Hoạch định chiến lược marketing cho sản phẩm thẻ connect24 của ngân hàng vietcombank tại TPHCM trong giai đoạn 2012 -2017
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO BÀI TẬP NHÓM QUẢN TRỊ MARKETING
ĐỀ TÀI: HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO SẢN
PHẨM THẺ CONNECT24 CỦA NGÂN HÀNG VIETCOMBANK
TẠI TPHCM TRONG GIAI ĐOẠN 2012-2017
GVHD: NGUYỄN VĂN THI
Trang 2HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO THẺ
CONNECT24 CỦA VIETCOMBANK TẠI THỊ TRƯỜNG TPHCM
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự phát triển của công nghệ tronglĩnh vực ngân hàng Trong khi thẻ ngân hàng đã được sử dụng phổ biến và là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của đông đảo dân chúng trên thế giới thì tại thị trường Việt Nam nó mới thu hút được sự quan tâm, đầu tư của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước vài năm trở lại đây
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế và mở cửa thị trường tài chính theo các cam kết với đối tác nước ngoài đã đặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho các NHTM, đó là sự tham gia của các tập đoàn tài chính quốc gia có thế mạnh về tài chính, kỹ thuật và công nghệ NHTM Việt Nam cần chủ động tham gia vào thương mại quốc tế, hợp tác
và cạnh tranh trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh quốc gia, từng bước tiến hành hiện đại hoá công nghệ, tin học hoá các hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng, xây dựng cơ sở kỹ thuật hiện đại cho việc triển khai các ứng dụng nghiệp vụ và dịch vụ mới Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ - sự lựa chọn hàng đầu của các NHTM cho sự phát triển lâu dài
và bền vững - là một chiến lược phát triển đúng đắn trong thời điểm hiện tại Hướng tới đối tượng khách hàng cá nhân, thẻ ngân hàng là công cụ quan trọng trong chiến lược phát triển
đó
Tham gia thị trường thẻ từ những ngày đầu tại Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) luôn chú trọng phát triển sản phẩm, nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiện ích sử dụng thẻ cho khách hàng Doanh số phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ của Vietcombank luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, chiếm hơn 50% doanh
số trên thị trường
Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển với quy mô dân số gần 90 triệu dân, đang ở thời kỳ
“dân số vàng” (gần 58 triệu người trong độ tuổi lao động thực tế) và mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, được đánh giá là thị trường tiềm năng cho các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng Chính vì thế, ngày càng có nhiều các ngân hàng trong nước cũng như ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường thẻ Việt Nam
và tập trung các nguồn lực cho phát triển dịch vụ thẻ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều chính sách cạnh tranh đa dạng, linh hoạt Đây là một cơ hội nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều thách thức, áp lực cho hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của Vietcombank, đòi hỏi
Trang 3phải cĩ chiến lược phát triển đúng đắn, huy động được các nguồn lực cũng như sự nỗ lực của các cán bộ trong tồn hệ thống.
Nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và đẩy mạnh sự pháttriển tồn diện hoạt động kinh doanh, duy trì vị thế hàng đầu của Vietcombank trên thị trường
thẻ Việt Nam,Nhĩm em chọn đề tài “ Hoạch định chiến lược marketing cho thẻ connect24
của ngân hàng Vietcombank tại thị trường TPHCM ”
A.MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
B.CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING2.TỔNG QUAN VỀ THẺ CONNECT24 CỦA NGÂN HÀNG VIETCOMBANK
C.HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO THẺ
CONNECT24 CỦA NGÂN HÀNG VIETCOMBANK TẠI TPHCM
I.PHÂN TÍCH MƠI TRƯỜNG MARKETING CỦA VIETCOMBANK
MƠI TRƯỜNG VĨ MƠ
1 Mơi trường vĩ mơ
Trong suốt quá trình hình thành và hoạt động, môi trường là một trong những yếu tố quan trọng, tác động không nhỏ đến sự phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Chính môi trường hoạt động thuận lợi đã tạo cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cơ hội khẳng định vị thế của mình trong hoạt động tài chính ngân hàng trong khu vực Trong xu thế phát triển ngày nay, môi trường kinh tế của Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang có những sự thay đổi nhất định Điều này sẽ tạo cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi
nhánh Thành phố Hồ Chí Minh những cơ hội phát triển mới cũng như không ít thử thách, khó khăn cần phải vượt qua
1.1 Môi trường chính trị – xã hội
Việt Nam là đất nước được cộng đồng thế giới đánh giá có môi trường chính trị – xã hội ổn định bậc nhất trong khu vực và trên thế giới Môi trường chính trị – xãhội ổn định là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế đất nước Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tận dụng những cơ hội nhất định
Trang 4Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh, đây là khu vực năng động với tốc độ phát triển ổn định bậc nhất trong cả nước Đây là một trong những thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng
1.2 Mơi trường pháp lý
Trong khoảng thời gian từ 1996 đến 2010, Ngân hàng Nhà nước đã có
những biện pháp hoàn thiện luật pháp về Ngân Hàng, thông qua việc sửa đổi, hoàn chỉnh hai bộ luật cơ bản, Luật Ngân Hàng Nhà nước và Luật Ngân Hàng Thương Mại Đồng thời, Ngân Hàng Nhà nước đã xác lập chính sách vĩ mô tiền tệ ngân hàng theo cơ chế thị trường, từ chính sách tiền tệ, tín dụng, lãi suất, hối đoái… Chính nhờ những nỗ lực của Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện luật pháp và các quy định đã tạo nhiều điều kiện cho hoạt động của các ngân hàng thương mại ngày càng thông thoáng và dễ dàng hơn Tuy nhiên, do đất nước đang còn trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế và hội nhập vào nền kinh tế thế giới nên các văn bản luật và các văn bản dưới luật điều chỉnh các hoạt động tài chính – ngân hàng vẫn chưa thật sự ổn định và chắc chắn nên cũng gây không ít khó khăn cho hoạt động ngân hàng Trong tương lai gần, hệ thống pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục được thực hiện nhằm thu ngắn khoảng cách với chuẩn mực của thế giới
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh còn được sự hỗ trợ rất nhiều từ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Trong những năm gần đây, hệ thống văn bản hướng dẫn các nghiệp vụ ngân hàng trong nộibộ Ngân hàng Ngoại thương cũng được từng bước hoàn chỉnh hơn Ngoài ra, các chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích hỗ trợ sản xuất kinh doanh của thành phố Hồ Chí Minh cũng đã góp phần tạo ra mộtmôi trường pháp lý thông thoáng cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính – ngân hàng nói riêng
Về cơ sở pháp lý, trong năm 2007 Chính phủ đã ban hành liên tiếp ba nghị định quantrọng, đĩ là Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử vềChữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số, Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về Giao dịch điện
