Đông y có nhiều phương pháp điều trị viêm loét đại tràng với hiệu quả điều trị tương đối tốt, ít tác dụng phụ, so với tây y có tính ưu viết nhất định.[4] Lưu Phượng Bân là giáo sư hướng
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013 11
KẾT LUẬN
Ung thư gan là bệnh phổ biến đứng hàng thứ 5
trên toàn cầu Tại Việt Nam ung thư gan ở nam giới
phổ biến đứng hàng thứ 3, ở nữ giới đứng hàng thứ
8[9] Bệnh phát hiện được thông thường đã ở giai đoạn
muộn nên cơ hội cho phẫu thuật không nhiều Tại
Trung Quốc, với tỷ lệ tử vong do ung thư gan chiếm
hàng thứ 2 trong số các bệnh về u bướu Do vậy để
tìm kiếm liệu pháp điệu trị cho nhóm bệnh nhân này,
nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm
sàng với liệu pháp TACE kết hợp YHCT nhằm hạn chế
tác dụng phụ của hóa chất đồng thời hỗ trợ hóa chất
phát huy tác dụng tránh hiện tượng nhờn thuốc Các
loại thuốc YHCT được dùng trong liệu pháp này là
thuốc có tác dụng sơ can giải độc, kiện tỳ bổ ích khí,
tăng cường nguyên khí của cơ thể Phần hóa chất
dùng cho can thiệp đã đề cập tới trong phần tiêu
chuẩn lựa chọn nên chúng tôi không nhắc lại
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương
pháp phân tích gộp đã cung cấp bằng chứng cho
thấy có thể tin cậy vào kết quả tích cực của liệu pháp
TACE kết hợp với YHCT Liệu pháp đã làm tăng
đáng kể số lượng tế bào miễn dịch so với nhóm dùng
TACE đơn thuần trong điều trị ung thư gan với
p<0.0001, qua đó góp phần vào việc khống chế sự
tiến triển của tế bào ung thư gan Hơn nữa việc kết
hợp YHCT trong điều trị còn cải thiện đáng kể về chất
lượng cuộc sống cho người bệnh Vì vậy, kiến nghị
trên lâm sàng cần áp dụng liệu pháp nút mạch hóa
chất động mạch gan kết hợp với thuốc YHCT để điều
trị cho bệnh nhân ung thư gan như một liệu pháp ưu
tiên cho những bệnh nhân đã mất cơ hội phẫu thuật
và không được tiếp cận với liệu pháp điều trị đích
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hướng Đức Binh, Tạ Gia Ân, Vương Đông và Cs (2006), “Nghiên cứu lâm sàng kết hợp dịch tiêm đắc lực sinh với nút mạch hóa chất động mạch gan điều trị ung
thư gan nguyên phát”, U bướu học hiện đại, 14(7), tr
861-862
2 Vu Khởi Đào, Mông Chí Bân (2004), “Nghiên cứu lâm sàng Thiềm Tô kết hợp với nút mạch hóa chất động mạch gan điều trị ung thư gan giai đoạn muộn”, Tạp chí
Học viện Trung y Quảng Tây Trung Quốc, 7(3) tr 35-37
3 Lý Thái Hà, Lý Truyền Phú, Tằng Trì (2003), Tình hình thay đổi tế bào miễn dich sau can thiệp TACE ở bệnh nhân ung thư gan, Tạp chí chuyên đề y học Đại
học Sơn Đông Trung Quốc, 41(5), tr 553。
4 Lưu Tiểu Hồng, Phó Hạo, Chúc Cường Hoa và
Cs (2009), “Nghiên cứu lâm sàng Thiềm Tô kết hợp với nút mạch hóa chất động mạch gan điều trị ung thư gan”,
Tạp chí Ứng dụng thuốc hiện đại Trung Quốc, 3 (23), tr
