1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

GIÁ TRỊ MIC CARBAPENEM của ACINETOBACTER BAUMANNII TRONG THỰC HÀNH lâm SÀNG ở BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT ĐỒNG NAI

5 382 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 280,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 GIỮA - DƯỚI BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TRIỆU TRIỀU DƯƠNG, TRẦN HỮU VINH TÓM TẮT UTTQ là bệnh lý ít gặp trong các bệnh ung thư đường tiêu

Trang 1

di động cũng sẽ kém nên trên thực tế hầu như không

có vai trò trong thụ tinh vì vậy nên tách riêng chỉ số vô

định hình ra khỏi các bất thường khác của đầu TT

Phân tích đặc điểm đầu TT ở các nhóm TNSS,

kết quả ở bảng 4 cho thấy:

Tỷ lệ đầu vô định hình ở nhóm TNSS nguyên phát

cao hơn nhóm TNSS thứ phát trong khi các chỉ số

khác kể cả tỷ lệ hình thái bình thường ở 2 nhóm

TNSS không khác nhau gợi ý cho ta rất có thể tỷ lệ

vô định hình cao liên quan đến khả năng thụ thai của

một mẫu tinh dịch Điều này cũng tương tự như khi ta

so sánh giữa nhóm chứng với nhóm TNSS Như vậy

ở loại mẫu tinh dịch nào có tỷ lệ vô định hình cao thì

tỷ lệ thụ thai sẽ thấp

Phân tích mối liên quan giữa tuổi và hình thái đầu

TT trong đối tượng, kết quả ở bảng 5 cho thấy:

Tỷ lệ hình thái đầu TT bình thường ở nhóm tuổi

trẻ thấp hơn ở tuổi lớn hơn, tỷ lệ đầu vô định hình ở

nhóm tuổi trẻ cao hơn nhóm lớn tuổi có lẽ do ở tuổi

càng trẻ tỷ lệ TNSS nguyên phát càng cao, TNSS thứ

phát thường là những bệnh nhân lớn tuổi vì vậy tuổi

càng cao đồng nghĩa với bệnh nhân TNSS thứ phát

càng cao Kết quả này một lần nữa khẳng định TNSS

có tỷ lệ bất thường vô định hình cao, tỷ lệ hình thái

đầu TT bình thường thấp

Nếu chia các độ tuổi ở nhóm TNSS nguyên phát

và TNSS thứ phát thì mỗi nhóm quá nhỏ nên chúng

tôi chưa không kết luận được với từng nhóm thì khi

tuổi cao lên, chất lượng hình thái TT thay đổi như thế

nào Ở đây có lẽ tỷ lệ hình thái TT tăng lên theo độ

tuổi là do tuổi cao thì TNSS thứ phát tăng, nguyên

phát giảm chưa không phải là khi tuổi càng cao thì

chất lượng hình thái đầu TT tốt lên

KẾT LUẬN

Trong các bệnh nhân TNSS, tỉ lệ độ tuổi từ 25-30

là cao nhất (48,1%) sau đó giảm dần ở các nhóm tuổi

cao hơn

Những người đã từng có con đến xét nghiệm tinh

dịch có độ tuổi từ 25-30 chiếm tỉ lệ thấp nhất: 18,2%,

độ tuổi từ 41-48 chiếm tỉ lệ cao nhất: 34,1%

Bệnh nhân TNSS nguyên phát chiếm 78,9%,

TNSS thứ phát 21,1%

Tỉ lệ đầu TT bình thường ở nhóm chứng là 58,0% cao hơn so với nhóm TNSS là 45,9%

Tỉ lệ đầu TT vô định hình ở nhóm chứng là 25,3% thấp hơn nhóm TNSS là 33,7%

Tỉ lệ đầu TT bình thường ở nhóm TNSS NP là 45,8% thấp hơn so với nhóm TNSS TP là 46,6% Trong khi tỉ lệ đầu TT vô định hình ở nhóm TNSS NP

là 34,3% cao hơn so với nhóm TNSS TP là 31,7%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Quán Anh (2009), “Tinh trùng”, Bệnh học giới tính nam NXB Y học, tr 72-122

2 Trần Đức Phấn, Phan Thị Hoan, Nguyễn Xuân Tùng (2010), Sử dụng máy CASA trong xét nghiệm tinh dịch và những điểm cần lưu ý khi trả lời kết quả xét nghiệm tinh dịch Y học thực hành 727 (7), tr 56 - 61

