1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay

92 731 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay
Tác giả Phạm Thị Thu Hồng
Người hướng dẫn PTS. Phan Thanh Khôi
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Khoa học Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 773,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay

Trang 1

Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Phạm Thị Thu Hồng

Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức

tỉnh An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Triết học

Hà Nội -1999

Trang 2

Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Phạm Thị Thu Hồng

Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức

tỉnh An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS

Mã số: 5.01.02

Luận văn thạc sĩ khoa học triết học

Người hướng dẫn khoa học: PTS Phan Thanh Khôi

Hà Nội - 1999

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PTS Phan Thanh Khôi

Các số liệu, kết quả nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc

xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 4 tháng 10 năm 1999

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Hồng

Trang 5

Mục lục

Trang

Chương 1 Trí thức và vai trò của trí thức nước ta trong sự

1.1 Trí thức và lao động sáng tạo của trí thức 61.2 Trí thức nước ta trong sự nghiệp đổi mới 13

Chương 2 Thực trạng đội ngũ trí thức An Giang và vai trò của

2.2 Thực trạng của đội ngũ trí thức An Giang 272.3 Những đóng góp quan trọng của trí thức An Giang cho sự nghiệp

Chương 3 Bước phát triển mới của tỉnh An Giang từ 1996 - 2010 và

những giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa vai trò đội ngũ trí thức của tỉnh

453.1 Bước phát triển mới của tỉnh An Giang từ 1996 - 2010 453.2 Những giải pháp chủ yếu để trí thức An Giang tiếp tục phát huy

tốt vai trò của mình trong công cuộc đổi mới của tỉnh 54

Trang 6

Khi đất nước đang bước vào giai đoạn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vai trò lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức ngày càng được xã hội ghi nhận, không chỉ trong phạm vi toàn quốc, mà còn ở cả các địa phương

An Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có những tiềm năng to lớn về đất đai, nguồn lợi tự nhiên, đồng thời còn là mảnh đất có truyền thống yêu nước và cách mạng Những năm qua, Đảng bộ nhân dân địa phương, trong đó có lực lượng trí thức, đã phát huy thế mạnh của mình và khắc phục những khó khăn để từng bước đi lên hoà nhập với sự phát triển của đất nước

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được của An Giang mới chỉ là bước đầu Giai đoạn tới của tỉnh đến năm 2010, là cả một sự nghiệp đã được xây dựng trong

đề án "Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang thời kỳ 1996

- 2010" mà phương hướng và nhiệm vụ cơ bản được Nghị quyết Đại hội tỉnh

Đảng bộ (lần VI), năm 1996, nêu ra Để đưa sự nghiệp đó đến thành công, phải

Trang 7

có sự cố gắng nhân dân lao động nói chung và của đội ngũ trí thức An Giang nói riêng

Cũng trước tình hình đó, nhận thấy, trí thức An Giang, bên cạnh những ưu

điểm, đã bộc lộ không ít những tồn tại và hạn chế Vì vậy, phát huy được vai trò của trí thức An Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay là yêu cầu cấp bách

Nghiên cứu khoa học góp phần phát huy vai trò và tính tích cực của trí thức

An Giang vì sự nghiệp đổi mới tỉnh nhà là niềm quan tâm và trách nhiệm chung của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương hiện nay Xuất phát từ tình

hình trên, tác giả đã chọn đề tài "Nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh An

Giang trong công cuộc đổi mới hiện nay" làm luận văn thạc sĩ triết học của

mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng,

đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, được xác định qua nhiều văn bản của

Đảng và Nhà nước ta Gần đây, đáng chú ý có: Nghị quyết 26/BCT (khoá VI)-

"Về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới", Hà Nội, 1991; Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) - "Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo ", và "Về định hướng phát triển khoa học và công nghệ " Hà Nội, 1996; Đỗ Mười - “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước" Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1996

Trong thời gian qua cũng đã có những luận án, luận văn viết về đề tài trí thức ở những góc độ khác nhau Như: Phan Thanh Khôi - "Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay", luận án PTS triết học, 1992; Nguyễn Thanh Tuấn - "Đặc điểm và vai trò đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới của

đất nước hiện nay", luận án PTS triết học, 1995; Nguyễn Thị Hoà Bình - "Trí thức

Trang 8

ngành y tế trong quá trình cách mạng nước ta", luận án thạc sĩ triết học, 1996; Nguyễn Đình Minh - "Nâng cao vai trò của trí thức quân đội trong sự nghiệp bảo

vệ Tổ quốc", luận án thạc sĩ triết học, 1997; Nguyễn Xuân Phương - "Đổi mới quan hệ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam với việc phát huy sáng tạo của trí thức nước ta hiện nay", luận án thạc sĩ triết học, 1997; Nguyễn Thị Phượng - "Vai trò của tầng lớp trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá", luận án thạc sĩ triết học, 1997

Ngoài ra có khá nhiều bài viết trên báo và tạp chí Trung ương và cả ở tỉnh

An Giang bàn về trí thức và những vấn đề liên quan

Các công trình và bài viết trên chưa có điều kiện hoặc không có chủ đích bàn riêng, nhất là ở một hình thức là luận văn trên ĐH về những vấn đề của trí thức An Giang trong công cuộc đổi mới ở tỉnh hiện nay Tuy nhiên, đây là những tài liệu tham khảo quí giá giúp tác giả luận văn trong khi thực hiện đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Luận văn làm rõ thêm về đội ngũ trí thức An Giang và góp phần tác động để lực lượng này thực hiện tốt hơn nữa vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp đổi mới ở tỉnh

- Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Làm rõ những khái niệm cơ bản (“trí thức”, “lao động sáng tạo của trí thức”, “trí thức nước ta” ) làm cơ sở để trình bày những nội dung cụ thể tiếp theo

Trình bày và phân tích rõ thực trạng, cũng như những đóng góp quan trọng của trí thức An Giang đối với sự phát triển của tỉnh

Trang 9

Xác định được phương hướng, mục tiêu phát triển mới của tỉnh, đồng thời

là những nhiệm vụ mới tương ứng của trí thức An Giang

Sau nữa, tập trung nêu lên và phân tích những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy khả năng của trí thức An Giang vì sự thắng lợi của công cuộc đổi mới tới đây ở tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đội ngũ trí thức An Giang là sản phẩm của cả một quá trình lịch sử, nhưng

ở đây luận văn chú ý hơn cả đến lực lượng này trong những năm đổi mới của đất nước, nhất là từ sau Đại hội VIII lại đây

Trí thức An Giang, mà luận văn bàn đến, là cả một đội ngũ trí thức với những con người sinh trưởng ở An Giang hoặc những vùng khác trên đất nước,

đang sinh sống trên địa bàn tỉnh, đang lao động sáng tạo khoa học vì sự phát triển, đi lên của An Giang

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời, luận văn còn chú ý đến những văn bản của Đảng uỷ và chính quyền địa phương của tỉnh

An Giang trong những năm gần đây

Luận văn kế thừa hợp lý những thành tựu nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn liên quan của các tác giả và các đề tài nghiên cứu khoa học

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có chủ nghĩa xã hội khoa học Về phương hướng cụ thể, luận văn chú ý nhiều đến kết hợp các phương pháp lôgích và lịch sử, thống kê và phân tích, tổng hợp và so sánh

Trang 10

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề trí thức nói chung và đội ngũ trí thức An Giang nói riêng - bộ phận lao động trí tuệ quan trọng của công cuộc đổi mới hiện nay

Luận văn góp phần làm cơ sở khoa học cho các cấp uỷ đảng, chính quyền

địa phương trong quá trình lãnh đạo, quản lý trí thức và hoạt động khoa học vì sự nghiệp đổi mới ở tỉnh

Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy những chuyên đề lý luận chính trị có liên quan trong các trường học ở tỉnh

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:

Chương 1: Trí thức và vai trò của trí thức nước ta trong sự nghiệp đổi mới

Chương 2: Thực trạng đội ngũ trí thức An Giang và vai trò của họ trong

giai đoạn hiện nay

Chương 3: Bước phát triển mới của tỉnh An Giang từ 1996 - 2010 và

những giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa vai trò đội ngũ trí thức của tỉnh

Trang 11

Chương 1 Trí thức và vai trò của trí thức

trong sự nghiệp đổi mới 1.1 Trí thức và lao động sáng tạo của trí thức

1.1.1 Khái niệm trí thức

Khái niệm "trí thức"được dùng ở nhiều nước trên thế giới và có nguồn gốc

từ tiếng La tinh: Intelligentia (Intelligentia nghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết, có suy nghĩ) Khái niệm này, trở nên thông dụng từ những năm nửa sau thế

kỷ XIX, để chỉ những người có học thức, học vấn cao, chuyên lao động trí óc

Tuy nhiên, tuỳ từng giai đoạn lịch sử cụ thể trong quá trình phát triển của nhân loại, của mỗi quốc gia và dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, mà có nhiều định nghĩa về trí thức Trong cuốn từ điển Triết học đã giải thích "Trí thức

là tập đoàn xã hội, gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học và là một bộ phận viên chức" [4] Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học viết: "Trí thức là một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao

động đó" [46, 15] Lênin khi nói về trí thức, Người khái quát: "Trí thức là tất cả những người có học thức, đại diện cho những người tự do nói chung, đại diện cho lao động trí óc (brain worker như người Anh vẫn nói) khác với những đại diện cho lao động chân tay" [29]

Nhìn chung, trong nhiều định nghĩa đã cho thấy trí thức có một số đặc trưng cơ bản như sau: Là một tầng lớp xã hội; lao động trí óc phức tạp; có học vấn và chuyên môn cao; tạo ra những tri thức mới, tuyên truyền và ứng dụng khoa học để đẩy nhanh sự phát triển của xã hội

Trang 12

Trí thức là người lao động trí óc, nhưng không phải tất cả những người lao

động trí óc đều là trí thức Bởi vì, lao động trí óc là khái niệm rộng bao gồm tất cả lao động trí óc ở mức độ khác nhau từ giản đơn đến phức tạp Những người lao

động trí óc giản đơn mang tính chất thừa hành, chưa phải là trí thức Chỉ những người nào lao động trí óc phức tạp, có một trình độ học vấn và chuyên môn cao, cần thiết cho lĩnh vực lao động ấy, mới có khả năng trở thành trí thức Trình độ học vấn và chuyên môn cao này đòi hỏi ở mức độ nào là tuỳ thuộc vào thời điểm lịch sử, vào điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá của mỗi nước Trong thời đại ngày nay, người trí thức phần lớn phải có trình độ học vấn ít nhất từ CĐ, ĐH hoặc tương đương trở lên

Tuy nhiên, trình độ học vấn chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để trở thành trí thức Vì có nhiều người có trình độ học vấn từ CĐ, ĐH hoặc cao hơn nữa nhưng vì nhiều lý do nào đó họ lại không tham dự vào lao động trí óc phức tạp Vì vậy, muốn trở thành trí thức cần phải có một điều kiện nữa có ý nghĩa quyết

định đó là lao động sáng tạo

Lao động sáng tạo của trí thức sẽ đưa lại nội dung khoa học mới, tiến bộ hữu ích, truyền đạt nó trong xã hội và ứng dụng vào thực tiễn để nâng cao chất lượng hoạt động xã hội tương ứng Lao động sáng tạo của trí thức còn có khả năng dự đoán tương lai và phương hướng giải quyết những vấn đề phức tạp của

đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá Đặc trưng lao động sáng tạo ấy của trí thức là cơ sở để phân biệt tầng lớp này với các nhóm xã hội khác

Những người lao động trí óc trong nhóm xã hội "viên chức" có không ít những người có trình độ học vấn CĐ, ĐH và sau ĐH Nếu những người có trình

độ học vấn cao ấy chỉ dùng những tri thức khoa học của mình nhằm làm tốt hơn nhiệm vụ hành chính mang tính chất thừa hành, thì họ hoàn toàn nằm trong nhóm xã hội viên chức Nhưng nếu trong số họ, ngoài công việc viên chức của mình ra,

Trang 13

còn tham gia lao động sáng tạo (nghiên cứu khoa học, giảng dạy, tổng kết lý luận, nghiên cứu ứng dụng khoa học ) thì đó chính là sự biểu hiện của xu hướng

"viên chức trí thức hoá", là sự xích lại gần nhau giữa các bộ phận lao động trong xã hội hiện đại

Trên thực tế, có một số người tuy không có bằng cấp cao, nhưng nhờ chịu khó học hỏi trong sách báo, trong thực tiễn lao động, có trí thông minh và tài năng đặc biệt, nên đã có những phát minh khoa học, những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị lớn Những người đó xứng đáng là những trí thức thực thụ

Trong nền sản xuất xã hội, tuỳ theo mối quan hệ của các giai tầng với các tư liệu sản xuất, vai trò tổ chức xã hội đối với lao động mà các giai cấp, các tầng lớp xã hội có vị trí, vai trò khác nhau Trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất Cho nên, trí thức không phải là một giai cấp mà

là một tầng lớp xã hội Mặc dù vậy, tầng lớp này không phải là "siêu giai cấp",

"đứng trên giai cấp", là "trọng tài của các giai cấp", mà chỉ là một tầng lớp luôn

"phụ thuộc" vào một giai cấp - giai cấp thống trị của nền sản xuất ấy Vì thế Lênin chỉ rõ: "Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là con số không" [29] Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh rằng: trong các xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn luôn chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng

đội ngũ trí thức để phục vụ cho quyền thống trị, lợi ích thiết thực của giai cấp mình; và bản thân tầng lớp trí thức chỉ có thể tồn tại, phát triển gắn liền với việc phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị

Trong chủ nghĩa xã hội, tầng lớp trí thức mới được hình thành gắn liền với

sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc Đội ngũ ấy có trình độ chuyên môn cao,

được trang bị thế giới quan mác xít và phương pháp luận khoa học, có khả năng

đóng góp to lớn cho phát triển khoa học của đất nước và tiến bộ của nhân loại Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp

Trang 14

nông dân và tầng lớp trí thức là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho nhà nước xã hội chủ nghĩa và toàn bộ công cuộc xây dựng xã hội mới

ở nước ta, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức lại càng có tầm quan trọng lớn lao Khối liên minh ấy " là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, là một vấn đề chiến lược, là nguyên tắc sống còn của Đảng, là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được củng cố, giữ vững và tăng cường Đây là một kinh nghiệm và là một truyền thống cơ bản, quí báu của Đảng cộng sản Việt Nam, là nguồn gốc sức mạnh vô tận bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng nước ta" [3]

1.1.2 Những đặc điểm lao động sáng tạo của trí thức

Lao động là đặc trưng cơ bản nhất của đời sống xã hội Nhờ có lao động

mà con người dần hoàn thiện, xã hội tồn tại và phát triển không ngừng Lao động

là quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên Con người tác động vào tự nhiên

để biến đổi, cải tạo tự nhiên phục vụ nhu cầu của mình Do vậy, lao động, nói chung, là sáng tạo

Trong các dạng thức lao động, thì lao động trí óc phức tạp của trí thức mang tính sáng tạo rõ nét nhất Đó là kiểu lao động sáng tạo khoa học Lao động sáng tạo khoa học của trí thức có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là , tạo ra những tri thức khoa học mới, tiến bộ và hữu ích Những tri

thức này góp phần làm giàu thêm kho tàng tri thức dân tộc và nhân loại Đồng thời, người trí thức truyền bá và ứng dụng những tri thức ấy trong thực tiễn để nâng cao mọi mặt của đời sống xã hội

Bản thân lao động sáng tạo là phát hiện ra những đặc tính, những mối liên

hệ bản chất mới của các sự vật, hiện tượng mà con người chưa biết đến Vì vậy,

Trang 15

trong sản phẩm lao động sáng tạo của trí thức phải bao hàm tri thức mới Cái mới trong sáng tạo khoa học là biểu hiện tính cách mạng của lao động sáng tạo Cho nên, khoa học và cách mạng, lý luận và thực tiễn trở thành nguyên tắc của nhận thức luận chân chính, là phương châm của người trí thức tiến bộ

Cái mới của lao động sáng tạo khoa học phải mang tính hữu ích cho xã hội Tính hữu ích là mục đích đạt tới của lao động sáng tạo mà người trí thức mong muốn Cái mới phải phục vụ nhu cầu phát triển ngày càng cao của đời sống xã hội Cái mới phải hướng tới "chân, thiện, mỹ" của nhân loại thì người trí thức mới là người lao động chân chính

Kết quả lao động sáng tạo khoa học phải được phổ biến để ứng dụng trong thực tiễn, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống thì sản phẩm ấy mới có giá trị

đích thực Thực tiễn vừa là cơ sở cho người trí thức nhận thức đối tượng, để có cái mới trong sáng tạo Ngược lại, kết quả lao động sáng tạo quay trở lại phục vụ thực tiễn làm cho đời sống xã hội ngày càng thêm phong phú Vì vậy, cái mới phải được phổ biến và ứng dụng vào thực tiễn nhằm phục vụ nhu cầu của con người thì mới đạt tới giá trị xã hội

Hai là , lao động sáng tạo đòi hỏi người trí thức phải có kiến thức khoa học

cơ bản, và kiến thức chuyên ngành sâu, đồng thời phải có phương pháp tư duy khoa học thích hợp Đây là những nhân tố có tính chất quyết định cho quá trình lao động để giới trí thức tạo ra những tri thức mới có nội dung với mức độ cao về khoa học Kiến thức khoa học biểu hiện ở trình độ học vấn, còn phương pháp khoa học là phương tiện để người trí thức đạt tới mục tiêu sáng tạo khoa học, mà chủ yếu là nói đến kiểu tư duy khoa học, tư duy logíc Có những phương pháp có tính phổ biến cho các ngành khoa học, có những phương pháp được áp dụng riêng cho từng ngành khoa học hoặc trong từng lĩnh vực khoa học khác nhau Phương pháp là công cụ để sáng tạo khoa học; ngược lại, trong quá trình sáng tạo

Trang 16

người trí thức cũng có thể phát minh ra những phương pháp khoa học mới Lúc này, phương pháp trở thành nội dung sáng tạo, thúc đẩy sáng tạo cao hơn