134-135
5 Trì Huệ Xương, Hồ Phượng Sơn, Hàn Đông và
Cs (2010), “Quan sát hiệu quả của liệu pháp nút mạch động mạch gan kết hợp Kiện tỳ sơ can điều trị ung thư
gan nguyên phát giai đoạn muộn, Tạp chí Tin tức Trung
y dược Trung Quốc, 17 (6), tr 16 – 18
6 Trịnh Tần, Lưu Lâm, Khâu Thiếu Mẫn và Cs (2005), “Nút mạch hóa chất động mạch gan kết hợp với dịch tiêm Aidi điều trị ung thư gan nguyên phát”, Tạp chí
Trung y Giang Tô Trung Quốc, 31(6), tr 469 - 470
7 Quý Ngọc Phong, Trình Dũng Đức (2006), “Một
số vấn đề khó khăn trong điều trị ung thư gan nguyên phát bằng nút mạch hóa chất”, Tạp chí Can thiệp phóng
sạ Trung Quốc, 15(12), tr 705, 706
8 Phan Trì (2000), “Xét nghiệm nhóm tế bào T’ và ý nghĩa lâm sàng trong ung thư gan”, Tạp chí Lâm sàng u
bướu Trung Quốc, 5(4), tr 248-250
9 Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết
Mai (2011), “Ung thư gan”, Điều trị nội khoa bệnh ung thư, tr 162-164, NXB Y học, Hà Nội
TÌM HIỂU KINH NGHIỆM ĐIỀU TRỊ VIÊM LOÉT ĐẠI TRÀNG CỦA GIÁO SƯ LƯU PHƯỢNG BÂN
1. NGUYỄN THỊ MINH THU 1 , NGUYỄN LÊ LIÊM 2 , LƯU PHƯỢNG BÂN (FENGBIN LIU) 3
2 Bệnh viện Y học Cổ truyền – Bộ Công an
3 Bệnh viện 198 – Bộ Công an
4 Trường Đại học Trung y dược Quảng Châu Trung Quốc
TÓM TẮT
Giáo sư Lưu Phượng Bân là giáo sư hướng dẫn
nghiên cứu sinh tiến sĩ thuộc trường Đại học Trung Y
dược Quảng Châu, Trung Quốc Với hơn 20 năm làm
công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm
sàng, giáo sư đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý
báu trong việc sử dụng các bài thuốc đông y cổ
phương gia giảm để điều trị các bệnh vị tràng có hiệu
quả, đặc biệt là điều trị bệnh viêm loét đại tràng
Từ khóa: Điều trị đông y, viêm loét đại tràng, Lưu
Phượng Bân (Fengbin Liu)
SUMMARY
Prof Fengbin Liu is a doctoral tutor in Guangzhou University of Traditional Chinese Medicine and a Chief of Department of Internal Medicine, The First Affiliated Hospital of Guangzhou University of Chinese Medicine He has accumulated a lot of experiences in conducting clinical research and teaching more than 20 years in order to effective treatment for gastroenterologist, especially for ulcerative colitis (UC) by using Traditional Chinese Medicine
Keywords: Traditional Medicine; Ulcerative Colitis; Fengbin Liu
Trang 2Y häc thùc hµnh (899) - sè 12/2013 12
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét đại tràng (Ulcerative Colitis UC) là tình
trạng viêm mạn tính lớp niêm mạc của trực tràng, đại
tràng gây ra các triệu chứng chủ yếu như ỉa chảy,
đau bụng và chảy máu trực tràng Ngoài các triệu
chứng biểu hiện trên đường tiêu hóa, bệnh còn gặp
một số triệu trứng ngoài đường tiêu hóa như viêm
khớp, viêm da Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi,