tử trong hoạt động tài chính, Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về Giao dịch điện tử trong hoạtđộng ngân hàng Ngày 15/5/2007, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định
số 20/2007/QĐ-NHNN ban hành “Quy chế phát hành, thanh tốn, sử dụng và cung cấp dịch
vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng” đã mở rộng tổ chức phát hành thẻ và tổ chức thanh tốnthẻ ngồi ngân hàng, như tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chứckhác khơng phải tổ chức tín dụng cũng cĩ thể được phát hành thẻ Cũng vào năm 2007, Quyếtđịnh số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thanhtốn khơng dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 (Đề án 291) đã
Trang 5khẳng định quyết tâm và định hướng của Chính phủ trong việc đẩy mạnh TTKDTM, hạn chếtiền mặt trong lưu thơng, hướng tới một hệ thống thanh tốn hiện đại, an tồn và hiệu quả,phù hợp với xu hướng phát triển của khu vực cũng như thế giới trong quá trình hội nhập quốc
tế Tiếp theo Đề án
291, từ năm 2010, NHNN đã xây dựng Đề án đẩy mạnh thanh tốn khơng dùng tiền mặtgiai đoạn 2011-2015 tại Việt Nam và dự kiến trình Chính phủ ban hành vào cuối năm 2011.Bên cạnh đĩ, NHNN đang tiến hành rà sốt, xây dựng và sửa đổi một số thơng tư, nghị địnhcho phù hợp với thực tế, phù hợp với thơng lệ quốc tế và đồng bộ với các văn bản luật hiệnhành (Thơng tư quy định mức thu phí dịch vụ thanh tốn qua các tổ chức cung ứng dịch vụthanh tốn, Nghị định về cung ứng dịch vụ thanh tốn qua tài khoản và dịch vụ trung gianthanh tốn.v.v…) Đây sẽ là cơ sở thúc đẩy thương mại điện tử phát triển và cũng cho thấy sựthay đổi trong hệ thống ngân hàng Việt Nam trước xu thế mở cửa thị trường tài chính và hộinhập quốc tế
1.3 Mơi trường kinh tế
Điểm nổi bật nhất trong môi trường kinh tế hiện nay là sự hội nhập toàn cầu, nghĩa
là xóa bỏ bảo hộ, mở cửa hoàn toàn trong lĩnh vực ngân hàng và thực hiện đối xử bình đẳng Khi Hiệp định WTO chính thức có hiệu lực, toàn ngành Ngân hàng nói chung và Ngân Hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng sẽ đứng trước một bước ngoặt lịch sử lớn Điều này tạo động lực choVietcombank thực hiện những cải cách đổi mới, thực hiện những biện pháp thích ứng linh hoạt trước sự biến động của thị trường tài chính – ngân hàng trong và ngoài nước Ngoài ra,
Ngân Hàng Ngoại thương Việt Nam nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có thêm nhiều cơ hội tiếp cận những công nghệ và sản phẩm dịch vụ Ngân Hàng hiện đại, mở rộng hợp tác với các Ngân Hàng nước ngoài để rút ngắn khoản cách về trình độ so với thếgiới Bên cạnh đó, môi trường kinh tế trong giaiđoạn hội nhập cũng mang đến cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh những thách thức thực sự:
-Một là, chúng ta phải minh bạch hóa, chấp nhận sự thâm nhập của các Ngân Hàng nướcngoài và định chế tài chính quốc tế đối với tình hình tài chính ở nước ta
-Hai là, các ngân hàng nước ngoài sẽ thu hút nguồn nhân lực từ phía ngân hàng trongnước
-Ba là, chia sẻ thị phần với các ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh dịchvụ và sản phẩm Ngân Hàng hiện đại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh
Trang 6Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong khu vực có vai trò kinh tế quan trọng bậc nhấttrong cả nước, đóng góp 1/3 cho GDP cả nước Bên cạnh các hoạt động sản xuấtkinh doanh sôi động, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước ta, đồng thờilà trung tâm tài chính – ngân hàng dẫn đầu cả nước về số lượng và doanh số quan hệ tàichính – tín dụng Doanh thu của toàn hệ thống ngân hàng thành phố chiếm 1/3 doanh thutoàn hệ thống cả nước Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, khu vực Thành phốHồ Chí Minh sẽ là mũi nhọn phát triển hàng đầu của đất nước với làn sóng đầu tư mạnhmẽ và hệ thống doanh nghiệp phát triển nhanh chóng Vì vậy, hoạt động tài chính – ngânhàng sẽ càng lúc càng sôi động hơn,
đây là cơ hội lớn cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phốHồ Chí Minh