Liên quan đến phương pháp khoa học là khả năng dự báo tương lai của trí thức Người trí thức dự báo tương lai dựa trên cơ sở khoa học về qui luật vận

động của lịch sử để nhìn nhận quá trình phát triển sắp tới của xã hội Sự phát triển của xã hội vận động theo qui luật và phải trải qua các giai đoạn lịch sử nhất

định, theo chiều hướng đi lên dựa vào nhau, kế thừa nhau Trong tiến trình phát triển của nó, người ta tìm thấy trong đó những vết tích của quá khứ, những cơ sở của hiện đại và những mầm mống của tương lai Dự báo tương lai là khả năng kỳ diệu của con người và là ước mơ lâu đời của nhân loại Người trí thức có kiến thức, có phương pháp khoa học thì dự báo đúng Dự báo đúng sẽ làm cơ sở khoa học cho các quyết sách phát triển kinh tế - xã hội Ngược lại, dự báo sai, sẽ gây tác hại rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội Những người trí thức mác xít dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học duy vật và biện chứng, có khả năng to lớn cho dự báo quá trình phát triển của tương lai

Năng khiếu là một yếu tố rất cần thiết trong lao động sáng tạo khoa học Một số ngành khoa học như: hội hoạ, âm nhạc, thể thao, văn học năng khiếu trở thành điều kiện quan trọng Năng khiếu được biểu hiện rất sớm ở con người, nếu phát hiện, bồi dưỡng kịp thời sẽ phát huy tác dụng rất tốt Tuy nhiên, năng khiếu

từ dạng khả năng đến phát huy tác dụng thành tài là một khoảng cách Không phải những người có năng khiếu đều trở thành tài năng Từ năng khiếu đến tài năng là một quá trình phấn đấu học tập, lao động bền bỉ, lâu dài Trong lao động sáng tạo, năng khiếu là nhân tố tích cực của hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà khoa học phát huy năng lực trí tuệ tốt hơn, khắc phục được khó khăn trong quá trình lao động

Trang 17

Ba là, lao động sáng tạo của trí thức không chỉ đòi hỏi sự vận động tự duy

Bốn là , sản phẩm của lao động sáng tạo bảo đảm cái mới trên cơ sở mang

tính kế thừa nhưng không lặp lại Cái mới trong sáng tạo khoa học không phải là những cái gì thật khác thường, "lạ lẫm" Nó được phát kiến dựa trên những tri thức mà nhân loại đã tạo ra Những tri thức này làm nền cho quá trình sáng tạo, lúc đó, tri thức cũ là cơ sở phương pháp luận gián tiếp hoà vào tri thức mới Sự kế thừa đó làm cho tri thức của nhân loại như một dòng chảy liên tục và nhận thức của con người phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Cái mới mang tính kế thừa nhưng không lặp lại cái cũ Do vậy những sản phẩm đa dạng của lao

động trí óc mang tính duy nhất: không ai giống ai, không công trình nào giống công trình nào (dù cùng một chủ đề và của chính một tác giả)

Sau nữa, lao động sáng tạo của người trí thức mang tính độc lập cá nhân cao Khi đã có kế hoạch làm việc, khi đã nhận nhiệm vụ được giao , thì hoạt

động chủ yếu của người trí thức là vận động tư duy của mình để tìm ra cách tối

ưu nhằm đạt kết quả cao nhất Thời gian làm việc của trí thức không "gò bó" vào

Trang 18

những lúc nhất định; và không gian làm việc cũng vậy, không hẳn là một nơi (có thể ở cơ quan, ở nhà, ở nơi liên kết ) [30]

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của lao động sáng tạo Qua đó, một mặt để phân biệt kiểu làm việc của người trí thức với hoạt động của các ngành xã hội khác; mặt khác quan trọng hơn, để lưu ý công tác lãnh đạo và quản lý trí thức cần xác thực phù hợp để đem lại hiệu quả nhiều hơn cho lao động sáng tạo khoa học của đội ngũ này

1.2 Trí thức nước ta trong sự nghiệp đổi mới

1.2.1 Thực trạng trí thức nước ta

Do hoàn cảnh lịch sử và truyền thống dân tộc, đội ngũ trí thức nước ta có quá trình lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với truyền thống dựng nước và giữ nước, truyền thống hiếu học của cả dân tộc Trong suốt 10 thế kỷ (1075 - 1919), qua các kỳ thi do triều đình phong kiến tổ chức, đã chọn được 2.898 hiền tài cho đất nước Họ là những nông dân, sĩ phu đại diện tinh hoa, trí tuệ và văn hoá dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước

Trong thời thực dân Pháp thống trị nước ta, để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa, thực dân Pháp có mở ra một số trường ĐH và CĐ đã đào tạo được một

số thầy giáo, bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, hoạ sĩ Trong đó có nhiều người có thực tài và sau này một số khá đông đã đi theo cách mạng, sau cuộc tổng khởi nghĩa 8/1945

Từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đặc biệt là sau ngày miền Nam giải phóng,

đất nước thống nhất, đội ngũ trí thức nước ta hình thành và ngày càng phát triển

về số lượng và chất lượng Đội ngũ này đã kế tiếp một cách xứng đáng, truyền thống vẻ vang của cha ông trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước và đang

Trang 19

vững bước đi lên, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đổi mới đất nước Đúng như nhận định của đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam:

"Trí thức Việt Nam giàu lòng yêu nước, gắn bó với nhân dân, chịu đựng gian khổ, hy sinh, đã góp phần xứng đáng cùng toàn dân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh lâu dài vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân Trải qua rèn luyện đội ngũ trí thức đã trưởng thành nhanh chóng, phát triển cả về số lượng, chất lượng, trở thành một lực lượng quan trọng trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc ngày nay" [32, 148]

Đến nay, số lượng đội ngũ trí thức đã tăng lên đáng kể Cả nước có khoảng 930.000 trí thức (có trình độ CĐ, ĐH trở lên) Đây là lực lượng khá đông đảo và

là nguồn lực trí tuệ quan trọng cho bước phát triển mới của đất nước Số lượng này hàng năm còn tăng, nhưng so với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vẫn còn ít và nhiều bất cập

Nguồn gốc đào tạo trí thức ở nước ta khá đa dạng Đại đa số được đào tạo ở trong nước, quá nửa tốt nghiệp trong các trường ĐH xã hội chủ nghĩa (ở trong nước hoặc ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ) Phần ít hơn được đào tạo trong các trường ĐH ở miền Nam trước ngày 30/4 và các nước tư bản chủ nghĩa

Gần đây, nước ta mở rộng giao lưu quốc tế, số trí thức được đào tạo ở nước ngoài, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa phát triển có xu hướng tăng nhanh Một

số trí thức được đào tạo và sống nhiều năm ở nước ngoài cũng đã về tham gia xây dựng đất nước

Nguồn đào tạo trí thức từ nhiều thời kỳ, nhiều quốc gia có chế độ chính trị

- xã hội khác nhau, đưa lại sự đa dạng trong đội ngũ, phong phú trong lao động sáng tạo, nhưng cũng đem lại những khó khăn nhất định trong sự hoà hợp chung (về trình độ, phương pháp sáng tạo, học thuật, tâm lý, nhận thức chính trị - xã hội )

Trang 20

Trong tổng số trí thức hiện có, khoảng hơn 120.000 có trình độ TS, PTS và Th.S, chiếm tỉ lệ 11% Trong các viện nghiên cứu, các trường ĐH tỉ lệ này là 14% Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước có những chính sách đào tạo trong nước nhằm tăng tỉ lệ cán bộ trình độ cao, nhưng vẫn còn chậm Yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần có nhiều trí thức trình độ cao trên tất cả các lĩnh vực khoa học, đó là một đòi hỏi khách quan Hiện nay, nước ta có trên 100 cơ sở

đào tạo trên ĐH Những năm qua đã đào tạo được khá nhiều trí thức trình độ TS, Th.S nhưng nhìn về chất lượng thì còn hạn chế và chưa đồng đều

Trí thức nói chung, trí thức trình độ cao nói riêng, có sự phân bố không

đều giữa các ngành khoa học Trí thức các ngành khoa học kỹ thuật số lượng khá

đông; trong khi đó, trí thức các ngành khoa học công nghệ cao, khoa học quản lý, khoa học xã hội và nhân văn vẫn thiếu và còn nhiều hạn chế Ta chưa có những nhà khoa học giỏi về quản lý, tài chính, ngân hàng Đặc biệt, còn thiếu nhiều cán bộ am hiểu kỹ thuật công nghệ cao, cán bộ nghiên cứu lý luận; chưa có những nhà khoa học tầm cỡ có khả năng chủ trì các công trình khoa học lớn để lý giải một cách thuyết phục những vấn đề cơ bản của thời đại và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nhiều ngành khoa học, trí thức còn quá ít

Xét về cơ cấu độ tuổi, đang diễn ra tình trạng "lão hoá" đội ngũ và sự hụt hẫng giữa các thế hệ Độ tuổi trung bình của cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu là 45 - 46; lứa tuổi trên 45 chiếm tới 65 - 70% Cán bộ khoa học trình