nhưng hay gặp từ 20 – 40 tuổi, có thể gặp cả ở trẻ
em và người già Tỷ lệ mắc bệnh không có sự khác
biệt giữa nam và nữ Bệnh thường điều trị dai dẳng,
hay tái phát, có thể gây biến chứng ung thư, vì vậy
ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống
của người bệnh
Trong những năm gần đây, do đời sống ngày
càng được nâng cao, thói quen ăn uống, sinh hoạt,
môi trường sống có nhiều thay đổi, cùng với kỹ thuật
chẩn đoán bệnh ngày càng tiên tiến, tỷ lệ phát hiện
bệnh viêm loét đại tràng đang có xu hướng tăng cao,
nhưng nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh
còn khá phức tạp nên cho đến nay vẫn chưa có
phương pháp điều trị đặc hiệu Chính vì vậy, việc tìm
hiểu nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh
đang là vấn đề nổi cộm đáng quan tâm [1-3] Điều trị
tây y chủ yếu dùng các thuốc corticoid, thuốc ức chế
miễn dịch nhưng hiệu quả điều trị không khả quan,
hơn nữa việc sử dụng thuốc kéo dài sẽ gây ra các
tác dụng phụ không mong muốn, còn nếu dừng thuốc
bệnh sẽ rất dễ tái phát, hoặc rất khó điều trị Đông y
có nhiều phương pháp điều trị viêm loét đại tràng với
hiệu quả điều trị tương đối tốt, ít tác dụng phụ, so với
tây y có tính ưu viết nhất định.[4]
Lưu Phượng Bân là giáo sư hướng dẫn nghiên
cứu sinh thuộc trường Đại học Trung y dược Quảng
Châu, Trung Quốc, chủ nhiệm Khoa Tỳ vị kiêm chủ
nhiệm Khoa nội soi Bệnh viện số 1 Trường Đại học
Trung y dược Quảng Châu Là một trong 100 gương
mặt thầy thuốc trẻ xuất chúng củaTrung Quốc lần thứ
hai Giáo sư Lưu là người học trò xuất sắc của Giáo
sư Vương Kiến Hoa – chuyên gia đầu ngành về tỳ vị
ở Trung Quốc Trong suốt nhiều năm công tác giảng
dạy, nghiên cứu và thực hành lâm sàng về kết hợp
đông tây y phòng và điều trị các bệnh liên quan đến
tỳ vị, giáo sư đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực
tiễn quý báu, đặc biệt đối với việc điều trị bệnh viêm
loét đại tràng có nhiều phương pháp điều trị độc đáo,
đạt hiệu quả Sau đây xin được giới thiệu tóm tắt kinh
nghiệm vận dụng các phương pháp đông y trong điều
trị bệnh viêm loét đại tràng của giáo sư Lưu như sau:
1 Nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh
Trong y văn cổ đông y không có bệnh danh của
bệnh viêm loét đại tràng, song căn cứ vào các chứng
trạng của bệnh như ỉa chảy, đi ngoài phân nhầy máu,
đau bụng, cảm giác mót rặn đông y quy vào các
bệnh danh “Phúc thống”, “Tiết tả”, Lỵ tật”, “Tràng
phong”, “Tràng độc”, “Tràng tích”, “Tạng độc”, “Trệ
hạ”
Giáo sư Lưu đã biết kế thừa và vận dụng những
kinh nghiệm quý báu của các bậc danh y đã được áp
