỗ trợ khi thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu

điều trị bệnh nhân lõm ngực thì an toàn và hiệu quả,

giảm chấn thương và giảm thời gian phẫu thuật

Theo Ji, Y và cộng sự (2008), từ tháng 7 năm

2003 đến tháng 11 năm 2007 điều trị 21 bệnh nhân

lõm ngực tái phát bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu

và không sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ, trong đó

15 trường hợp do phẫu thuật xâm lấn tối thiểu và 6

trường hợp do phẫu thuật Ravitch trước đó thất bại

Có 18 nam và 3 nữ, tuổi trung bình 13,3 tuổi, HI trung

bình là 3,98 Kết quả phẫu thuật đều thành công,

không có trường hợp nào biến chứng nặng Tác giả

cho rằng mặc dù phẫu thuật điều trị lõm ngực tái phát

khó khăn hơn phẫu thuật lần đầu, tuy nhiên không sử

dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ khi thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu thì an toàn, hiệu quả, giảm thời gian phẫu thuật [10]

Tuy còn một số quan điểm không đồng nhất trong

áp dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ khi thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu cho bệnh nhân lõm ngực nhưng chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ trong một số trường hợp là cần thiết cho những bệnh nhân có phẫu thuật lồng ngực trước đó: phổi - màng phổi, trung thất, phẫu thuật tim, phẫu thuật Ravitch, phẫu thuật Nuss, bệnh nhân có dày dính phổi

- màng phổi, bệnh nhân bị lõm ngực nặng có chèn ép tim - phổi trên chụp cắt lớp điện toán;… Đối với nhóm bệnh này, nội soi lồng ngực hỗ trợ giúp quá trình bóc tách và gỡ dính tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tạo đường hầm xuyên trung thất trước sau xương ức, nhằm giảm tối đa biến chứng phẫu thuật

Thực tế, nghiên cứu 8 trường hợp sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ của chúng tôi đều là những trường hợp khó và phức tạp, nhưng cho kết quả thành công

và không có trường hợp biến chứng nặng nào, mặc

dù thời gian phẫu thuật lâu hơn 122 phút so với không sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ 90 phút Như vậy, sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ trong phẫu thuật xâm lấn tối thiểu thì an toàn, hiệu quả, nhưng thời gian phẫu thuật lâu hơn so với không sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ

Kết luận

Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu có nội soi lồng ngực hỗ trợ được thực hiện an toàn, hiệu quả trong những trường hợp: bệnh nhân có tiền căn phẫu thuật tim, phổi, trung thất hay những bệnh nhân phẫu thuật Ravich, phẫu thuật Nuss thất bại trước đó Thời gian phẫu thuật nội soi lâu hơn so với không sử dụng nội soi

Tài liệu tham khảo

1 Vũ Hữu Vĩnh (2008) "Kỹ thuật can thiệp tối thiểu trong phẫu thuật lõm ngực" Y học Việt Nam, 352,

522-528

2 Aronson, D C , R P Bosgraaf, C van der Horst,

S Ekkelkamp (2007) "Nuss procedure: pediatric surgical

solution for adults with pectus excavatum" World J

Surg, 31, (1), 26-9; discussion 30

3 Brochhausen, C , S Turial, F K Muller, V H Schmitt, W Coerdt, J M Wihlm, F Schier, C J Kirkpatrick (2012) "Pectus excavatum: history,

hypotheses and treatment options" Interact Cardiovasc

Thorac Surg, 14, (6), 801-6

4 Cartoski, M J , D Nuss, M J Goretsky, V K Proud, D P Croitoru, T Gustin, K Mitchell, E Vasser,

R E Kelly, Jr (2006) "Classification of the

dysmorphology of pectus excavatum" J Pediatr Surg,

41, (9), 1573-81

5 Creswick, H.A , M W Stacey, R E Kelly, Jr., T Gustin, D Nuss, H Harvey, M J Goretsky, E Vasser,

J C Welch, K Mitchell, V K Proud (2006) "Family

study of the inheritance of pectus excavatum" J Pediatr

Surg, 41, (10), 1699-703

6 Croitoru, D.P , R E Kelly, Jr., M J Goretsky, T Gustin, R Keever, D Nuss (2005) "The minimally invasive Nuss technique for recurrent or failed pectus

excavatum repair in 50 patients" J Pediatr Surg, 40, (1),

Trang 5

181-6; discussion 186-7

7 Esteves, E , K C Paiva, M Calcagno-Silva, C C

Chagas, H Barbosa-Filho (2011) "Treatment of pectus

excavatum in patients over 20 years of age" J

Laparoendosc Adv Surg Tech A, 21, (1), 93-6

8 Fokin, A A , N M Steuerwald, W A Ahrens, K

E Allen (2009) "Anatomical, histologic, and genetic

characteristics of congenital chest wall deformities"

Semin Thorac Cardiovasc Surg, 21, (1), 44-57

9 Hadolt, B , A Wallisch, J W Egger, M E Hollwarth (2011) "Body-image, self-concept and mental

exposure in patients with pectus excavatum" Pediatr

Surg Int, 27, (6), 665-70

10 Ji, Y W Liu, B Xu, D Qin (2008) "Non-thoracoscopic minimally invasive Nuss procedure for

correction of recurrent pectus excavatum" Zhongguo

Xiu Fu Chong Jian Wai Ke Za Zhi, 22, (10), 1213-7.

Ngày đăng: 20/08/2015, 06:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tạo đường hầm xuyên trung thất có nội soi - ĐÁNH GIÁ kết QUẢ 8 TRƯỜNG hợp lõm NGỰC có sử DỤNG nội SOI LỒNG NGỰC hỗ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS tại BỆNH VIỆN CHỢ rẫy
Hình 1 Tạo đường hầm xuyên trung thất có nội soi (Trang 1)
Hình 2: Vị trí rạch da - ĐÁNH GIÁ kết QUẢ 8 TRƯỜNG hợp lõm NGỰC có sử DỤNG nội SOI LỒNG NGỰC hỗ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS tại BỆNH VIỆN CHỢ rẫy
Hình 2 Vị trí rạch da (Trang 2)
Bảng  4. Phẫu thuật kết hợp (n=229) - ĐÁNH GIÁ kết QUẢ 8 TRƯỜNG hợp lõm NGỰC có sử DỤNG nội SOI LỒNG NGỰC hỗ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS tại BỆNH VIỆN CHỢ rẫy
ng 4. Phẫu thuật kết hợp (n=229) (Trang 3)
Bảng  5.  Tiền  căn  phẫu  thuậ t  và  bệnh  kết  hợp - ĐÁNH GIÁ kết QUẢ 8 TRƯỜNG hợp lõm NGỰC có sử DỤNG nội SOI LỒNG NGỰC hỗ TRỢ TRONG PHẪU THUẬT NUSS tại BỆNH VIỆN CHỢ rẫy
ng 5. Tiền căn phẫu thuậ t và bệnh kết hợp (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w