độ cao tỉ lệ này còn cao hơn Theo tài liệu của Hội đồng phong học hàm Nhà nước, giáo sư và phó giáo sư được phong năm 1991 - 1992, tính tuổi đến năm

1995, có tỉ lệ là: Giáo sư: từ 40 - 45 tuổi: 3,87%; từ 51 - 60 tuổi: 52,96%; từ 61 -

70 tuổi: 40,56%; trên 70 tuổi: 2,58%; Phó giáo sư: từ 40 - 50 tuổi: 17,31%; từ 51

- 60 tuổi: 65,63%; từ 61 - 70 tuổi: 16,85%; trên 70 tuổi: 0,1999%

Trang 21

Nhìn chung, đa số cán bộ nghiên cứu đều đã lớn tuổi Lực lượng trẻ để bổ sung còn thiếu và rất chậm, trong một thời gian ngắn khó có thể khắc phục được Mặt khác, ở các viện nghiên cứu, các trường ĐH không hấp dẫn đối với những cán bộ khoa học còn năng lực, nhất là lớp trẻ Tình trạng này, trong vòng năm, mười năm tới sự thiếu hụt sẽ rất lớn Cần phải có những biện pháp tích cực để khắc phục sớm

Sự phân bố trí thức giữa các vùng, các khu vực chưa hợp lý Trí thức tập trung nhiều ở các thành phố, tỉnh lỵ Trong khi đó, ở vùng cao, vùng sâu, vùng

xa, vùng kinh tế lớn trí thức còn rất thiếu Phần lớn trí thức tập trung ở phía Bắc

và chủ yếu ở Hà Nội; phía Nam chỉ có 20% và chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh Trí thức ở trình độ cao đa số ở các cơ quan Trung ương, các tỉnh lỵ, thành phố lớn Theo tinh thần về nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng ta đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp và nông thôn Sự thiếu hụt trầm trọng cán bộ khoa học ở khu vực này đòi hỏi phải coi trọng hàng đầu và tập trung thích đáng nguồn cán bộ khoa học thì mới có khả năng thực hiện tốt các nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

Trí thức người dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ quá nhỏ, chỉ khoảng 2,5% trong tổng số người có trình độ ĐH, CĐ của cả nước Đặc biệt đến nay vẫn còn khoảng

10 dân tộc không có người tốt nghiệp ĐH, CĐ [47] Nước ta, có 54 thành phần dân tộc anh em thì đã có 53 dân tộc ít người, chiếm tỉ lệ 13% dân cư và 3/4 diện tích cả nước Đây là khu vực có tiềm năng kinh tế lớn, có tầm quan trọng đặc biệt bảo vệ an ninh, quốc phòng của Tổ quốc Với số lượng trí thức ít ỏi như hiện nay thì phát triển kinh tế ở vùng dân tộc để theo kịp các khu vực khác quả là rất khó khăn

Nữ trí thức cũng còn ít so với tổng số trí thức đã được đào tạo Trong tổng

số người có trình độ CĐ, ĐH nữ chiếm 38%, trong số người có trình độ trên ĐH,

Trang 22

nữ chiếm 15% Trí thức nữ hoạt động đông nhất ở các ngành giáo dục, y tế, văn nghệ Đã có nhiều nhà khoa học nữ đóng góp lớn trong khoa học, nhiều người

đã làm tốt công tác lãnh đạo, chủ trì các công trình khoa học cấp Nhà nước Tuy nhiên, trong hoạt động khoa học, nữ trí thức nước ta còn gặp nhiều khó khăn từ gia đình và xã hội Nữ trí thức có trình độ cao vẫn còn ít và chưa có những chuyên gia giỏi có khả năng đảm đương những dự án, những công trình nghiên cứu khoa học lớn trong nước cũng như quốc tế

Phần lớn trí thức nước ta có tâm huyết với Đảng, với nhân dân, mong muốn

đem tài năng của mình phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Ngày nay, trí thức và lao động trí tuệ của họ đang biến đổi theo chiều hướng tích cực

Họ năng động, sáng tạo, thực tế và hiệu quả hơn Tuy vậy, trong xu thế phát triển của thời đại, với chính sách mở rộng giao lưu quốc tế của Đảng, một số trí thức biểu hiện sự hụt hẫng về kiến thức và năng lực thực hành do được đào tạo từ chuyên ngành hẹp, thiếu trình độ kiến thức chung, còn yếu về ngoại ngữ, tin học Nhiều trí thức thiếu những kiến thức sâu về khoa học và công nghệ hiện đại vì chưa có điều kiện tiếp cận với những thành tựu khoa học mới Có những trí thức thiếu hiểu biết thực tiễn, chưa thoát khỏi tâm lý thụ động của thời kỳ bao cấp, thiếu năng động trong cơ chế kinh tế mới Trước những biến động phức tạp của thế giới, những khó khăn ở trong nước, một số ít trí thức hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa xã hội [47]

Trí thức nước ta đang có chiều hướng phát triển nhanh Hiện nay đã có trên

120 trường ĐH, CĐ và trên 300 viện nghiên cứu khoa học Đó là nơi đào tạo nguồn trí thức chủ yếu cho đất nước Hàng năm chúng ta còn gửi đi đào tạo ở nước ngoài hàng ngàn lưu học sinh và hàng trăm học sinh "du học" tự túc Riêng các trường ĐH trong nước mỗi năm đã cho ra trường trên 30.000 sinh viên Số này chủ yếu bổ sung vào đội ngũ trí thức nước nhà, tuy nhiên vẫn còn có sự bất

Trang 23

cập trong qui hoạch đào tạo, dẫn đến nhiều ngành khoa học hàng năm không có

đủ lực lượng trí thức bổ sung thường xuyên

Cơ cấu đào tạo cũng đang có sự biến động, đa dạng, phức tạp Ngoài các trường ĐH quốc lập, đã hình thành trường dân lập, (tương lai sẽ có trường tư thục) Các trường này đang đi vào hướng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu thị trường Các cơ sở đào tạo trong quân đội cũng tăng lên nhằm mục đích "ĐH hoá" các sĩ quan quân đội Nhiều trường ĐH, các viện nghiên cứu, sau khi có chủ trương đào tạo sau ĐH ở trong nước đã tăng cường mở rộng lĩnh vực này và đã có những kết quả tốt chất lượng chưa cao

Tuy điều kiện kinh tế trong nước còn thấp so với nhiều nước trên thế giới nhưng Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến đời sống và điều kiện làm việc của trí thức, đã có nhiều chủ trương chính sách khuyến khích lao động khoa học của

họ Nhưng nhìn chung, đời sống và điều kiện làm việc của trí thức vẫn còn nhiều khó khăn Thu nhập của phần lớn trí thức, kể cả những cán bộ khoa học trình độ cao, những chuyên gia đầu ngành còn quá thấp, chưa bảo đảm cho nhu cầu đời sống sinh hoạt hàng ngày Trong kinh tế thị trường, mức thu nhập của trí thức so với các nhóm xã hội khác vẫn còn nhiều bất hợp lý, nhất là đối với các cơ sở kinh

tế Những năm gần đây, điều kiện sống và làm việc của trí thức được cải thiện hơn, nhưng cũng chỉ mới một số ít khá giả Do thu nhập thấp, nên phần lớn trí thức phải bằng nhiều cách khác nhau làm thêm để tăng thu nhập, kể cả những công việc không cần đến chuyên môn, nghiệp vụ của họ; nhiều trí thức đã phải xin nghỉ việc trong cơ quan Nhà nước để vào làm việc trong các công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, là những nơi được trả lương cao Trong khi đó, những trí thức có trình độ cao, gắn bó với nghề nghiệp nhưng điều kiện làm việc, nghiên cứu khoa học, thiếu trang thiết bị, thiếu thông tin khoa học, thiếu kinh phí, dẫn đến kết quả nghiên cứu, sáng tạo khoa học chưa cao

Trang 24

Một bộ phận trí thức khác rất cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước là trí thức Việt kiều Với hơn 300.000 trong số hơn 2.500.000 người của động đồng Việt Nam sống ở nước ngoài, đang tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, với qui trình công nghệ mới Đây là một nguồn "chất xám" lớn, rất cần cho công cuộc xây dựng đất nước, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Do vậy, Đảng và Nhà nước cần phải hết sức quan tâm để có cơ chế, chính sách phù hợp hơn nữa khuyến khích và tạo điều kiện cho trí thức Việt kiều có thể tham gia vào công cuộc kiến thiết nước nhà

Nhìn chung, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, đội ngũ trí thức nước ta còn nhiều bất cập, cả về số lượng, cơ cấu ngành nghề và trình

độ Cho nên, đội ngũ trí thức nước ta chưa thật sự phát huy hết vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới Vì vậy, trong những năm qua Đảng đã có thêm nhiều chính sách nhằm phát huy vai trò to lớn của trí thức nước ta Coi trọng và tin tưởng vào trí thức "đó là quan điểm nhất quán trước sau như một của Đảng ta" [32, 13]

1.2.2 Vai trò của trí thức nước ta trong sự nghiệp đổi mới

Nghị quyết Đại hội VII đã khẳng định: vai trò và vị trí quan trọng của tầng lớp trí thức, khẳng định ý nghĩa chiến lược của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xác định mục tiêu trong những năm tới của cách mạng Việt Nam là: Đưa công cuộc đổi mới lên tầm cao mới,

đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà nhiệm vụ trung tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong thời đại ngày nay, lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, thực chất của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là quá trình vận dụng

Trang 25

khoa học và công nghệ, chuyển hệ thống kinh tế - xã hội của đất nước từ trạng thái năng suất thấp, sử dụng lao động thủ công là chính sang hệ thống công nghiệp có năng suất và hiệu quả cao, dựa trên những công nghệ tiên tiến Các nước trên thế giới đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo những mô hình khác nhau Những nước đi sau dựa trên những kinh nghiệm của người đi trước và với lợi thế của mình đã dần rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá xuống còn vài ba thập kỷ Việt Nam chúng ta có thể thực hiện điều đó trong một thời gian ngắn hơn thế hay không? "Câu trả lời thuộc về toàn dân, trong đó, và trước hết thuộc về các nhà trí thức" [34]

Vai trò ấy của trí thức được thể hiện với tư cách là một bộ phận trí tuệ quan trọng của Đảng, của dân tộc Đội ngũ trí thức phải xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; cho các quyết định lớn, từ định hướng chiến lược kinh tế - xã hội đến những vấn đề cụ thể như các chính sách, qui hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư ở các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước Sự

đóng góp trí tuệ của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới này sẽ giúp cho toàn Đảng và toàn dân tộc nâng cao năng lực nhận thức và hành động đúng qui luật khách quan; khẳng định và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhấn mạnh đến vai trò của khoa học và công nghệ đồng thời cũng nêu lên những nhiệm vụ cơ bản của các hoạt động với tư cách là nền tảng cho việc phát triển đất nước Khoa học và công nghệ phải cung cấp luận cứ khoa học cho các quyết định, các chủ trương, chính sách, qui hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư đẩy mạnh quá trình đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ trong nền kinh tế một cách có trọng điểm, xây dựng và phát triển các năng lực khoa học và công nghệ Để từ đó làm chủ công nghệ nhập và sáng tạo công nghệ mới, chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước sau những năm

2000

Trang 26

Nếu khoa học và công nghệ là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì trí thức là động lực của sự phát triển khoa học và công nghệ Vì vậy, ngày nay có thể nói trí thức là lực lượng đẩy nhanh, mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất, kinh doanh, quản lý, dịch vụ và an ninh quốc phòng Trí thức là người làm chủ và cải tiến các công nghệ nhập từ bên ngoài, tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước tạo điều kiện, tiền đề tiềm lực cho khoa học công nghệ cho thế kỷ XXI

Trí thức còn có vai trò hết sức quan trọng là tham gia chủ yếu vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục thế giới quan khoa học, phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam, xây dựng nền khoa học tiên tiến của nước ta Ngày nay, nhân tố hàng đầu mang tính chất quyết

định cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới nước ta, đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Chính vì vậy, "Giáo dục và đào tạo

là quốc sách hàng đầu" Để thực hiện tư tưởng chiến lược trên, phụ thuộc rất lớn vào vai trò của các thầy cô giáo, các nhà giáo dục và quản lý giáo dục trên mặt trận chống “giặc dốt” và nâng cao dân trí

Trong thời đại ngày nay, muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải ra sức nâng cao trình độ dân trí thông qua sự phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo Vì "trình độ dân trí, tiềm lực khoa học và công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới" [33, 292]

Nếu như khoa học và công nghệ là động lực của việc thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì con người lao động - nguồn nhân lực có trí tuệ cao, là động lực của khoa học và công nghệ Nguồn nhân lực

đó là sản phẩm của quá trình giáo dục, đào tạo, sản phẩm của vai trò trí thức

Trang 27

trong sự nghiệp nâng cao dân trí Chính vì thế, trí thức đóng vai trò rất quan trọng quyết định trong việc nâng cao năng lực nội sinh, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ khoa học và công nhân lành nghề có đủ đức tài, đủ khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt ra trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Sau hơn mười năm, sự nghiệp đổi mới đã đạt được những kết quả rất quan trọng Đất nước không những đứng vững mà còn tiếp tục tiến lên, đời sống của đa

số nhân dân được cải thiện, dân chủ ngày càng mở rộng, Nhà nước pháp quyền không ngừng được củng cố, quan hệ quốc tế được mở rộng, uy tín Việt Nam

được nâng cao Đạt được những thành tựu đó là do công sức của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có đóng góp lớn lao của đội ngũ trí thức

Tuy nhiên, con đường đi lên của đất nước còn nhiều thách thức khó khăn, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước trong khu vực đã tác động vào nước ta, làm bộc lộ thêm những nhược điểm về kinh tế xã hội của đất nước Để phát triển đất nước, vượt qua những thách thức khó khăn Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất nước ta càng cần có một đội ngũ trí thức đông đảo Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần quan tâm Nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức Mặt khác, đội ngũ trí thức cũng phải nâng cao trách nhiệm trước dân tộc, phát huy tiềm năng khoa học của mình, cống hiến hết sức mình, tích cực góp phần đưa

đất nước tiến lên

Chương 2 Thực trạng đội ngũ trí thức An Giang

Trang 28

và vai trò của họ trong giai đoạn hiện nay

2.1 An Giang đất nước con người

An Giang là một tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc, giữa hai sông Tiền và sông Hậu, và dọc theo hữu ngạn sông Hậu thuộc hệ thống sông Mêkông Nằm trong miền nhiệt đới Bắc bán cầu với vĩ độ thấp, nên có nguồn năng lượng tự nhiên rất phong phú, vừa có nguồn mưa ẩm dồi dào, có nhiều yếu tố thuận lợi đối với sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Phía

Đông giáp tỉnh Đồng Tháp; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ và Bắc giáp Campuchia với đường biên giới (Việt Nam - Campuchia) dài gần 100km

Diện tích toàn tỉnh là 3.424 km2, bằng 1,03% diện tích của cả nước và

đứng thứ tư ở đồng bằng sông Cửu Long, gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc

Đó là thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện (An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu) với

138 xã, phường, thị trấn

Theo sử cũ, tên gọi "An Giang" xuất hiện vào thời kỳ Minh Mạng Trong thời kỳ chống Pháp thuộc, An Giang gồm có 3 phủ và 10 huyện, đó là phủ Tuy Biên, Tân Thành và Ba Xuyên An Giang đã nhiều lần thay đổi tên gọi, với những tên khác nhau như: Long Xuyên và Châu Đốc; Long Châu Tiền và Long Châu Hậu: Long Châu Hà (Xem phụ lục 1)

An Giang có hệ thống các đường giao thông thuỷ bộ thuận tiện với trục chính là quốc lộ 91 nối với quốc lộ của Campuchia và các sông Tiền, sông Hậu

Đay là tuyến giao lưu quốc tế quan trọng nối đồng bằng sông Cửu Long với Campuchia, Lào, Thái Lan thông qua hai cửa khẩu quốc gia Tịnh Biên và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương

Trang 29

An Giang nằm trong vùng kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi về phát triển khu vực 1 (nông, lâm, thuỷ sản), có sản lượng lúa đứng

đầu trong các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng thời, An Giang cũng là tỉnh có những đặc trưng riêng biệt, có đồng bằng, có rừng và núi, có tài nguyên khoáng sản và những di tích văn hoá lịch sử

Do đó, tỉnh có thể phát triển một nền kinh tế tương đối đa dạng Tuy nhiên, cho

đến nay các khu vực công nghiệp và xây dựng của tỉnh còn chậm phát triển

Hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của sông Cửu Long, chia phần đồng bằng của tỉnh thành những cù lao đất đai màu mỡ Cùng với các con sông, hệ thống kênh rạch tạo ra một mạng lưới giao thông thuỷ thuận tiện Hệ thống sông rạch tỉnh An Giang đã góp phần hình thành 73% diện tích là đất phù sa do bù đắp hàng năm Có thể nói, An Giang là một vùng sinh thái tương đối đồng nhất, có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

Căn cứ vào địa lý kinh tế tự nhiên, An Giang hình thành hai vùng rõ rệt:

- Vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, chiếm 30% diện tích là vùng đồng bằng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

- Vùng tứ giác Long Xuyên, nằm ở phía Tây sông Hậu, chiếm 70% diện tích của tỉnh Vùng này chia thành hai tiểu vùng: vùng đồng bằng và vùng núi Vùng núi có nhiều khối núi lớn, không thành dãy như các núi Cấm, núi Dài, núi Cô Tô, cao nhất là núi Cấm (710m) Ngoài những tiềm năng về khoáng sản, vật liệu xây dựng, nguồn nước ngầm v.v , vùng núi An Giang còn là nơi có triển vọng phát triển mạnh du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích văn hoá, lịch

sử nổi tiếng

Theo đặc điểm thổ nhưỡng, phần lớn đất đai ở An Giang rất màu mỡ, 70%

là đất phù sa hoặc có nguồn gốc phù sa, bằng phẳng, độ thích nghi canh tác khá

Trang 30

rộng, phù hợp với nhiều loại cây lương thực, cây ăn trái, cây công nghiệp nhiệt

đới và một phần có thể dùng cho chăn nuôi

Với diện tích đất nông nghiệp gần 248.000ha, trong đó, đất trồng lúa chiếm 91,6% và trồng màu các loại chiếm 8,4%, có thể nói, An Giang là một tỉnh nông nghiệp rất thuận lợi