dụng điều trị rộng rãi trong nhân dân, trong đó điều trị bệnh phải biện chứng luận trị theo nguyên nhân gây bệnh Qua nhiều năm kinh nghiệm, giáo sư đã tổng kết bệnh viêm loét đại tràng chủ yếu thuộc tạng tỳ và đại tràng nhưng lại luôn có quan hệ mật thiết với các tạng can, thận Tỳ chủ vận hóa, thích táo sợ thấp; tiểu tràng, đại tràng phân thanh giáng trọc, thải các chất cặn bã; can chủ sơ tiết, điều tiết tỳ vận hóa; thận chủ mệnh môn hỏa, trợ giúp tỳ vận hóa
Giáo sư Lưu cho rằng thấp nhiệt lưu tại trung tiêu,
tỳ vị là trung khu thăng, giáng, trên, dưới khí cơ của
cơ thể Sách “ Tố vấn – Âm dương ứng tượng đại luận thiên” viết: “Khí thanh giáng xuống gây ra tiết tả, khí trọc nghịch lên trên gây ra đầy trướng, âm dương nghịch đảo gây ra bệnh” Từ đó có thể thấy, việc điều hòa khí cơ ở trung tiêu trong suốt quá trình điều trị bệnh viêm loét đại tràng là rất quan trọng Nếu tỳ không thăng được khí thanh ở trên sẽ gây ra hóa mắt chóng mặt, ở dưới sẽ gây ra tiêu chảy; nếu vị không giáng được trọc, ở trên sẽ gây ra nôn nấc, ợ hơi, ở giữa sẽ gây ra đầy bụng, trướng bụng, đau bụng, ở dưới sẽ gây ra táo bón Do đó tỳ thăng vị giáng tuy đối nghịch lại nhau nhưng thăng và giáng lại ảnh hưởng lẫn nhau “thăng chi bất cập tắc vị giáng, giáng chi bất cập tắc vị thăng” có nghĩa là thăng yếu thì giáng mạnh và ngược lại giáng yếu thì thăng mạnh Nếu thăng giáng thất thường sẽ khiến cho tinh của hậu thiên không tàng trữ được, khí thanh từ ăn uống không có cách gì thăng, giáng, xuất, nhập gây ra hiện tượng tỳ vị đồng bệnh, bệnh tạng tỳ gây bệnh ở tạng
vị, bệnh ở tạng vị gây bệnh ở tạng tỳ, đồng thời kết hợp thêm ảnh hưởng tương hỗ giữa các tạng phủ dẫn đến sự phức tạp đan xen về thay đổi bệnh lý của thăng giáng thất thường
Các yếu tố gây bệnh gồm có thấp, nhiệt, ứ, trệ Giáo sư Lưu cho rằng bệnh nguyên, bệnh cơ của bệnh viêm loét đại tràng gồm có: nhiệt (thấp nhiệt),
hư (tỳ hư, thận hư, tỳ thận hư), khí (khí uất), ứ (huyết ứ) Trong đó yếu tố chủ yếu gây ra bệnh là thấp nhiệt, bệnh lý cơ bản lấy tỳ hư làm bản; thấp nhiệt, can uất, huyết ứ làm tiêu Giáo sư Lưu còn căn cứ vào từng giai đoạn tiến triển khác nhau của bệnh mà phân ra giai đoạn đầu là thấp nhiệt nội uẩn, giai đoạn
bị bệnh lâu tà khí làm tổn thương chính khí dẫn đến
tỳ thận lưỡng hư Phần lớn hay gặp các chứng hàn nhiệt thác tạp, hư thực tương kiêm, bản hư tiêu thực
Do đó pháp điều trị bệnh trong giai đoạn cấp tính lấy thanh nhiệt trừ thấp là chính, giai đoạn ổn định lấy kiện tỳ thẩm thấp là chính Ở mỗi giai đoạn cần chú ý lấy tỳ vị làm trung tâm kết hợp với ngũ tạng tương quan phân tích để điều trị Giáo sư Lưu trong mỗi giai đoạn điều trị bệnh, luôn chú ý điều hòa tỳ vị kết hợp với sơ can, ích thận Chính vì thế kết quả điều trị luôn đạt hiệu quả cao
2 Pháp điều trị, phương thuốc và chế độ điều dưỡng
Giáo sư Lưu căn cứ vào lý luận ngũ tạng tương quan kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng cũng như các đặc điểm về hoàn cảnh khí hậu cho rằng giai