3 Trần Đức Phần, Trịnh Văn Bảo, Hoàng Thu Lan (2002), “Đặc điểm tinh dịch của những người nam giới trong các cặp vợ chồng thiểu năng sinh sản”, Y học thực hành, 407(1), tr 38-41

4 Mai Đắc Việt, Trần Huy Ngọc, Mai Đức Thuận (2000), “Nghiên cứu số lượng, chất lượng tinh trùng của

100 thanh niên khỏe mạnh”, Công trình nghiên cứu y học quân sự, Học viên quân Y (2) tr 6-11

5 Gunalp S., Onculoglu C., Gurgan T., Kruger T F., Lombard C J (2001), “A study of semen parameters with emphasis on sperm morphology in a fertile population: an attempt to develop clinical thresholds” Hum Reprod., 16(1), pp 110-114

6 Kidd S A., Eskenazi B., Wyrobek A.J (2001),

“Effects of age on semen quality anh fertility: a review of the literature”, Fertil-Steril, 75(2), pp 237-248

7 Kurpisz M., Szczygiel M (2000), “Molekularne podstawy teratozoospermia”, Ginekol-Pol,71(9),pp 1036-1041

8 WHO (1992), WHO laboratory manual for the examination of human semen anh sperm-cervical mucus interaction, third edition, United Kingdom

9 WHO (1999), WHO laboratory manual for the examination of human semen anh sperm-cervical mucus interaction, fourth edition, United Kongdom

10 WHO (2010), WHO laboratory manual for the Examination and processing of human semen Fifth edition

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 GIỮA -

DƯỚI BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI

TRIỆU TRIỀU DƯƠNG, TRẦN HỮU VINH TÓM TẮT

UTTQ là bệnh lý ít gặp trong các bệnh ung thư

đường tiêu hoá, tỷ lệ Nam/ Nữ là 5,5/1 tần suất mắc

bệnh có liên quan đến thói quen ăn uống và sử dụng

thuốc lá Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang

không đối chứng thực hiện trên 69 BN bị UTTQ 1/3

giữa dưới được PTNS thì ngực cắt bỏ đoạn thực

quản tổn thương và thay thế bằng ống cuốn dạ dầy

tự thân theo Akyama Kết quả đánh giá sau phẫu thuật cho thấy phương pháp an toàn và hiệu quả tốt: không tử vong, thời gian phẫu thuật ngắn (116,8 ± 52,9 phút), tai biến trong mổ 5,8%, tỷ lệ biến chứng sau mổ thấp (18,85%) Chất lượng sống sau mổ phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, 100% bệnh nhân UTTQ giai đoạn T2 sau phẫu thuật có chất lượng cuộc sống tốt (đánh giá theo chỉ số Karnofsky) Thời gian sống

Trang 2

sau 5 năm là 11,76%

Từ khóa: Ung thư thực quản, Phẫu thuật nội soi

SUMMARY

ASSESSMENT RESULTS OF THORACOSCOPIC

RESECTION FOR MID - LOWER THORACIC

ESOPHAGEAL CANCER: A SURGEON’S EXPERIENCES

Background: Esophageal cancer is rare in

disgestive cancer, ratio of male to female was 5.5:1

Prevalence is related to eating habits and smoking

Methods: Prospective, cross-sectional descriptive and

uncontrolled study Results: Sixty nine patients have

suffered from mid-lower thoracic esophageal cancer

performed by thoracoscopic esophagectomy Operative

time was 116.8 ± 52.9 minutes), rate of in-operative

complications was 5.8%, postoperative complication

rate was 18.85% and immortality Life quality of

postoperation depends on stages 100% patients with

T2 stage live well (according to Karnofsky) 5- year

survival was 11.76% Conclusions: Thoracoscopic

esophagectomy is safe and effective

Keywords: Thoracoscopic, Esophageal cancer

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư thực quản là một bệnh lý ít gặp chiếm

khoảng 5% trong nhóm ung thư đường tiêu hóa và

khoảng 1% ung thư nói chung Ung thư thực quản là

một bệnh lý ác tính, phương pháp điều trị chủ yếu

vẫn là phẫu thuật Bệnh nhân thường đến viện ở giai

đoạn muộn nên điều trị vẫn còn gặp nhiều khó khăn,

thời gian sống sau điều trị ngắn

Các phương pháp phẫu thuật mở thường để lại

những biến chứng nặng nề, nhiều biến chứng về hô

hấp, thời gian phục hồi sau mổ chậm, tỷ lệ xì rò và tử

vong cao Ngày nay, phẫu thuật nội soi cắt thực quản

đã khắc phục đáng kể biến chứng và rút ngắn thời

gian nằm viện Trong đó phẫu thuật nội soi thay thực

quản bằng ống cuốn dạ dày theo phương pháp

Akiyama là biện pháp có nhiều lợi điểm và được các

phẫu thuật viên lựa chọn

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh

giá kết quả điều trị UTTQ 1/3 giữa- dưới bằng phẫu

thuật nội soi ngực thay thực quản có sử dụng ống

cuốn dạ dày theo phương pháp Akiyama

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 69 bệnh nhân UTTQ 1/3 giữa – dưới được