Ngoài vùng đồng bằng, An Giang còn có vùng núi rừng Nơi đây rất thích nghi cho chăn nuôi gia súc như bò, dê cho phát triển lâm nghiệp Rừng An Giang có vị trí rất quan trọng trong việc duy trì môi trường sinh thái ổn định, không chỉ riêng đối với An Giang mà còn đối với cả Đồng bằng sông Cửu Long Rừng tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên Có 255 ha rừng tự nhiên thuộc vùng ẩm nhiệt đới, đa số rừng cây lá rộng với 154 loài cây quí hiếm thuộc

54 họ phân bổ tự nhiên Ngoài ra, An Giang còn có hơn 4000 ha rừng tràm

Cũng như các tỉnh khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang nằm trong vùng nhiệt đới Bắc bán cầu, vĩ độ thấp, có nguồn năng lượng tự nhiên phong phú

và nguồn mưa ẩm dồi dào, có nhiều yếu tố thuận lợi đối với sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Lượng mưa hàng năm là 1.418mm, trung bình số giờ nắng trong năm khoảng 2.500 giờ Hàng năm, An Giang bị ngập lũ từ tháng 8 đến tháng 11, nước dâng cao từ 1m - 2,5m, có vùng đến 3,5m

ở An Giang điều kiện địa lý, tự nhiên, khí hậu và thuỷ văn đã ảnh hưởng ít nhiều đến sự phân bổ dân cư, đến đặc điểm nhân văn và xã hội Tuy được gọi là tỉnh đồng bằng, nhưng An Giang không đơn thuần chỉ có đồng bằng An Giang

có cả một dãy Thất Sơn hùng vĩ mà các núi Tô, núi Dài, núi Cấm là tiêu biểu và rải rác còn có những hòn núi nhỏ: núi Sam, núi Sập, núi Ba Thê Những dãy núi

ấy không chỉ cung cấp vật liệu xây dựng khoáng sản, mà còn trang điểm thêm vẻ

đẹp thiên nhiên, lại còn tiềm ẩn dấu ấn của nền văn minh cổ xưa (Di khảo cổ óc Eo ) Nơi đây còn để lại vết tích chưa phai mờ về hai cuộc kháng chiến chống

Trang 31

ngoại xâm: di tích chiến thắng cầu sắt Vĩnh Thông trong kháng chiến chống Pháp, ở xã Lạc Quới, huyện Tri Tôn; di tích chiến thắng đồi Tức Dụp, ở xã An Tức, huyện Tri Tôn; di tích căm thù ở xã Ba Chúc (nhà mồ tập thể nơi chứa, trưng bày trong mộ tròn nhà kính 1.159 bộ hài cốt trong tổng số trên 3.000 đồng bào bị Pôn Pốt thảm sát trong chiến tranh biên giới 1978

An Giang là tỉnh đông dân nhất so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long với dân số 2.074.838 người (năm 1997) Dân số An Giang tập trung đông ở thành phố (Long Xuyên 241.884), thị xã (Châu Đốc 101.853) và 4 huyện cù lao (Chợ Mới, Tân Châu, An Phú, Phú Tân); thưa thớt dần ở các huyện vùng tứ giác Long Xuyên; dân cư phân bố (mang tính truyền thống) dọc theo các tuyến giao thông

và các tuyến kênh rạch Cơ cấu dân số: nam: 1.003.544 người (49%); nữ: 1.071.239 người (51%), trong đó dân số hiện đang cư trú ở nông thôn là 1.676.041 người (80%); ở thành thị là 398.797 (20%) (xem phụ lục 2) Người trong độ tuổi lao động 63.315 người (15,26%) Nhìn chung, nguồn lao động ở An Giang dồi dào, trẻ, khoẻ, nhạy bén tiếp thu khoa học kỹ thuật, cần cù, siêng năng

An Giang có 4 dân tộc chính hiện đang sinh sống Người Việt (Kinh) chiếm 97%, còn lại 3% là các dân tộc: Khơmer khoảng 85.000 người, Chăm khoảng 30.000 người và Hoa sống rải rác ở các địa phương bên trong tỉnh, sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ và nghề tiểu thủ công nghiệp

An Giang là nơi có nhiều tôn giáo Tín đồ chiếm hơn 80% dân số, chủ yếu

là nông dân theo Phật giáo, Hoà Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa giáo

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi phát triển đi lên trong công cuộc đổi mới, An Giang cũng gặp không ít khó khăn Đây là tỉnh có ruộng đất bình quân

đầu người thấp so với nhiều tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (vào năm 1995 chỉ khoảng 0,124ha/người) Đối phó với lũ lụt hàng năm ở An Giang hiện đang còn

là vấn đề hết sức bức xúc, có liên quan đến sự phát triển các mặt của đời sống

Trang 32

kinh tế, xã hội Chống lũ, tránh lũ, né lũ hay sống vùng với lũ lụt là việc giải quyết vô cùng khó khăn, gian khổ và phức tạp Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp giản đơn, chất lượng lao động nhìn chung còn thấp 96% số lao động là lao động thủ công, chủ yếu sử dụng năng lượng cơ bắp Lao động kỹ thuật chỉ chiếm 3,84% Mặt bằng dân trí thấp, còn tới 21,8% dân số chưa biết chữ, chưa có truyền thống hiếu học Cơ sở phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp và sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá xã hội ở nông thôn những năm qua, tuy được tăng cường, nhưng nói chung vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn

Hiện nay, vấn đề đặt ra cho Đảng bộ An Giang, các cấp chính quyền, các giai cấp, tầng lớp ở tỉnh An Giang là làm sao phát huy cho hết những thuận lợi và khắc phục được những khó khăn nhằm nâng cao đời sống của nhân dân An Giang trong công cuộc đổi mới

2.2 Thực trạng của đội ngũ trí thức An Giang

Trong những năm đổi mới đất nước cùng với sự phát triển của đội ngũ trí thức nước ta Trí thức An Giang đã có bước phát triển đáng kể về số lượng và chất lượng Hiện nay, toàn tỉnh có 6.880 người có trình độ trên ĐH, ĐH và CĐ và

đang có mặt ở hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giáo dục, khoa học, văn hoá, cán bộ lãnh đạo quản lý trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể và trong lực lượng vũ trang So sánh với số liệu năm 1994 và 1995, đội ngũ trí thức là 5.232 người, trong đó số người có trình độ trên ĐH là 5 (0,9%) [17], thì đến năm 1997 và năm 1998 đã là 51 (0,72%) Năm 1995 ở An Giang, trong số 2.003.607 người, thì bình quân 291 người dân có một cán bộ có trình độ từ CĐ trở lên Như vậy, số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang còn thấp so với bình quân cả nước nay là

106 dân/1 cán bộ khoa học kỹ thuật [39]

Trang 33

Phần lớn đội ngũ trí thức tỉnh An Giang được đào tạo từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Thời kỳ này An Giang đang đứng trước những khó khăn lớn Khó khăn lớn nhất là phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng của 30 năm chiến tranh; những ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa thực dân mới ở một tỉnh vùng yếu; còn phức tạp trong nhiều vấn đề dân tộc, tôn giáo; biên giới, lại là địa bàn mà các phần tử thù địch dùng làm nơi nhen nhóm các hoạt động chống phá cách mạng Đây cũng là thời kỳ An Giang gặp rất nhiều khó khăn, về mặt khách quan, đó là thiên tai và địch hoạ; về chủ quan đó là cơ sở chính sách tập trung quan liêu bao cấp và yếu kém về bộ máy tổ chức Năm 1977 hạn hán kéo dài, năm 1978 - 1979 là hai năm An Giang liên tục bị lũ lụt lớn và phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất đời sống

Trong tình hình phức tạp đó, An Giang vừa lo phát triển sản xuất, ổn định

đời sống dân cư, giữ gìn an ninh chính trị; vừa lo khắc phục hậu quả của chiến tranh biên giới, của thiên tai; vừa đào tạo đội ngũ trí thức Nhất là, trong những năm đổi mới đất nước, đội ngũ trí thức đã được phát triển hầu hết ở các ngành trong tỉnh, tuy chưa đều, nhưng đây là sự cố gắng rất lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang

Trí thức An Giang đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, con em trí thức cách mạng, con em cán bộ của Đảng, và Nhà nước và hầu hết được đào tạo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, trưởng thành trong thực tiễn bảo vệ và xây dựng Tổ quốc nên có quan hệ gắn bó với nhân dân

Cơ cấu của đội ngũ trí thức An Giang hiện nay còn bất hợp lý:

Theo trình độ học vấn thì trí thức có trình độ trên ĐH mới chỉ chiếm (0,07%) còn quá thấp so với cả nước là 12% (30,29) Nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng (công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm ) còn thiếu cán bộ

đầu đàn nên gặp khó khăn trong việc đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và chuyển

Trang 34

dịch cơ cấu kinh tế Số lượng trí thức đáp ứng cho yêu cầu lâu dài của tỉnh còn quá ít