Trang 3Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013 13
đoạn hoạt động của bệnh viêm loét đại tràng phần
lớn là nhiệt độc vượng hỏa, đại tràng thấp nhiệt, tỳ
hư thấp nhiệt, pháp điều trị chủ yếu là thanh nhiệt trừ
thấp; giai đoạn ổn định thường là tỳ thận bất túc, can
tỳ bất hòa, pháp điều trị chủ yếu là kiện tỳ thẩm thấp;
còn với thể khí trệ huyết ứ có thể vận dụng pháp điều
trị là hoạt huyết hóa ứ
Giáo sư Lưu cho rằng thể nhiệt độc vượng hỏa
pháp điều trị là thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ
huyết, dùng phương thuốc “Bạch đầu ông thang gia
giảm” Thể đại tràng thấp nhiệt pháp điều trị là thanh
nhiệt táo thấp, lương huyết chỉ huyết, dùng phương
thuốc “Cát căn cầm liên thang gia giảm” Thể tỳ vị hư
nhược pháp điều trị là kiện tỳ ích khí, hóa thấp, dùng
phương thuốc “Sâm linh bạch truật tán gia giảm” Thể
tỳ vị bất túc pháp điều trị là bổ tỳ thận, ôn dương hóa
thấp, dùng phương thuốc “Tứ quân tử thang kết hợp
với Tứ thần hoàn gia giảm” Thể can tỳ bất hòa pháp
điều trị là sơ can kiện tỳ, dùng phương thuốc “ Thống
tả yếu phương thang”
Trên lâm sàng, giáo sư Lưu rất chú trọng việc gia
giảm các vị thuốc trong bài thuốc Chẳng hạn như
bệnh nhân đại tiện phân nhầy máu có thể gia Tam
thất, Địa du, Mã xỉ hiện để lương huyết chỉ huyết;
bệnh nhân đại tiện phân nát, nhầy mũi có thể gia
Thương truật, Ý dĩ để kiện tỳ táo thấp; bệnh nhân
đau bụng nhiều có thể gia Diên hồ sách, Ô dược,
Mộc hương để hành khí chỉ thống; bệnh nhân nóng
sốt có thể gia Bạch hoa xà thiệt thảo, Bộ tra diệp để
thanh nhiệt giải độc; bệnh nhân đầy bụng, đau bụng
có thể gia Diên hồ sách, Đại phúc bì, Hương phụ để
lý khí chỉ thống; bệnh nhân chướng bụng, ăn uống
kém do thấp trọc hóa nhiệt có thể gia Thạch xương
bồ, Xích phục linh để hóa thấp thẩm thấp
Giáo sư Lưu cho rằng đối với các trường hợp
viêm đại tràng ở vị trí tương đối thấp như trực tràng
và đại tràng xích – ma (sigma) có thể sử dụng thuốc
thụt đại tràng sẽ mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn
Phương thuốc thụt đại tràng thường dùng gồm có:
Cát căn, Tích tuyết thảo, Khổ sâm, Thạch lựu bì, Xích
thạch chỉ mỗi vị 20g; Hoàng liên, Hoàng cầm, Địa du
thán mỗi vị 15g; Hỏa thán mẫu, Bạch đầu ông, Bạch
hoa xà thiệt thảo mỗi vị 30g; Ngũ bội tử 10g Sắc lấy
nước, thụt giữ đại tràng, mỗi ngày một lần Bài thuốc
dùng Cát căn có tác dụng thăng dương giải cơ, thấu
chẩn chỉ tả; Tích tuyết thảo có tác dụng thanh nhiệt
lợi thấp, hoạt huyết chỉ huyết; Thạch lựu bì, Ngũ bội
tử, Xích thạch chỉ có tác dụng sáp trường chỉ tả, chỉ
huyết; Hoàng liên, Hoàng cầm, Khổ sâm có tác dụng
thanh nhiệt táo thấp, giải độc; Địa du thán, Hỏa thán
mẫu có tác dụng lương huyết chỉ huyết; Bạch đầu
ông, Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt
lương huyết, giải độc
Giáo sư Lưu trong quá trình điều trị còn chú ý kết
hợp liệu pháp dán thuốc vào các huyệt đạo Viêm
loét đại tràng đau bụng do thấp nhiệt có thể dùng cao
thuốc dán “ Thanh vị tán”, trường hợp đau bụng do
hư hàn có thể dùng “Ôn vị tán” dán vào các huyệt vị
như Túc tam lý, Nội quan, Thượng quản, Trung quản,
Thiên khu mang lại hiệu quả điều trị cao
Bên cạnh việc điều trị dùng thuốc, giáo sư còn rất coi trọng chế độ ăn uống và tình chí của bệnh nhân Bệnh nhân viêm loét đại tràng cần chú ý về chế độ ăn uống và tình chí Giáo sư Lưu thường dặn bệnh nhân:
“Ba phần trị, bảy phần dưỡng” Bệnh nhân cần tuân theo nguyên tắc dưỡng sinh của đông y là “ Ăn các thức ăn có tính ôn, không ăn thức ăn có tình hàn ”, không ăn các thức ăn sống, lạnh Trong vận dụng nên chú ý thể chất hàn nhiệt, hư thực cùng với đặc điểm bệnh tình mà có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi phù hợp
3 Bệnh án điển hình
Bệnh nhân nam, 33 tuổi, vào viện với lý do đại tiện phân nát lẫn nhầy máu hơn 2 năm 2 năm trước bệnh nhân thấy đại tiện phân nát, có nhầy mũi lẫn máu tươi, ngày đi 3 – 4 lần, không có cảm giác mót rặn Ngày 9/1/2012 đến khám tại Bệnh viện Đông quản kháng hoa Kết quả nội soi đại tràng có viêm loét đại tràng vùng trực tràng và đại tràng xích – ma (sigma) Kết quả sinh thiết có viêm loét mạn tính niêm mạc đại tràng mức độ nặng Bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc tây y (không rõ thuốc gì) nhưng không
đỡ Ngày 30/7/2012 Giáo sư Lưu khám: bệnh nhân
có triệu chứng đau bụng, đầy bụng, sôi bụng ỉa lỏng
7 – 8 lần/ ngày, phân nhầy mũi lẫn máu tươi, sau khi đại tiện vẫn còn đau bụng, không mót rặn, không nóng rát hậu môn, không sốt, không nôn, ra mồ hôi ban đêm, sợ lạnh, miệng khô, đắng, ăn ngủ kém, mỏi mệt, tay chân lạnh, tiểu tiện vàng, sụt cân khoảng 5
kg trong 3 tháng Bệnh nhân có tiền sử bệnh trĩ hơn 1 năm, ăn uống và sinh hoạt không điều độ, hút thuốc
lá và uống rượu hơn 10 năm, hiện tại đã cai thuốc lá
và rượu Khám đông y: sắc hồng, thể trạng gầy yếu, chất lưỡi đỏ, có vết hằn răng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác Chẩn đoán bệnh thuộc thể tỳ hư thấp nhiệt Pháp điều trị: kiện tỳ trợ vận, thanh nhiệt lợi thấp, hành khí hoạt huyết Phương thuốc dùng bài “
Tứ quân tử thang” kết hợp với bài “Cát căn cầm liên thang” gia giảm Bài thuốc cụ thể gồm có các vị như sau: Thái tử sâm 15g, Bạch truật 10g, Phục linh 30g, Cam thảo 6g, Cát căn 20g, Hoàng liên 5g, Hoàng cầm10g, Quảng nhũ hương 10g, Hỏa thán mẫu 20g, Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, Ngũ chỉ mao đào 30g, Sơn dược 30g, Phòng phong 10g, Địa du thán 10g Tổng cộng 7 thang, ngày sắc uống 1 thang Sau khi uống 7 thang thuốc, bệnh nhân đến khám