PTNS đường ngực, cắt bỏ thực quản và thay thế

bằng ống cuốn dạ dày theo phương pháp Akiyama

Số liệu thực hiện tại BVTW 108 và BV Bạch Mai từ

9/2004 đến 12/2012

2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang không đối

chứng

- Lập phiếu theo dõi đánh giá đặc điểm giai đoạn

bệnh, kết quả điều trị trước, trong và sau mổ

- Lấy kết quả giải phẫu bệnh làm tiêu chuẩn vàng

để xác định giai đoạn bệnh

KẾT QUẢ

1 Đặc điểm về tuổi- giới

Nghiên cứu 69 BN chúng tôi gặp tuổi người bệnh

trên 50 chiếm 69,4%, trung bình là 54,04 ± 8,12 (73

tuổi - 36 tuổi) Phù hợp với một số tác giả: Phạm Hữu Thiện Chí trung bình 52,4 tuổi, Shmuel Avital là 59 tuổi (15-74)

Ung thư thực quản chủ yếu gặp ở nam giới, theo một nghiên cứu của Hiromasa Fujita thì năm 2001 có

10667 người chết vì ung thư thực quản ở Nhật Bản trong đó có 9026 là nam giới và 1651 là nữ giới, tỷ lệ nam/nữ là 5,5/1 Trong 2 thập kỷ trở lại đây thì số nam giới chết vì ung thư thực quản tăng gấp 2 lần còn nữ giới tăng 1,3 lần Tỷ lệ chết chung của ung thư thực quản trong cộng đồng năm 2001 ở nam giới

là 14,7/100000 dân và nữ giới là 2,6/100000 dân Giải thích điều này có nhiều nguyên nhân như chế độ

ăn uống, thói quen xấu (hút thuốc, nghiện rượu) đây

là thói quen của nam giới Chúng tôi gặp 66/69 BN là nam (chiếm 95,65%), chỉ có có 3/69 BN là nữ chiếm 4,35% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Nghiên cứu của chúng tôi tương đương với các kết quả của các nghiên cứu trong nước Theo Lê Quang Nghĩa có 140/146 bệnh nhân là nam giới, nữ giới có 6 bệnh nhân chiếm 4,11% Nguyễn Minh Hải nghiên cứu 53 bệnh nhân trong đó có 49/53 (92,5%) nam và 4/53 (7,5%) nữ

2 Đặc điểm giai đoạn bệnh

Bảng 1 Đặc điểm giai đoạn bệnh

Giai đoạn bệnh (theo kết quả giải phẫu bệnh T, N, M)

Số lượng

Tỷ lệ

% Tổng

II a 5 7,25 17,39

%

II b 7 10,14 III 52 75,36 82,61

%

Tổng 69 100 100%

Bệnh nhân ung thư thực quản thường đến viện muộn sau khi có triệu chứng nuốt vướng, nuốt nghẹn, việc theo dõi và nội soi dạ dày sàng lọc của Việt Nam chưa tốt nên kết quả điều trị và thời gian sống sau mổ sẽ rất khác biệt ở các khu vực vùng miền khác nhau trong mỗi nghiên cứu Chất lượng sống tỷ lệ các tai biến, biến chứng sau phẫu thuật phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh Thời gian mắc bệnh càng muộn thì tỷ lệ biến chứng, thời gian sống sau mổ và chất lượng sống càng giảm Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy 82,61% b/n giai đoạn III- IV Khác biệt với Nguyễn Minh Hải [2] phẫu thuật

87 b/n K thực quản gặp 51,2% bệnh giai đoạn III- IV Phạm Đức Huấn [3] nghiên cứu trên 71 bệnh nhân

mổ mở cắt thực quản gặp giai đoạn III-IV là 61,3% Càng khác biệt so với tác giả nước ngoài như Shmuel Avital [18] ung thư gặp giai đoạn I là 42%, giai đoạn II 42% và giai đoạn III chỉ có 16%, không có giai đoạn IV

