1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NGHIÊN cứu CĂNG THẲNG CHỨC NĂNG hệ TIM MẠCH của CÔNG NHÂN lái XE bưu CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG

2 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 198,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau ca lao động, tần số nhịp tim của CNLXBC cao hơn so với trước ca, trong khi đó tần số nhịp tim của nhóm đối chứng lại giảm thấp hơn trước nhưng chưa có ý nghĩa thống kê.. Sau ca lao đ

Trang 1

Y HỌC THỰC HÀNH (903) - SỐ 1/2014 150

- Kỹ thuật thu thập thông tin:

Theo phương pháp của Baevxki (1984) người ta

ghi lại 100 nhịp tim liên tiếp ở trạng thái tĩnh trong tư

thế nằm, tính các chỉ số thống kê toán học nhịp tim

như sau [9]:

+ x (giây) = RR tối đa – RR tối thiểu;

+ Mo (giây): giá trị của khoảng RR gặp nhiều nhất

trong 100RR;

+ AMo (%): số lượng khoảng RR có giá trị gặp

nhiều nhất (Mo) trong 100RR;

+ X = RR/100;

+ TSN trung bình (nhịp/phút) = 60/X;

+ δ (giây): độ lệch chuẩn của 100RR;

+ V: hệ số dao động của 100RR = δ/X;

+ CSCT: chỉ số căng thẳng = AMo /2x Mo

Trong nghiên cứu này, các chỉ số thống kê toán

học nhịp tim (TKTHNT), bao gồm: TSN, δ, CSCT

được so sánh trước – sau ca lao động để tìm sự

khác biệt trong quá trình lao động

- Đo huyết áp theo thường quy kỹ thuật của Viện

Y học Lao động và Vệ sinh môi trường 2002: huyết

áp động mạch được đo ở tay trái bằng huyết áp kế

của Nhật, đo ở tư thế nằm ở thời điểm trước ca và

sau ca lao động

- Phương pháp thống kê xử lý số liệu: trên

Epi-Info 6.4 và SPSS

- Đạo đức nghiên cứu: nghiên cứu tuân thủ theo

quy định và được Hội đồng đạo đức của Bệnh viện

Bưu điện thông qua trước khi tiến hành

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1 Huyết áp

Bảng 1: Huyết áp tâm thu của CNLXBC và đối

chứng

Nhóm

nghiên cứu

ĐV

tính

p

Chủ cứu

119,50 10,00 124,00 12,00 < 0,01 Đối chứng

127,50 22,21 127,00 26,07 > 0,05

Nhận xét: Tại thời điểm trước ca lao động, huyết

áp tâm thu của CNLXBC thấp hơn so với nhóm đối

chứng có ý nghĩa thống kê Sau ca lao động, huyết

áp tâm thu của CNLXBC tăng cao hơn so với trước

ca có ý nghĩa thống kê Trong khi đó chúng ta không

thấy sự khác biệt này ở nhóm đối chứng

Bảng 2: Huyết áp tâm trương của CNLXBC và đối

chứng

Nhóm

nghiên cứu

ĐV

tính

p

Chủ cứu

73,50 7,00 78,40 6,00 < 0,05 Đối chứng

85,37 12,36 86,11 11,91 > 0,05

Nhận xét: Tại thời điểm trước ca lao động, huyết

áp tâm trương của CNLXBC thấp hơn so với nhóm

đối chứng có ý nghĩa thống kê Sau ca lao động,

huyết áp tâm trương của CNLXBC tăng cao hơn so

với trước ca có ý nghĩa thống kê Trong khi đó chúng

ta không thấy sự khác biệt này ở nhóm đối chứng

2 Các chỉ số toán học nhịp tim

Bảng 3: Tần số nhịp tim của CNLXBC và đối chứng

Nhóm nghiên cứu

ĐV tính

p

Chủ cứu (n=40)

CK/p hút 77,26 13,85 75,78 11,48 > 0,05 Đối chứng

(n=40)

CK/p hút 76,53 12,63 73,83 13,11 > 0,05

Nhận xét: Tại thời điểm trước ca lao động, tần số nhịp tim của CNLXBC thấp hơn so với nhóm đối chứng Tuy nhiên, sự khác nhau này chưa có ý nghĩa thống kê Sau ca lao động, tần số nhịp tim của CNLXBC cao hơn so với trước ca, trong khi đó tần số nhịp tim của nhóm đối chứng lại giảm thấp hơn trước nhưng chưa có ý nghĩa thống kê

Bảng 4: Độ lệch chuẩn 100RR của CNLXBC và đối chứng

Nhóm nghiên cứu

ĐV tính

p

Chủ cứu

0,038 0,012 0,031 0,010 < 0,05 Đối chứng

0,041 0,011 0,039 0,013 > 0,05

Nhận xét: Tại thời điểm trước ca lao động, độ lệch chuẩn 100RR của CNLXBC thấp hơn so với nhóm đối chứng nhưng chưa có ý nghĩa thống kê Sau ca lao động, độ lệch chuẩn 100RR của CNLXBC giảm thấp so với trước ca và thấp hơn nhóm đối chứng có