lại bệnh tình có chuyển biến tốt, đại tiện 3 – 4 lần/ ngày, đỡ chảy máu và phân nhầy nát, đỡ đầy bụng, đau bụng, đại tiện xong hết đau bụng, đỡ mệt mỏi, miệng khô đắng, ăn uống khá, ngủ kém, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi vàng đỡ nhớt, mạch trầm hoạt Giáo sư dùng bài thuốc trên giảm các vị: Bạch hoa xà thiệt thảo, Cát căn, Hoàng liên, gia thêm các vị Đại phúc bì 15g, Tiên hạc thảo 30g, Mộc hương 10g, Khiếm thực 30g, Tam thất 6g Sắc uống 7 thang, mỗi ngày 1 thang Sau uống thuốc các triệu chứng có cải thiện rõ rệt Bệnh nhân tiếp tục uống thuốc trong vòng 3 tháng, đại tiện bình thường, không còn phân nhầy máu, không đau bụng, đầy bụng, sắc mặt tươi nhuận,
Trang 4Y häc thùc hµnh (899) - sè 12/2013 14
tăng cân Đánh giá sau điều trị bệnh nhân không thấy
tái phát, nhưng vẫn hết sức chú ý trong ăn uống
BÀN LUẬN
Bệnh nhân có tiền sử bệnh trĩ hơn 1 năm, ăn
uống và sinh hoạt không điều độ, hút thuốc lá và
uống rượu hơn 10 năm dẫn đến đại tiện phân nhầy
máu tái đi tái lại Do bệnh nhân ăn uống không điều
độ kết hợp với uống rượu dẫn đến thủy cốc ứ trệ
không tiêu, sinh ra thấp nhiệt ảnh hưởng đến trung
tiêu làm tổn thương tỳ vị Tỳ chủ vận hóa, vị chủ thu
nạp Nếu ăn uống không điều độ sẽ khiến tỳ vị vận
hóa thất điều, đại tràng không thông, khí huyết và
chất trở trọc xung khắc dẫn đến đau bụng, đi ngoài
phân nát Từ triệu chứng của bệnh cho thấy, đại tiện
phân nhầy nát, miệng khô, đắng, chất lưỡi hồng, hai
bên lưỡi có vết hằn răng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch
hoạt sác là biểu hiện của chứng thấp nhiệt nội thịnh
Đông y cho rằng tỳ hư sẽ làm mất vận hóa thức ăn
dẫn đến ăn uống kém, người mệt mỏi, tinh thần uể
oải, không muốn nói, chân tay lạnh, đại tiện phân nát,
đầy bụng, đau bụng, ỉa chảy cho nên pháp điều trị
cần lấy kiện tỳ trợ vận, thanh nhiệt lợi thấp, hành khí
hóa trệ Bài thuốc dùng Thái tử sâm, Bạch truật, Ngũ
chỉ mao đào, Sơn dược có tác dụng kiện tỳ ích khí;
Phục linh có tác dụng kiện tỳ lợi thấp; Khiếm thực có
tác dụng bổ tỳ chỉ tả, lợi thủy thẩm thấp; Cát căn có
tác dụng thăng dương chỉ tả; Hoàng liên, Hoàng cầm
có tác dụng thanh thấp nhiệt vị tràng; Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Địa du thán, Tam thất, Tiên hạc thảo có tác dụng lương huyết chỉ huyết; Quảng nhũ hương có tác dụng hóa thấp hòa trung; Đại phúc bì có tác dụng hạ khí khoan trung, hành thủy; Mộc hương có tác dụng hành khí chỉ thống, kiện tỳ tiêu trệ; Phòng phong có tác dụng khu phong thắng thấp chỉ tả; Cam thảo có tác dụng điều hòa các vị thuốc Giáo sư Lưu đã vận dụng pháp lấy kiện tỳ để vận hóa tiêu trệ, thanh nhiệt lợi thủy để thẩm thấp, lương huyết thu liễm để chỉ huyết, khu phong để thắng thấp chỉ tả, hành khí để chỉ thống, cho nên kết quả điểu trị đã đạt hiệu quả cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Yun J, Xu CT, Pan BR.(2009) “Epidemiology and