3 Kết quả sớm sau phẫu thuật

3.1 Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật thì nội soi ngực 48,6 ± 21,6 phút, ngắn nhất 30 phút, dài nhất 120 phút Tổng thời gian phẫu thuật trung bình 116,8 ± 52,9 phút, ngắn nhất 80 phút, dài nhất 180 phút Thấp hơn so với các tác giả trong và ngoài nước như Nguyễn Minh Hải [2] thực hiện phẫu thuật nội soi ngực và bụng cắt thực

Trang 3

quản thay thực quản bằng ống cuốn dạ dày thời gian

trung bình là 359,77(phút) Akaishi và cộng sự [5]

thực hiện cắt thực quản bằng đường nội soi ngực kết

hợp với mở bụng, vét hạch triệt căn trên 39 bệnh

nhân ung thư thực quản thời gian phẫu thuật trung

bình là 200 ± 41 phút Osugi khi nghiên cứu đánh giá

giữa 2 phương pháp phẫu thuật nội soi đường ngực

kết hợp mở bụng với phẫu thuật mở cả ngực bụng thì

thời gian của phẫu thuật nội soi trung bình là 227

phút Thời gian phẫu thuật của chúng tôi thấp hơn

các tác giả khác có thể vì 69 bệnh nhân nghiên cứu

đều do một kíp phẫu thuật viên thực hiện và sau khi

kết thúc thì nội soi ngực, chúng tôi tiến hành mổ mở

thì bụng và cổ cùng một lúc

3.2 Tai biến trong mổ

Bảng 2 Tai biến trong mổ

Tai biến lượng Số Tỷ lệ

%

Giai đoạn T3

Giai đoạn T4 Rách động mạch

chủ 2 2,9 1 1

Rách phế quản

gốc phải 1 1,45 1 0

Tổn thương nhu

mô phổi 1 1,45 1 0

Tổng 4 5,8 3 1

Chuyển mổ mở 2 2,9

Có 4 tai biến trong mổ chiếm 5,8% (4/69) gồm: 2

bệnh nhân rách động mạch chủ ngực, 1 bệnh nhân

rách khí quản, 1 trường hợp tổn thương nhu mô phổi

Bệnh nhân tổn thương động mạch chủ ngực thứ nhất

chúng tôi phải truyền tới 18 đơn vị máu, trường hợp

thứ 2 phải truyền 05 đơn vị máu và cả hai trường

hợp phải mở ngực để khâu lại động mạch chủ ngực

Bệnh nhân rách khí quản do lỗi gây mê khi đặt ống

nội khí quản làm tổn thương rách khí quản Bệnh

nhân này sau khi rút ống nội khí quản, đưa về phòng

hồi sức thì phát hiện có khí qua dẫn lưu màng phổi

và lập tức bệnh nhân đã đưa lại phòng mổ để khâu

khí quản Có 1 bệnh nhân chủ động cắt vát phế quản

gốc phải do tổ chức u xâm lấn và được khâu lại bằng

nội soi Bệnh nhân này không tính vào tai biến

Không có bệnh nhân nào tử vong trong mổ và sau

mổ do nguyên nhân phẫu thuật Nguyễn Minh Hải [2]

nhận xét trên 87 bệnh nhân tỷ lệ tai biến trong mổ là

6,89% (6/87) Kawahara và cộng sự [12] nghiên cứu

trên 23 b/n có 1/23 (4,3%) tổn thương khí quản trong

mổ bệnh nhân được khâu phục hồi bằng nội soi diễn

biến hậu phẫu ổn định Tất cả các tai biến trong mổ

đều gặp ở giai đoạn T3 và giai đoạn T4 Tai biến

trong mổ của chúng tôi cao có thể là do mẫu nghiên

cứu chúng tôi lựa chọn bệnh ở giai đoạn muộn (giai

đoạn T3 - T4: 82,61%)

3.3 Biến chứng sau mổ

Bảng 3 Biến chứng sau mổ

Biến chứng sớm lượng Số Tỷ lệ % đoạn T3 Giai đoạn T4 Giai

Chảy máu 0 0 0 0

Tràn khí màng phổi 3 4,35 2 1

Rò miệng nối cổ 5 7,25 4 1

Tổn thương dây thần

kinh quặt ngược 2 2,9 1 1

Hẹp miệng nối 3 4,35 3 0 Tổng số 13 18,85 10 3

Trước đây phẫu thuật cắt thực quản điều trị bệnh lý ung thư thực quản chủ yếu bằng phương pháp mổ mở truyền thống gây nên nhiều biến chứng nặng nề Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tai biến, biến chứng tới 60- 80%, trong đó tử vong 5-10% Hai thập niên gần đây, sau công bố của De Paula có 12 bệnh nhân (1994), Mc Anena (1994), rồi tiếp đến là nghiên cứu rất cơ bản của Luketich (1998)[14] đến 2003 ông đã thực hiện được