Sự phân bổ đội ngũ trí thức trong các ngành cũng không đều Tập trung

đông nhất là giáo dục, chiếm 41,61%, y tế: 24,55% Trong khi đó, nông nghiệp là ngành có thế mạnh của kinh tế An Giang, thì trí thức chỉ chiếm 7,92% [42, 13] Trí thức trong ngành nông nghiệp, chủ yếu tập trung ở các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, thuỷ nông, thuỷ lợi và lâm nghiệp Số trí thức rất cần thiết cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn thì còn thiếu nhiều, như trí thức các ngành khí tượng thuỷ văn, địa chất, môi trường, địa chính chế biến thuỷ sản

Số cán bộ trong lĩnh vực khoa học kinh tế có tỉ lệ thấp 3% và mới có ở một số ngành, như cơ khí, điện, điện tử, kiến trúc, xây dựng Một số các ngành rất cần trí thức nhưng đang thiếu là: hoá công nghiệp, hoá thực phẩm, cơ khí chế tạo, cơ khí nông nghiệp, công nghiệp nông thôn Sự phân bổ trí thức vừa kể này hạn chế rất lớn đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh

Theo thành phần kinh tế, thì trí thức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp chiếm đến 78,7%, còn các doanh nghiệp và trực thuộc doanh nghiệp chỉ chiếm 13,2%, kinh tế cá thể chiếm 8,5% Điều này sẽ làm hạn chế đến việc thực hiện tinh thần chung là khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức kinh doanh mở rộng sản xuất đầu tư, phát triển theo chiều sâu vận dụng khoa học và công nghệ hiện đại

Sự phân bổ ở các vùng lãnh thổ cũng mất cân đối Trí thức tập trung chủ yếu ở tỉnh (thành phố Long Xuyên) 41%, ít nhất là huyện Tịnh Biên chỉ chiếm 3,2% (là huyện vùng núi vừa là huyện giáp biên giới Campuchia) [39] Chính sự phân bố không đồng đều này làm cho nguồn nhân lực khoa học công nghệ để phát triển theo mục tiêu kinh tế - xã hội của từng vùng sẽ kém hiệu quả

Trang 35

Trí thức An Giang còn bất hợp lý trong cơ cấu, không đơn thuần là số liệu,

mà qua đó còn ảnh hưởng đến chất lượng lao động sáng tạo khoa học của đội ngũ này

Những năm gần đây, nhiều trí thức đã chủ động tìm cách bổ sung kiến thức

và nâng cao trình độ của mình, nhanh chóng nắm bắt được những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, những kiến thức mới và nhiều ngành khoa học kể cả khoa học Mác-Lênin Tuy vậy, trí thức An Giang vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chung của cả nước là số được đào tạo mới ra trường kém về kỹ năng thực hành và ngay một phần lớn kiến thức do nhà trường đào tạo cũng tỏ ra lạc hậu so với yêu cầu của thực tế công tác, tỉ lệ ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống chưa cao

Trình độ ngoại ngữ của trí thức An Giang còn yếu Chỉ tính riêng trong tổng số 284 cán bộ khoa học công nghệ của tỉnh, thì có 123 người có trình độ ngoại ngữ (chiếm tỉ lệ 43%), trong đó sử dụng thành thạo chỉ có 5,6%, sử dụng

được trong chuyên môn chỉ có 13% và giao dịch thông thường 24,6% [39]

ở An Giang, hàng năm kinh phí đầu tư cho một đề tài khoa học còn thấp, nguồn tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ ít ỏi (chiếm khoảng 0,5% trong chi ngân sách địa phương), bình quân 2.500đ/dân, hoặc 363.372 đồng (33 USD)/ cán bộ khoa học kỹ thuật, tức là còn thấp hơn mức đầu tư cho khoa học kỹ thuật bình quân chung cả nước Trong khi đó, mức chi phí đầu tư cho cán bộ khoa học kỹ thuật ở Việt Nam hiện còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực [50] Đây là một nguyên nhân hạn chế việc nâng cao năng lực và hiệu quả đóng góp của trí thức, tạo ra nguy cơ hẫng hụt về kiến thức, năng lực thực hành của đội ngũ này

Tình trạng "chảy máu chất xám" cũng có chiều hướng phát triển ở An Giang Chất xám chảy về thành phố Hồ Chí Minh, chảy từ nông thôn ra thành

Trang 36

phố, thị xã, chảy từ các đơn vị nhà nước ra các tổ chức tư nhân Việc này làm

ảnh hưởng đến kế hoạch cân đối phát triển nguồn nhân lực lâu dài và những chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh

Mấy năm trước đây, trước sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, khá đông trí thức An Giang đã hoang mang, phân vân lo lắng Nhưng qua nhiều lần được học tập, nhất là trước những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội của cả nước và của tỉnh nhà, đã giúp đội ngũ trí thức củng cố thêm niềm tin vào công cuộc đổi mới, vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Từ đó, họ phấn đấu đóng góp nhiều công sức vào công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh nhà

Hầu hết trí thức có nhận thức khá đầy đủ về tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ cán bộ trong thời kỳ mới, nên bản thân mỗi người đều có nguyện vọng được học thêm về chuyên môn nghiệp vụ, về ngoại ngữ và tin học Tuy nhiên, không phải ai cũng thực hiện được nguyện vọng đó trong điều kiện hiện nay

Đời sống của đội ngũ trí thức An Giang cũng còn nhiều khó khăn, nhất là trí thức hoạt động ở vùng núi, vùng biên giới Trí thức ở các ngành hành chính sự nghiệp, thì các chế độ lương chưa tương xứng với thành quả lao động mà họ đóng góp Các chế độ phụ cấp, khen thưởng vật chất khác cho sáng tác, nghiên cứu khoa học còn nhiều bất hợp lý Do đời sống còn thấp và khó khăn nên họ có phần băn khoăn lo lắng và mong muốn Đảng và Nhà nước có chính sách đãi ngộ xứng

đáng về vật chất và tinh thần để có thể sống và yên ấm làm việc với ngành nghề

được đào tạo

Cũng giống như nhiều đối tượng khác trong xã hội, trí thức An Giang băn khoăn, lo lắng trước sự phát triển chậm lại về kinh tế; lo lắng về nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về trí tuệ; lo lắng về sự ô nhiễm môi trường, xã hội và sự xuống cấp về văn hoá, tình trạng chạy theo lợi ích kinh tế đơn thuần của một bộ phận người trong xã hội Họ không yên tâm trước tình trạng sa sút về đạo đức, lối

Trang 37

sống của một bộ phận cán bộ Họ mong muốn Nhà nước có biện pháp điều chỉnh thu nhập để bình đẳng giữa các ngành nghề Mặt khác, họ cũng muốn được cung cấp các phương tiện phục vụ cho công việc khoa học như máy móc, thiết bị thông tin, phòng thí nghiệm, thư viện

Ngoài đội ngũ trí thức đã có của tỉnh hiện nay, An Giang còn có lực lượng

sẽ tiếp tục được bổ sung là lực lượng sinh viên Từ năm 1996 đến nay, hàng năm

có gần 2000 sinh viên con em nhân dân trong tỉnh theo học ở các trường ĐH Tính bình quân ở An Giang 100.000 dân có khoảng 100 sinh viên Tuy còn thấp

so với bình quân cả nước là 250 sinh viên [39], nhưng nhờ kinh tế xã hội ổn định,

có tốc độ phát triển khá, nên số lượng con em An Giang đi học ĐH những năm tới sẽ tăng lên, đóng góp tích cực và quan trọng cho sự phát triển của tỉnh trong những năm tới đây

2.3 Những đóng góp quan trọng của trí thức An Giang cho sự phát triển của tỉnh

Mở đầu cho sự nghiệp đổi mới ở An Giang là nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng

bộ lần thứ IV (tháng 10 năm 1986) đã tập trung, cố gắng tháo gỡ mọi trở lực; đề

ra các giải pháp để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân; nâng cao tích luỹ, trong đó có nông nghiệp chủ yếu là lương thực được xác định là nền tảng là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới và nông thôn là địa bàn chiến lược

Sau đó Nghị quyết về nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội năm 1987 khẳng

định: "Phải tạo ra một sự chuyền biến mạnh mẽ về đổi mới tư duy toàn diện, nhất

là tư duy về kinh tế, đi đôi với kiên quyết xoá bỏ cơ chế hành chính tập trung qua liêu bao cấp, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thật sự "lấy dân làm gốc", lấy chăm lo phát triển sản xuất cuộc sống của nhân

Trang 38

dân làm mục tiêu hàng đầu vận dụng những chính sách thích hợp và thực hiện các biện pháp kiên quyết, tích cực để củng cố niềm tin tạo ra sự chuyển động và phấn khởi mới trong nội bộ và nhân dân tự giác đem hết trí tuệ, tiền vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, tay nghề phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế và tổ chức đời sống cho bản thân, đơn vị và cấp mình " [39]

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ An Giang, các tầng lớp nhân dân, trong đó

có đội ngũ trí thức đã đoàn kết, nhất trí vượt qua nhiều khó khăn, góp phần quan trọng vào sự phát triển của An Giang trong những năm đổi mới