gene markers of ulcerative colitis in the Chinese” World
J Gastroenterol., 15(7), pp 788 - 803
2 Travis SPL, Higgins PDR, Orchard T,et al (2011)
“Review article: defining remission in ulcerative colitis”
Alimen.t Pharmacol The.r, 34, pp 113 - 124
3 Lý Triệu Trung (2005) “Thuốc điều trị các bệnh
tiêu hóa theo y học hiện đại” Nhà xuất bản Quân y
Nhân dân, tr.307 - 315
4 Hội các bệnh Tỳ vị thuộc Hội Đông y Trung Quốc
(2010) “Nh ững hiểu biết về đông y trong chẩn đoán và điều trị bệnh viêm loét đại tràng” Tạp chí Đông tây y
Trung Quốc, 30 (5), tr 527 - 531
KÕT QU¶ PHÉU THUËT KÕT HîP X¦¥NG §INH NéI TñY
Cã CHèT SIGN §IÒU TRÞ G·Y KÝN TH¢N X¦¥NG §ïI T¹I BÖNH VIÖN 103
§Æng Hoµng Anh*, Ph¹m Quèc §¹i **
*Bệnh viện 103, **Học viện Quân y
TÓM TẮT
47 bệnh nhân bị gãy kín thân xương đùi, tuổi trung
bình 29,7 được phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh
nội tủy có chốt SIGN tại Khoa Chấn thương Chỉnh
hình - Bệnh viện 103 từ tháng 5/2010 đến tháng
12/2012 Kiểm tra 38 bệnh nhân với thời gian theo dõi
trung bình là 14,3 tháng Kết quả sau mổ: liền xương
không di lệch 33 BN (86,8%), 5 BN (13,2%) liền
xương ít di lệch Vận động khớp gối bình thường ở 31
chung: rất tốt 31 BN (81,6%), tốt 6 BN (15,8%), trung
bình 1 BN (2,6%)
Từ khóa: Gãy xương đùi, đinh có chốt SIGN
SUMMARY
INTERLOCKING NAIL FOR TREATMENT OF FEMORAL
FRACTURE IN 103 HOSPITAL
47 patients femoral fractures, (Average of age:
29.7 y.o) were treated with locking intramedullary nail
in 103 hospital from Mai 2010 to december 2012
The evaluation of outcomes 38 patients, average of
follow up was 21± 6 months Results postoperatives:
unions nondeplaced were 33 patients (86.8%), 5 patients (13.2%) unions litles deplaced The R.O.M of the knee were normals in 31 patients (81.6%), 4
outcomes commun: excellent 31 patients (81.6%), good 6 patients (15.8%), fair 1 patient (2.6%)
Keywords: Femoral fracture, SIGN interlocking
nail
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy thân xương đùi hay gặp trong các tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt và tai nạn lao động, có
xu hướng ngày càng gia tăng do sự phát triển của các ngành xây dựng cơ bản và phương tiện giao thông cơ giới tốc độ cao
Xương đùi là xương to và dài nhất cơ thể, khi gãy xương (với một lực chấn thương tương đối mạnh, và nhiều cơ lớn co kéo) nên ổ gãy di lệch lớn, khó nắn chỉnh, khó cố định Thời gian để liền xương đùi kéo dài, hay để lại nhiều biến chứng và di chứng gây tàn phế [2] Có nhiều phương pháp điều trị gãy xương đùi (bó bột, kéo liên tục, phẫu thuật) Nhưng để phục hồi tốt chức năng chi thể, giúp bệnh nhân sớm trở lại