222 trường hợp với kết quả rất khả dĩ làm thay đổi quan niệm và chiến lược điều trị bệnh lý ung thư thực quản Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ biến chứng là 18,85%: trong đó rò miệng nối cổ gặp nhiều nhất (7,25%), các trường hợp này gặp ở giai đoạn đầu mới bắt đầu triển khai kỹ thuật và các trường hợp này điều trị bảo tồn ổn định Có 9 trường hợp (13,04%) tràn dịch màng phổi phải chọc hút sau mổ Kết quả sau chọc hút bệnh nhân ổn định, kiểm tra không có mủ màng phổi, dính màng phổi các trường hợp tràn dịch màng phổi này chúng tôi không coi là biến chứng vì trong quá trình phẫu thuật chúng tôi vét hạch phẫu tích rộng làm cho vùng mổ tiết dịch nhiều hơn là điều có thể chấp nhận được Tất cả các biến chứng trong nghiên cứu đều gặp

ở giai đoạn T3, T4 Theo Lucketich thì tỷ lệ tai biến sau

mổ là 31,6%, Bernard M và cộng sự [7] thì tỷ lệ tai biến sau mổ là 41,5%

3.4 Thời gian nằm viện sau mổ

Thời gian hậu phẫu trung bình là 13,6 ± 4,9 ngày (9 - 31 ngày), cao hơn so với các nghiên cứu khác Theo Nguyễn Minh Hải [2] thời gian nằm viện trung bình là 10 ngày, Luketich [14] nằm viện trung bình là

7 ngày, Nguyễn Ninh T [16] báo cáo 46bn có thời gian nằm viện là 8 ngày Ngày điều trị sau mổ của chúng tôi cao vì hầu hết bệnh nhân được mổ mở thì bụng với mục đích giảm chi phí điều trị Bên cạnh đó

02 bệnh nhân phải mở ngực làm kéo dài thời gian điều trị của cả nhóm Nhận xét chung phương pháp

mổ nội soi có thời gian nằm viện ngắn hơn nhiều so với các phương pháp mổ mở Nghiên cứu của Đoàn Viết Giao [1] thời gian nằm viện trung bình sau mổ là 16,7 ngày

4 Kết quả xa sau phẫu thuật

4.1 Chất lượng cuộc sống sau mổ

Bảng 4 Chất lượng cuộc sống sau mổ dựa theo chỉ số Karnofsky

Xếp loại chung N

Tỷ lệ (%)

Giai đoạn T2

Giai đoạn T3

Giai đoạn T4 Tốt 17 25,00 12

(70,59%)

5 (29,41%) Trung bình 27 39,70 0 24

(88,89%)

3 (11,11%) Xấu 24 35,3 0 13

(54,17%)

11 (45,83%) Tổng 68 100 12 42 14

Chúng tôi xếp loại chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật cắt thực quản dựa vào chỉ số Karnofsky cho thấy 25% bệnh nhân có kết quả tốt, 39,7% có kết quả trung bình, 35,3% kết quả xấu Trong đó chúng tôi thấy bệnh nhân có chất lượng cuộc sống sau mổ xấu

Trang 4

đều ở giai đoạn T3, T4 Tất cả các bệnh nhân ở giai

đoạn T2 đều có chất lượng cuộc sống sau mổ tốt

4.2.Thời gian sống sau mổ

01 bệnh nhân tử vong sau mổ không do nguyên

nhân phẫu thuật mà do bệnh lý kèm theo về tim

mạch, 68 bệnh nhân sống sau mổ được theo dõi để

đánh giá kết quả xa, ngắn nhất là 6 tháng, dài nhất là

70 tháng Đến ngày (30 - 12 - 2012) có 42 bệnh nhân

đã tử vong (42/68 = 61,76%), 26 bệnh nhân còn sống

(26/68 = 38,24%), có 01 bệnh nhân bị mất thông tin

trong quá trình theo dõi do bệnh nhân chuyển địa chỉ

nơi ở, mất địa chỉ liên lạc (tại thời điểm mất liên lạc

được coi như bệnh nhân đã tử vong)