ý nghĩa thống kê Trong khi đó, độ lệch chuẩn 100RR của nhóm đối chứng cũng giảm thấp hơn so với trước ca nhưng chưa có ý nghĩa thống kê

3 Chỉ số căng thẳng

Bảng 5: Chỉ số căng thẳng của CNLXBC và đối chứng

Nhóm nghiên cứu

ĐV tính

p

Chủ cứu

270,34 55,10 379,45 56,90 < 0,01 Đối chứng

269,56 59,73 281,47 63,67 > 0,05

Nhận xét: Tại thời điểm trước ca lao động, chỉ số căng thẳng của CNLXBC cao hơn so với nhóm đối chứng nhưng chưa có ý nghĩa thống kê Sau ca lao động, chỉ số căng thẳng của CNLXBC tăng cao hơn

so với trước ca và cao hơn nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê Trong khi đó, chỉ số căng thẳng của nhóm đối chứng cũng tăng cao hơn so với trước ca nhưng chưa có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu bảng 1&2 cho thấy, tại thời điểm trước ca lao động, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương của CNLXBC thấp hơn so với nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê Sau ca lao động, huyết

áp tâm thu và huyết áp tâm trương của CNLXBC cao hơn so với trước ca có ý nghĩa thống kê Trong khi

Trang 2

Y HỌC THỰC HÀNH (903) - SỐ 1/2014

151

đó chúng ta không thấy sự khác biệt này của nhóm

đối chứng, thể hiện sự căng thẳng chức năng tim

mạch trong ca lao động CNLXBC hơn so với nhóm

đối chứng mà chúng ta còn đề cập ở phần sau (xem

chi tiết bảng 4&5) Điểm đáng chú ý là ở đây là tại

các thời điểm trước và sau ca lao động cả huyết áp

tâm thu và tâm trương của CNLXBC đều thấp hơn

nhóm đối chứng Theo chúng tôi, CNLXBC cũng

thuộc loại lao động có gánh nặng thể lực khá lớn do

giao nhận bưu kiện, bưu phẩm và vận cơ tĩnh nhiều

trong quá trình lái xe Vì vậy, huyết áp trạng thái tĩnh

của họ có khả năng ổn định hơn nhóm đối chứng

(tính chất lao động thiên về trí tuệ, ít vận động)

Theo Baevxki, chỉ số δ càng thấp, CSCT càng cao

thể hiện tham gia điều khiển ở mức trung ương càng

nhiều do căng thẳng Khi δ < 0,04 giây và CSCT 

200 cho thấy mức quá căng thẳng chức năng cơ thể

và chức năng tim mạch, đồng thời thể hiện khả năng

thích nghi càng kém [9] Nheverova N.P và cs 1996

cũng cho biết, khi CSCT  200 thì hệ tim mạch chịu

mức quá căng thẳng [5] Kết quả nghiên cứu bảng

4&5 cho thấy, tại thời điểm trước ca lao động, độ lệch

chuẩn 100RR của CNLXBC là 0,039s và chỉ số căng

thẳng là 270,34 ĐVĐK đều thuộc nhóm căng thẳng

chức năng cơ thể và chức năng tim mạch theo tiêu

chuẩn của Baevxki Đặc biệt, tại thời điểm sau ca lao

động, độ lệch chuẩn 100RR giảm thấp và chỉ số căng

thẳng của CNLXBC tăng cao hơn so với trước ca và

cao hơn nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê Trong

khi đó, chúng ta không thấy sự khác biệt này nhóm

đối chứng Như vậy, sau ca lao động, độ lệch chuẩn

của 100RR có xu hướng giảm (bảng 4) và chỉ số

căng thẳng có xu hướng tăng so với trước ca (bảng

5), đặc biệt các xu hướng giảm và tăng đều nhiều

hơn so với nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê, thể

hiện sự căng thẳng chức năng cơ thể, chức năng tim

mạch và giảm khả năng thích nghi của cơ thể trong

quá trình lao động của CNLXBC Nhận định này cũng

phù hợp với nhận định của Trịnh Hoàng Hà (2013),

khi nghiên cứu biến đổi một số chỉ tiêu tâm sinh lý

trong quá trình lao động của công nhân lái xe Bưu

chính trong ngành Bưu Điện [8] Thời gian gần đây

các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng các

chỉ số TKTHNT để nghiên cứu đánh giá căng thẳng

chức năng cơ thể, chức năng tim mạch; khả năng

thích nghi của người lao động ở một số nghề đặc thù

và cho kết quả rất khả quan Trần Thanh Hà và cs

(2003) cho biết, công nhân lái xe khách và xe Bưu

chính đều có chỉ số TKTHNT ở ngưỡng căng thẳng

3/4, với δ: 0,030s đến 0,038s và CSCT từ 270 đến

397 [6] Nguyễn Ngọc Ngà và cs (2005) nghiên cứu

sức khoẻ người lao động điều khiển cho biết, lao

động điều khiển có chỉ số TKTHNT ở ngưỡng căng

thẳng 3/4, với δ: 0,0360,0136; CSCT: 328483,2

Tác giả cũng cho biết, các đối tượng làm ca chiều có

biểu hiện căng thẳng nhất [4] Trần Thanh Hà và cs

(2007) cho biết, Cảnh sát giao thông nội đô có biểu

hiện căng thẳng hơn so với ngoại đô [7]