1.4 Mơi trường kỹ thuật cơng nghệ
Chúng ta đang đứng trước sự phát triển nhanh chóng từng ngày của khoa học công nghệ và chứng kiến sự tác động mạnh mẽ của nó đối với tất cả các hoạt động, đặc biệt là hoạt động kinh doanh Sự tiến bộ về kỹ thuật công nghệ làm thay đổi từ
phương thức quản lý đến sản phẩm của mọi doanh nghiệp
Ưùng dụng khoa học - kỹ thuật công nghệ thông tin mang đến cho hoạt động ngân hàng cơ hội đổi mới bộ máy và cơ cấu quản lý, hiện đại hóa và phát triển sản phẩm Công nghệ ngân hàng tiên tiến là nền tảng để xây dựng giá trị trao đổi vượt trội cho các sản phẩm ngân hàng Vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức, sự phát triển của khoa học – kỹ thuật – công nghệ thông tin nhanh chóng đang là mối đe dọa cho các hoạt động của ngân hàng Sự chậm trể trong việc ứng dụng công nghệ mới sẽ làm cho hiệu quả
MƠI TRƯỜNG VI MƠ
1.Các quan hệ đại lý
Với 30 năm hoạt động và truyền thống lâu đời về kinh doanh ngoại hối, Ngân Hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh có mối quan hệ đại lý với hầu hết các Ngân hàng trong nước và hơn 1500 ngân hàng nước ngoài trên hơn 100 nước trên khắp các châu lục
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang là đại lý chính thức của tổ chức chuyển tiền nhanh quốc tế MoneyGram;là đại lý thanh toán 5 loại thẻ tín dụng quốc tế Visa, MasterCard, JCB, American Express và DinnersClub đồng thời phát hành 3 loại thẻ: Vietcombank-Visa, Vietcombank-
Trang 7MasterCard và Vietcombank American Express Cho đến thời điểm hiện tại, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những ngân hàng thương mại có uy tín nhất với các ngân hàng thương mại nước ngoài trong số hơn 30 ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam
2 Khách hàng
Theo mục tiêu và phương châm phát triển, thị trường mà Vietcombank nhắm tới
trong thời gian sắp tới là tất cả đối tượng có nhu cầu về sử dụng các sản phẩm dịch vụngân hàng bao gồm khách hàng cá nhân lẫn khách hàng doanh nghiệp Nhu cầu của khách hàng cá nhân trong thời gian qua tại khu vực thành phố HồChí Minh ngày một gia
tăng đa dạng hơn Ngoài các sản phẩm truyền thống như tiết kiệm, cho vay tiêu dùng hay cho vay sản xuất kinh doanh, nhu cầu các sản phẩm mới ngày càng nhiều: sản phẩm thẻ, sản phẩm thanh toán, chuyển tiền……
3.Đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
– chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh trên thị trường dịch vụ ngân hàng tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh khá đa dạng và đông đảo: các hệ thống ngân hàng hương mại quốc doanh, các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước, ngân
hàng nước ngoài
Các ngân hàng thương mại quốc doanh hiện nay có thể kể đến: Ngân hàng Côngthương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long Trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ trực tiếp của hệ thống các chi nhánh Ngân hàng nơng nghiệp và phát triển nơng thơng với thế mạnh hệ thống rộng khắp và hoạt động manh,Ngân hàng Đơng Á,Ngân Hàng Viettinbank là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong lĩnh vực kinh doanh thẻ
Bảng so sánh sản phẩm thẻ ghi nợ của Connect 24 với một số đối thủ
Trang 8Card
Thẻ ĐaNăng RichlandHill
Thẻ liên kết sinh viên
Thẻ ĐaNăng Đông Á
Thông A Club Card
và hơn 26%
thị phầnmạng lướiPOS (hơn9.700 máyPOS)
930 MáyATM(hệthốngVNBC)
1702 máyATM vàhàngnghìnEDC/POStại quầygiao dịchcủa
600
Trang 9và không ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm thẻ để cạnh tranh Đặc biệt tuy một
số ngân hàng phát hành thẻ nội địa sau Vietcombank nhưng luôn có những chương trình ưu đãihấp dẫn không kém dành cho khách hàng, miễn phí làm thẻ với số lượng lớn nhằm bắt kịpnhững ngân hàng hoặc chi phí phát hành thấp hơn so với Vietcombank (Agribank, đông á,sacombank, Eximbank ), bên cạnh những hệ thống ngân hàng này cũng đang đầu tư nhiều choviệc thiết lập hệ thống đơn vị chấp nhận thẻ cũng như hệ thống máy rút tiền tự động trên cả nước