Thời gian sống sau mổ trung bình của 68 bệnh

nhân 29 ± 4 tháng (ngắn nhất là 2 tháng, dài nhất là

70 tháng) Xác suất sống thêm sau mổ: 1 năm, 2

năm, 3 năm và 5 năm tính theo phương pháp Kaplan

– Meier lần lượt là: 64,7%, 52,94%, 30,88% và

11,76%

Thời gian sống sau mổ ung thư thực quản luôn là

vấn đề được các phẫu thuật viên quan tâm và cân

nhắc lựa chọn chỉ định mổ Trong vài thập niên trở lại

đây phẫu thuật ung thư thực quản đã có nhiều tiến

bộ Tỷ lệ tử vong sau mổ khoảng < 5% [9] Tuy vậy

thời gian sống thêm vẫn chưa cải thiện nhiều Thời

gian sống 5 năm sau mổ mới chỉ đạt được < 20%

[15] Năm 1980 nghiên cứu đa trung tâm tập hợp

83783 bệnh nhân cắt ung thư thực quản được công

bố trên tạp chí, Earlam và cộng sự xác nhận thời gian

sống 5 năm sau mổ là 5% Trong một nghiên cứu

khác 43043 bệnh nhân cắt ung thư thực quản giai

đoạn từ 1980 - 1990 của Muller [15], thời gian sống

sau 5 năm là 15% Jamieson [11] nghiên cứu 11398

bệnh nhân cắt ung thư thực quản trong giai đoạn

1990 - 1995, có tỷ lệ sống sau 5 năm là 21,4%

Nghiên cứu của chúng tôi có thời gian sống 5 năm

sau mổ là 11,76%, thấp hơn so với một số nghiên

cứu khác Nguyên nhân có thể do mẫu nghiên cứu

nhỏ (69bn) và bệnh nhân đến viện chủ yếu ở giai

đoạn muộn (giai đoạn III và IV 82,61%) Theo chúng

tôi, thời gian sống thêm sau mổ phụ thuộc chủ yếu

vào giai đoạn bệnh, có hay không thực hiện được kỹ

thuật mổ triệt căn và các biện pháp điều trị bổ trợ như

xạ trị, hóa chất

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống sau

mổ

+ Thời gian sống sau mổ theo hạch di căn

Bảng 5: Thời gian sống theo di căn hạch

Hạch di

căn N TB (th) 1 năm 2 năm 3 năm 5 năm

N 0 17 47 ± 7 100% 88,23

%

76,47

% 47,06%

N 1 51 24 ± 5 52,94

%

58,33

%

15,68

% 0 %

Di căn hạch là một yếu tố có giá trị tiên lượng

bệnh và thời gian sống thêm sau phẫu thuật Thời

gian sống 5 năm sau mổ của nhóm không có di căn

hạch là 47,06 %, nhóm có hạch di căn là 0% (P <

0,001) Ảnh hưởng của yếu tố hạch di căn tới thời

gian sống đã được nhiều tác giả công nhận [4], [5]

Phạm Đức Huấn [3] thấy rằng thời gian sống sau 5 năm của nhóm không có di căn hạch là 36,2%, không

có bệnh nhân nào trong nhóm có di căn hạch sống quá 5 năm Theo Akiyama nhóm không có hạch di căn thì thời gian sống 5 năm là 56,2%, khi có hạch di căn thì thời gian sống 5 năm chỉ còn 22,1% [4] Theo Nakamura, thời gian sống 5 năm của nhóm không có hạch di căn là 64,8% và nhóm có hạch di căn là 17,77% [17]

+ Thời gian sống sau mổ theo giai đoạn bệnh Bảng 6: Thời gian sống sau mổ theo giai đoạn bệnh

Giai đoạn TNM N TB(th) 1 năm 2 năm 3 năm 5 năm IIa 5 51 ± 8 100% 100% 80% 60% IIb 7 47 ± 7 100% 71,43

%

57,14

%

42,85

% III 52 27 ± 5 59,61

%

50,00

% 25% 3,84%

IV 5 10 ± 3 20,00

% 0% 0% 0%

Theo một nghiên cứu phẫu thuật nội soi cắt thực quản qua đường ngực trên 309 bệnh nhân của Bernard M Smithers [7] thì thời gian sống trung bình giai đoạn IIA, IIB, III, IV tương ứng là 35 tháng, 29 tháng, 24 tháng và 9 tháng Năm 2004, I Braghetto

và cộng sự báo cáo tỷ lệ sống sau 3 năm đối với giai đoạn I (93,8%), giai đoạn IIB (33,3%), giai đoạn IIIA(22,2%)và giai đoạn IIIB là 3,1%[8] Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận thời gian sống 5 năm sau mổ giai đoạn IIa là 60%, giai đoạn IIb là 42,85%, giai đoạn III là 3,84%, giai đoạn IV là 0% (với P < 0,001)