Theo chúng tôi, sự căng thẳng chức năng cơ thể

và chức năng tim mạch của CNLXBC do điều kiện lao

động đặc thù của họ, bao gồm: lao động theo ca kíp trái với nhịp sinh hoạt và làm việc trong trạng thái vận

cơ tĩnh, tiêu hao năng lượng gấp 1,5 lần vận cơ động [1]; độ tập chú ý cao trong quan sát tín hiệu giao thông, đặc biệt áp lực thời gian chính xác theo lịch trình định trước và tính trách nhiệm trong đảm bảo thông tin truyền thông, chỉ đạo của chính quyền các cấp

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tại thời điểm sau ca lao động trên cao, huyết áp tâm thu và tâm trương có xu hướng tăng; độ lệch chuẩn 100RR giảm và chỉ số căng thẳng tăng cao có

ý nghĩa thống kê so với trước ca, thể hiện sự căng thẳng chức năng cơ thể và chức năng tim mạch, giảm khả năng thích nghi của CNLXBC trong quá trình lao động Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu khuyến nghị: cần tăng cường các biện pháp chăm sóc sức khoẻ CNLXBC, trước mắt áp dụng các biện pháp nghỉ ngơi tích cực, khám sức khỏe định kỳ phát hiện sớm các bệnh lý có tính chất nghề nghiệp để điều trị kịp thời Nhưng về lâu dài, nên nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn sức khoẻ tuyển chọn phù hợp với nghề lái xe bưu chính nhằm để hạn chế đến mức tối thiểu ảnh hưởng của các yếu tố tác hại nghề nghiệp đảm bảo an toàn hơn cho người lao động và người tham gia giao thông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế-Viện Y học lao động và Vệ sinh môi

trường (1997), Tâm sinh lý lao động và Ecgônômi NXB

Y học, Hà Nội, 220 tr

2 Đào Văn Dũng (2008), Thiết kế nghiên cứu hệ

thống y tế NXB Y học, Hà Nội, tr 59-65

3 Nguyễn Văn Oai, Phạm Thị Hiền (2002), Nghiên

cứu xây dựng tiêu chuẩn sức khỏe tuyển chọn công nhân cột cao thông tin, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Hà Nội

4 Nguyễn Ngọc Ngà và cs (2005), Điều tra cơ bản

về thực trạng điều kiện lao động và sức khỏe người làm công việc điều khiển, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ Y

tế, Hà Nội

5 Nheverova N.P và cs (1996) Biến đổi sức khoẻ của sinh viên đại học sư phạm và giáo viên theo các chỉ

số TKTHNT và các chỉ số nhân trắc, tâm sinh lý Tạp chí sinh lý người, Tập 22, No2, tr 104-107

6 Trần Thanh Hà và cs (2003), Nghiên cứu biến đổi

điện tâm đồ trên công nhân lái xe, Báo cáo hội nghị

khoa học Quốc tế Y học lao động toàn quốc lần thứ V, NXB Y học, Hà Nội, Tr.221-228

7 Trần Thanh Hà, Đào Phú cường và cs (2007),

Đánh giá tình trạng căng thẳng chức năng tim mạch của cảnh sát và dân cư do nhiễm môi trường giao thông,

Tạp chí sinh lý học, Tập 11-N0-1 tháng 4/2007, Hà Nội,

Tr 18-25

8 Trịnh Hoàng Hà (2013), Nghiên cứu biến đổi một

số chỉ tiêu tâm sinh lý trong quá trình lao động của công nhân lái xe Bưu chính trong ngành Bưu Điện, Tạp chí Y

học thực hành (865) – số 4/2013, Tr 27-31

9 Baevxki R.M, Kirillov O.I, Kletxkin X.Z (1984),

Phân tích toán học sự thay đổi nhịp tim dưới ảnh hưởng của stress NXB khoa học, M, 220 tr (tiếng Nga)

Ngày đăng: 19/08/2015, 17:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Huyết  áp  tâm  thu  của  CNLXBC  và  đối - NGHIÊN cứu CĂNG THẲNG CHỨC NĂNG hệ TIM MẠCH của CÔNG NHÂN lái XE bưu CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG
ng 1: Huyết áp tâm thu của CNLXBC và đối (Trang 1)
Bảng  4:  Độ  lệch  chuẩn  100RR  của  CNLXBC  và  đối chứng. - NGHIÊN cứu CĂNG THẲNG CHỨC NĂNG hệ TIM MẠCH của CÔNG NHÂN lái XE bưu CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG
ng 4: Độ lệch chuẩn 100RR của CNLXBC và đối chứng (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w