Trí thức An Giang với công tác chuyên môn của mình, đang có mặt hầu hết các ngành, các cơ quan trong tỉnh Những số lượng lớn và sự đóng góp nổi bật hơn cả, cho sự phát triển của tỉnh trong những năm đổi mới là bộ phận trí thức ở các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục và y tế Do vậy, luận văn tập trung vào vai trò của trí thức ở những lĩnh vực này

Trên lĩnh vực nông nghiệp, An Giang có hơn 83% dân số sống bằng nghề nông và là một trong những tỉnh trọng điểm lúa của Đồng bằng sông Cửu Long

và cả nước Từ năm 1987 đến nay, An Giang nằm trong một số tỉnh luôn dẫn đầu cả nước về năng suất, sản lượng lương thực

Đội ngũ trí thức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay có 545, trong đó, có 4 người có trình độ trên ĐH An Giang còn có 2423 cán bộ khoa học

kỹ thuật có trình độ trung cấp [47, 13] Tuy số lượng chưa đủ đáp ứng theo yêu cầu phát triển của ngành Song, trong quá trình đổi mới, đội ngũ này đã góp vai trò hết sức tích cực trong việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, phục

vụ cho việc tăng năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, xoá đối giảm nghèo ở nông thôn

Trong những năm đổi mới, An Giang đã tạo ra được bước tiến đáng kể về sản xuất lương thực, thực phẩm, xoá dần được đói Nhà nước và nông dân bắt đầu

Trang 39

tạo được tích luỹ từ sản xuất Nền kinh tế nông nghiệp tỉnh An Giang cũng bắt

đầu có sự chuyển dịch cơ cấu, liên kết ngành nghề, liên doanh hợp tác, mở rộng thị trường tăng nhanh tích luỹ, phát triển đầu tư với phương châm đa dạng hoá sản phẩm kinh tế nông thôn Nhờ sự đóng góp nhất định của trí thức, một số thành quả đã dành được là:

- Tổng diện tích gieo trồng từ 306.000.463ha (1987) tăng 428.720ha (1997) Tổng sản lượng lương thực từ 920.635 tấn (1987) tăng 2.037.882 tấn (1997) Bình quân lương thực đầu người từ 520 kg (1987) tăng 998 kg/người/năm [11, 33-34] (xem phụ lục 3)

- Diện tích các loại hoa màu, cây công nghiệp giữ ổn định ở mức 45.000

ha Tuy nhiên, từ năm 1992 đến nay đã có chuyển biến về cơ cấu cây trồng, nhất

là cây đậu phộng, diện tích, năng suất tăng nhanh cụ thể là về diện tích 1995: 234 ha; 1997: 318 ha, năng suất 1995: 22,14 tạ/ha; 1997: 22,45 tạ/ha; sản lượng 1995: 518 tấn; 1997: 714 tấn Ngoài ra các loại cây hoa màu, cây thực phẩm đều tăng [16, 67] Riêng nghề nuôi cá bè, mỗi năm đưa ra thị trường trên 8000 tấn, trong đó có 4000 tấn xuất khẩu (cá Ba Sa) Đàn bò lai phát triển đều hàng năm

- Xuất khẩu nông sản và nhập khẩu phục vụ sản xuất ngày càng phát triển, tăng từ 91.046 USD (1993) lên 155.261 USD (1996), 168.476 USD (1997), xuất khẩu trực tiếp tăng: 66.934 USD (1993) lên 124.983 USD (1996), 139.652 USD (1997) Chủ yếu xuất các mặt hàng: gạo, đậu xanh, đậu nành, đậu phộng, thuỷ sản đông lạnh nhập khẩu tăng 90.664 USD (1993) lên 78.109 USD (1996), 62.257 USD (1997) Nhập các hàng chủ yếu như: xăng, dầu, phân bón, động cơ các loại, xi măng, sắt, thép

- Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng giống mới của trung tâm nghiên cứu sản xuất giống, hiện nay, trung tâm có 5 trại giống với qui mô gần 100 ha Sở Nông nghiệp An Giang đã hướng dẫn áp dụng các giống mới vào sản xuất như: IR64B,

Trang 40

IR64NC, IR9729, IR6607 Nhờ các loại giống mới này mà năng suất lúa ngày càng cao, khả năng kháng rầy mạnh, nâng cao được mặt hàng xuất khẩu gạo cho

An Giang

- Cùng với phát triển nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển Các khâu làm đất tưới tiêu, vận tải phục vụ nông nghiệp căn bản đã cơ giới hoá Các máy móc chuyên dùng như máy gặt, máy sấy, máy tỉa hạt được đưa vào phục vụ nông dân Các ngành nghề địa phương được khôi phục, các dịch vụ như cung cấp vật tư sản xuất, sửa chữa cơ khí, điện máy ngày càng phát triển

Sự phát triển của nền nông nghiệp An Giang sau những năm đổi mới đã có bước chuyển biến quan trọng rõ nét Vượt qua nhiều khó khăn, trong bối cảnh của một đất nước bị 30 năm chiến tranh tàn phá chưa thoát khỏi đói nghèo, lại bị rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài, nền nông nghiệp An Giang đã đạt được tốc độ tăng trưởng và hiệu quả tương đối ổn định Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 9,9% (riêng năm 1995 là 1,5%), cao hơn mức bình quân của cả nước cùng thời kỳ (8,2%) Khu vực I (nông, lâm, ngư nghiệp) do có những nỗ lực trên nhiều mặt nên tốc độ tăng bình quân là 4%, gần gấp 2 lần mức bình quân của cả nước (4,52%) Những giải pháp được thực hiện trong quá trình đổi mới đã có sự hoà nhập với nền kinh tế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước và do vậy, đã và đang thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo ra được bước ngoặt của sự phát triển An Giang đã chấm dứt được thời kỳ độc canh tự túc, tự cấp và đang chuyển dần sang hàng hoá đa dạng, thị trường bước đầu được mở rộng và có cơ hội tìm thị trường lớn, chủ trương giảm nghèo, tăng giàu bắt đầu phát huy hiệu lực

Sự phát triển nông nghiệp đã trong những năm đổi mới cũng chính là kết quả rõ rệt của chương trình khuyến nông An Giang Trên quan điểm xác định

Ngày đăng: 15/04/2013, 21:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang, Báo cáo tình hình đội ngũ trí thức và việc xây dựng phát huy vai trò của trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh An Giang, An Giang, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang," B"áo cáo tình hình đội ngũ trí thức và việc xây dựng phát huy vai trò của trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh An Giang
[2] Bộ Giáo dục - Đào tạo - Trung tâm thông tin quản lý giáo dục, Số liệu thống kế giáo dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục - Đào tạo - Trung tâm thông tin quản lý giáo dục, Số liệu thống kế giáo dục
[4] Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ tỉnh An Giang, Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Đại hội đại biểu lần thứ IV, tháng 10/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ tỉnh An Giang, Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Đại hội đại biểu lần thứ IV
[6] Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ An Giang, An Giang 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi míi (1995 - 1996), An Giang 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ An Giang, An Giang 20 n¨m x©y dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi míi (1995 - 1996)
[7] Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ tỉnh An Giang, Ch−ơng trình hành động hực hiện nghị quyết Trung −ơng lần thứ hai, khoá VIII, An Giang, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ tỉnh An Giang, Ch−ơng trình hành "động hực hiện nghị quyết Trung −ơng lần thứ hai, khoá VIII
[8] Nguyễn Đức Bách, Mấy vấn đề cần đổi mới, tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tài năng trí tuệ, Thông tin Công tác khoa giáo, số 4/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Bách, Mấy vấn đề cần đổi mới, tạo động lực và điều kiện để trí thức n−ớc ta phát huy tài năng trí tuệ
[9] Nguyễn Trọng Bảo, Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Bảo, Gia đình, nhà tr−ờng, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi d−ỡng, sử dụng và đãi ngộ ng−ời tài
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[13] Cơ sở lý luận văn học, tập 1, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
[14] Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[15] Thành Duy, Xu thế phát triển của đội ngũ trí thức nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Thông tin lý luận tháng 1/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành Duy, Xu thế phát triển của đội ngũ trí thức n−ớc ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n−ớc
[16] Đảng cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam, C−ơng lĩnh xây dựng đất n−ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nxb Sự thật
[17] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Sự thật
[18] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung −ơng 4 (khoá VIII), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung −ơng 4 (khoá "VIII)
Nhà XB: Nxb Sự thật
[19] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[20] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung −ơng 2 (khoá VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung −ơng 2 (khoá "VIII)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[21] Đảng bộ tỉnh An Giang, Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ IV, An Giang, 10/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh An Giang, Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ IV
[22] Đảng bộ tỉnh An Giang, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lÇn V, An Giang, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh An Giang, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lÇn V
[23] Đảng bộ tỉnh An Giang, Văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh giữa nhiệm kỳ, khoá V, An Giang, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh An Giang, Văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh giữa nhiệm kỳ, khoá V
[24] Phan Thanh Khôi, Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, 4/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thanh Khôi, Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức
[25] Phan Thanh Khôi, Danh hiệu người trí thức, Tạp chí Nhân đạo 11/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thanh Khôi, Danh hiệu ng−ời trí thức

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w