KẾT LUẬN

- Phương pháp mổ nội soi thay thực quản bằng ống cuốn dạ dày theo Akiyama là một phương pháp

an toàn và hiệu quả: không có tử vong, thời gian phẫu thuật là 116,8 ± 52,9 phút, tỷ lệ tai biến thấp 5,8%, biến chứng sau mổ 18,85%

- Chất lượng sống tốt sau mổ theo đánh giá Karnofsky là 64,7%, có 35,3% chất lượng cuộc sống xấu Tất cả các bệnh nhân ở giai đoạn T2 đều có chất lượng cuộc sống tốt sau mổ

- Thời gian sống sau 5 năm là 11,76%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đoàn Viết Giao, Trịnh Viết Thông (2010), “Kết quả điều trị ung thư thực quản tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải

Phòng’’ Y h ọc Việt Nam Tập 368 tr 39 – 41

2 Nguyễn Minh Hải, Trần Phùng Dũng Tiến, Lâm Việt Trung, Trần Vũ Đức, Nguyễn Thị Minh Huê (2010),

“Phẫu thuật nội soi ngực bụng điều trị ung thư thực quản 1/3 giữa và dưới’’ Hội ngoại khoa Việt Nam Số 4-5-6

tr330 – 336

3 Phạm Đức Huấn (2003), “Nghiên cứu điều trị phẫu thuật ung thư thực quản ngực” Luận án tiến sĩ y học Hà

Nội

4 Akiyama H, (1990), “Surgery for cancer of the

esophagus” Baltimore Marylan: William and Wilskin, pp:

438 – 446

5 Akaishi T, Kaneda I, Higuchi N, et.al

“Thoracoscopic en bloc total esophagectomy with radical

mediastinal lymphadenectomy J thorac cardiovasc”;Surg

Trang 5

1996; 112:1533-41 34

6 Altorki N, Skiner D (2001): “Shoul en bloc

esophagectomy be the standard of care for esophageal

carcinoma? ” Ann surg, 234, 5, pp 581- 587

7 Bernard M, Smithers, et.al, “Comparison of

outcome between open and minimally invasive

esophagectomy” Ann surg 2007; 245: 232-240 19

8 Bhutani MS, Bard CJ, Marker RJ, et.al, “Length of

esophageal cancer and degree of luminal stenois during

upper endoscopy predict T stage by endoscpic

ultrasound” Endoscopy 2002; 34: 461-463.17

9 Collard J.M, Otte J.B, Reyneart M, Michel L,Carlier

M A, Kenstens P.J (1991) “Esophagel resection and by – pass: A6 years experience with alow postoperative

mortality” World: J: Surg,15, pp:635 – 642

10 Earlam R, Cunha- Melo J (1980), “Esophageal

squamous cell carcinoma: A Critical review of surgery”

Br J Sung, 67, pp:457 – 461 28

GIá TRị MIC CARBAPENEM CủA Acinetobacter baumannii

TRONG THựC HàNH LÂM SàNG ở BệNH VIệN THốNG NHấT ĐồNG NAI

Nguyễn Sĩ Tuấn 1, 2 , Nguyễn Ngọc Thanh 2 , Lưu Trần Linh Đa 2

, Nguyễn Thúy Hương 1

2 Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai

TểM TẮT

Acinetobacter baumannii (AB) là 1 tỏc nhõn gõy

bệnh đỏng quan tõm và ngày càng trở nờn nghiờm

trọng Mục tiờu của nghiờn cứu này nhằm xỏc định

giỏ trị MIC của carbapenem khi kết hợp điểm góy

pK/pD và mụ hỡnh tương quan giữa MIC Meropenem

và Imipenem ứng dụng trong điều trị cho bệnh nhiễm

trựng do Acinetobacter baumannii tại bệnh viện Đa

khoa Thống Nhất Đồng Nai Khoảng gần 40% cỏc

trường hợp cú MIC < 8 àg/ml, cú thể ỏp dụng 5 phỏc

đồ điều trị đường tiờm tĩnh mạch (500mg/q8h/3hr/IV;