Những điểm giống giữa sản phẩm thẻ nội địa của đối thủ cạnh tranh so với ngân hàng
-Đáp ứng được những tiện ích cơ bản nhất cho khách hàng: có thể rút tiền mặt khi cần, gửi tiền,chuyển khoản cho người thân , thanh toán khi mua hàng qua mạng, siêu thị…
¯ Những ưu đãi khuyến mãi thường xuyên cho khách hàng sử dụng
Trang 10 Điểm mạnh của ngân hàng so với những đối thủ
¯ Thương hiệu Vietcombank đã tạo được nhiều uy tín trong lịng khách hàng
¯ Số lượng đơn vị chấp nhận thẻ rộng
¯ Luơn cĩ những ưu đãi vượt trội khá hấp dẫn cho chủ thẻ
¯ Thẻ của Vietcombank cĩ thể liên minh với 21 ngân hàng khác ( liên minh lớn nhất so với
những ngân hàng khác)
¯ VCB connet 24 cĩ thể thanh tốn thức tiếp khi mua hàng tại các siêu thị, shop (ĐVCNT).
¯ Phí giao dịch rẻ hơn đối thủ cạnh tranh
Điểm yếu hơn so với đối thủ cạnh tranh
¯ Sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa chưa đa dạng về mẫu mã
¯ Chưa cĩ sản phẩm thẻ dành riêng cho một nhĩm khách hàng đặc trưng (Sacombank cĩthẻ dành cho sở hữu là phụ nữ với những đặc trưng mang phong cách riêng )
MƠI TRƯỜNG NỘI BỘ
Trong khoản thời gian 1996 – 2010, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phốHồ Chí Minh đã tiến hành tái cơ cấu tổ chức hoạt động khámạnh mẽ theo trào lưu phát triển triển của nền kinh tế cả nước và chủ trương của Nhà nước nhằm thực hiện 2 nội dung chính: cấp gia tăng vốn điều lệ và xử lý dứt điểm nợ tồn đọng
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ ràng mục tiêu phấn đấu của mình: Phấn đấu trở thành một Ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn và bán lẻ, mở rộng dịch vụ ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế trong nước và trở thành một ngân hàng quốc tế đa khu vực ; với phương châm An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng ; An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh Tăng trưởng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của Ngân Hàng , từ đó có những biện pháp cụ thể:
Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng – kỹ thuật – công nghệ ngân hàng hiện đại
Xây dựng đội ngũ nhân viên trẻ có đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn cao Xây dựng văn hoá doanh nghiệp tiên tiến Tái cấu trúc bộ máy hoạt động phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ mới
1.Tổng quan về Vietcombank TP Hồ Chí Minh
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Vietcombank Thành phố Hồ Chí
Minh
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những chi nhánh ngân hàng có truyền thống lâu đời trong hoạt động tài chính – ngân hàng trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận
Trang 11Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vàongày 01 – 11 – 1976, theo quyết định số 951 – NH/QĐ do thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ký ngày 28 – 9 – 1976; là chi nhánh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh trên nền tảng tiếp quản hệ thống ngân hàng Việt Nam thương tín; thực hiện hoạt động ngân hàng và quản lý nhà nước trong các lĩnh vực ngoại hối và thanh toán quốc tế của khu vực phía Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Trong 36 năm hình thành và hoạt động Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
– chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua 3 giai đoạn phát triển tương ứng với 3 thời kỳ phát triển của nền kinh tế đất nước:
Giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Nam
Đây là thời kỳ mà nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn: hậu quả chiến tranh nặng nề, sựlệch pha giữa hai nền kinh tế miền Nam và miền Bắc, sự phong tỏa kinh tế của các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa, cơ sở vật chất, hạ tầng, kỹ thuật của nền kinh tế còn rất nhiều yếu kém và bất cập…
Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được phân công thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các hoạt động ngân hàng trên các phương diện: độc quyền quản lý ngoại hối, điều hành tác nghiệp quỹ ngoại tệtrong nước, độc quyền giao dịch thanh toán quốc tế, độc quyền cung ứng tín dụng xuất nhập khẩu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được phân công phụ trách khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận
Nền kinh tế tập trung bao cấp mang trong nó nhiều vấn đề bất cập đã tác động rất lớn đến các hoạt động tài chính - ngân hàng Do đó, hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳnày còn rất hạn hẹp mang nặng tính quản lý nhà nước hơn là hoạt động kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã nhanh chóng khẳng định vị thế, vai trò của mình trong các lĩnh vực hoạt động ngoại hối và hỗ trợ thanhtoán xuất nhập khẩu trong khu vực
Giai đoạn đổi mới nền kinh tế (1986 -1996)
Đây là giai đoạn nền kinh tế đất nước có nhiều sự thay đổi nhanh chóng: nền kinh tế đổi mớitừ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Trong bối cảnh chung đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nhân tố tích cực và có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới của khu vực
Theo chủ trương kinh tế của cả nước, hoạt động của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn này đã dần dần tách khỏi chức năng quản lý nhà nước, trở thành các đơn vị kinh tế độc
Trang 12lập kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Sự tháo gỡ này đã tạo những điều kiện để Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành
phố Hồ Chí Minh phát triển những hoạt động của mình
Tiếp tục khẳng định vị thế quan trọng của mình trong lĩnh vực hoạt động ngoại hối và thanh toán quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minhnhanh chóng tiếp cận ứng dụng công nghệ ngân hàng (tham gia Swift 1995 và phát hành thẻ tín
dụng quốc tế đầu tiên 1992, thẻ ATM đầu tiên 1993) từ đó tiếp tục xây dựng những lợi thế của mình trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng nhất là lĩnh vực thanh toán Song song đó, các hoạt động tín dụng và các sản phẩm ngân hàng khác cũng nhanh chóng được hoàn thiện và phát triển tạo tiền đề cho một sự phát triển toàn diện của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh trong cung cấp các sản phẩm dịchvụ ngân hàng bên cạnh thế mạnh truyền thống là các sản phẩm liên quan đến lĩnh vực ngoại hối và thanh toán
Giai đoạn hội nhập và cạnh tranh (1996 -2010)
Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam có nhiều bước phát triển nhanh chóng, vượt bật: cơ cấu nền kinh tế chuyển đổi nhanh chóng, thành phần kinh tế phát triển đa dạng làn sóng đầu
tư mạnh mẻ từ nước ngoài vào Việt Nam, cơ sở vật chất, hạ tầng, kỹ thuật của nền kinh tếcó nhiều tiến bộ, sự hội nhập nhanh chóng của kinh tế đất nước vào nền kinh tế thế giới
… Tất cả những điều đó đãtạo nên những cơ hội phát triển cũng như thách thức cho lĩnh vực tài chính - ngân hàng dẫn đến quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ các Ngân hàng thương mại trêncảnước
Bối cảnh lịch sử đã tác động tích cực đến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, đem lại nhiều thành tựu nhất định Chi nhánh đã trở thành mộtngân hàng thương mại thực thụ theo cơ chế thị trường,giữ vững vị trí dẫn đầu trong hệ thống chi nhánh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Sự phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh hình thành từ các chiến lược phát triển đúng đắn của Chi nhánh: đa dạng hoá sản phẩm dựa trên cơ sở giữ vững thế mạnh truyền thống, tăng trưởng cao và phát triển quy mô kinh doanh về lượng; nâng cao chất lượng dịch vụ về mọi mặt với phương châm An toàn – Hiệu quả – Nhanh chóng Nền kinh tế phát triển đi cùng với sự gia nhập nhanh chóng của nhiều ngân hàng mới, trong nước cũng như ngoài nước đã làm cho môi trường hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh chịu nhiều sức ép cạnh tranh hơn
1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất
1.2.1 Cơ cấu tổ chức