1000mg/q8h/3min/IV; 1000mg/q8h/3hr/IV) Cỏc ca

bệnh cú MIC = 8 àg/ml, cú thể ỏp dụng phỏc đồ 1

ngày/3 lần, cỏch nhau 8 giờ/1g tiờm tĩnh mạch trong 3

carbapenem, MIC, pK/pD

SUMMARY

Acinetobacter baumannii (AB) is a troublesome

and increasingly problematic healthcare-associated

pathogen The objective of this study was to

determine the value of carbapenem MIC when

combined with pK/PD break-points and correlation

between Meropenem and Imipenem MIC applied to

treat infectious diseases caused by Acinetobacter

baumannii in Thong Nhat Dong Nai General Hospital

Nearly 40% of the cases had MIC <8 àg/ml, it can be

applied 5 regimens intravenously (500mg/q8h/3hr/IV;

1000mg/q8h/3min/IV; 1000mg/q8h/3hr/IV) In the

cases have MIC = 8 àg/ml, it can be applied regimen

1000mg/q8h/3hr/IV From MICMEM values can

predict 79% of the value of MICIMP, according to the

equation: MICIMP = 3.92 + 0.9 MICMEM

carbapenem, MIC, pK/pD

ĐẶT VẤN ĐỀ

bệnh cơ hội cú tỷ lệ gõy nhiễm khuẩn bệnh viện gia tăng trong suốt 15 năm trước Vi khuẩn này gõy ra cỏc nhiễm trựng lan rộng, bao gồm viờm phổi, nhiễm trựng huyết, nhiễm trựng vết mổ, nhiễm trựng đường tiết niệu và viờm màng nóo mủ sau phẫu thuật thần kinh, đặc biệt ở cỏc bệnh nhõn giảm sức đề khỏng trong cỏc đơn vị Hồi sức Cấp cứu (ICU) Việc sử dụng khỏng sinh tràn lan trong cỏc bệnh viện đó làm bựng phỏt cỏc chủng AB đa khỏng thuốc với khả năng khỏng phổ rộng cỏc khỏng sinh, bao gồm cỏc β-lactam phổ rộng thế hệ mới, aminoglycoside và fluoroquinolon Cỏc carbapenem cú khả năng tỏc

động khỏng lại cỏc Acinetobacter spp và cho tới gần

đõy, thường được sử dụng để điều trị cỏc nhiễm khuẩn gõy ra bởi AB đa khỏng thuốc Tuy nhiờn,

khỏng với cỏc carbapenem bằng những cơ chế khỏc nhau, bao gồm giảm tớnh thấm, biểu hiện quỏ mức bơm thải khỏng sinh và sản xuất enzyme carbapenemase [5]

Khỏng sinh đồ phương phỏp khuếch tỏn cho một kết quả định tớnh và chỉ là một kết quả từ thớ nghiệm chứ khụng phải là một kết quả cú mối liờn quan trực tiếp đến khỏng sinh sử dụng trờn bệnh nhõn Lý do là kết quả này khụng thể núi được liều và cỏch dựng khỏng sinh trờn bệnh nhõn là thật sự cú hiệu quả hay khụng Khỏng sinh đồ phương phỏp tỡm MIC (Minimal Inhibitory Concentration) cho một kết quả định lượng MIC là nồng độ tối thiểu của khỏng sinh ngăn chặn được vi khuẩn

Với kết quả MIC, bỏc sĩ lõm sàng cú thể tiờn đoỏn hiệu quả điều trị của khỏng sinh mà mỡnh điều trị trờn bệnh nhõn theo khuyến cỏo bằng cỏch so sỏnh nồng

độ hữu dụng của khỏng sinh đạt được trong dịch cơ thể bệnh nhõn (được gọi là điểm góy pK/pD) với MIC

Ngày đăng: 19/08/2015, 17:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm giai đoạn bệnh  Giai đoạn bệnh (theo kết quả giải  phẫu bệnh T, N, M) - GIÁ TRỊ MIC CARBAPENEM của ACINETOBACTER BAUMANNII TRONG THỰC HÀNH lâm SÀNG ở BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT ĐỒNG NAI
Bảng 1. Đặc điểm giai đoạn bệnh Giai đoạn bệnh (theo kết quả giải phẫu bệnh T, N, M) (Trang 2)
Bảng 5: Thời gian sống theo di căn hạch - GIÁ TRỊ MIC CARBAPENEM của ACINETOBACTER BAUMANNII TRONG THỰC HÀNH lâm SÀNG ở BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT ĐỒNG NAI
Bảng 5 Thời gian sống theo di căn hạch (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm