Đối tượng: 34 bệnh nhân cholesteatoma không thủng màng nhĩ được khám nội soi đo thính giác, phẫu thuật lấy cholesteatoma.. Kết quả: CLVT có 3 vị trí cholesteatomas: ống tai, hòm nhĩ v
Trang 1Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014 75
6 Nguyễn Mạnh Tề, Lê Diên Hồng, Võ Việt Hà và
cộng sự (2000), "Đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi
của phạm nhân và việc quản lý, chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS trong một số trại giam do Bộ Công an quản
lý", Y h ọc thực hành: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa
học về HIV/AIDS 1997 - 1999, (382), tr 190 - 195
7 Nguyễn Chí Phi, Đỗ Ánh Nguyệt, Lê Ngọc Yến
và cộng sự (2000), "Khảo sát đặc điểm Y xã hội học và
Y sinh học trên các đối tượng NCMT nhiễm HIV ở các
tỉnh phía Bắc", Y học thực hành: Kỷ yếu công trình
nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS 1997 - 1999, (382), tr
148 - 158 28
8 UNAIDS (2008) Report on the global AIDS epidemic Geneva
9 WHO, UNAIDS, UNICEF (2007) Towards universal access: scaling up priority HIV/AIDS interventions in the health sector: progress report April Geneva ISBN 978 92 4 159
NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN CHOLESTEATOMA TAI TIỀM ẨN QUA NỘI SOI,
CẮT LỚP VI TÍNH, ĐỐI CHIẾU VỚI KẾT QUẢ PHẪU THUẬT
NGUYỄN TÂN PHONG
Bộ môn TMH ĐHYHN
TÓM TẮT
Cholesteatoma tai có hai loại bẩm sinh và tích
luỹ Loại cholesteatoma bẩm sinh (Derlacki 1829)[1]
thường không có triệu chứng viêm, không thủng nhĩ,
nên loại này rất khó phát hiện trước mổ
Mục tiêu : Đối chiếu lâm sàng, nội soi , CLVT với
phẫu thuật cholesteatma để rút ra kinh nghiệm chẩn
đoán
Đối tượng: 34 bệnh nhân cholesteatoma không
thủng màng nhĩ được khám nội soi đo thính giác,
phẫu thuật lấy cholesteatoma
Phương pháp : Đối chiếu kết quả thính lực, lâm
sàng nội soi với CLVT dút ra kinh nghiệm chẩn đoán
Kết quả: CLVT có 3 vị trí cholesteatomas: ống tai,
hòm nhĩ và đỉnh xương đá (Bảng 3) mỗi vị trí có triệu
chứng lâm sàng và nội soi và thính lực riêng biệt
Kết luận: Sẹo hẹp ống tai là nguyên nhân của
cholesteatoma ống tai Cholesteatoma hòm nhĩ
thường điếc dẫn truyền một tai do xương con gián
đoạn đôi khi chóng mặt
Từ khoá: Cholesteatoma, chụp cắt lớp vi tính
(CLVT)
SUMMARY
Diagnosing the cholesteatoma without
tympanic membrane perforation by endoscopy
and CT Scan compare with the results of surgery
Backgrounds: Cholesteatmas are classified as
congenital or acquired Congenital cholesteatomas
are defined by Derlacki as an embryonic rest of
epithelial tissue in the ear without tympanic
membrane perforetion and without history of ear
infection Congenital cholesteatomas may be found
in the middle ear or in the petrous apex
Objectives: 34 patients with cholesteatomas
without tympanic membrance perforation frome 5 to
44 ages
Methods: Diagnosing cholesteatoma without
tympanic membrane perforation by endoscopy,
Audiometre comper with CT scane
Results: There are 3 groups defferall symptoms
for 3 positions of the cholesteatomas
Conclusion: Cholesteatomas located in the
tympanic cavity always has the conductive hearing loss Cholesteatomas presented in the ear canal coming from congenital atresia
Keywords: cholesteatoma, CT scan
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù cholesteatom đã được phát hiện từ 1829 bởi nhà bệnh lý học người Pháp Cruveihier với tên gọi là “U lóng lánh” [3] đến nay sinh bệnh học của loại u này vẫn còn tồn tại dưới dạng các giả thuyết Các nhà bệnh học Tai hiện nay đều thừa nhận cách phân ra hai loại cholesteatmas nguyên phát và cholesteatom tích luỹ Loại cholesteatoma nguyên phát do Derlacki [4] phát hiện là loại được tạo thành
do sót một mảnh biểu bì trong tai giữa thời kỳ bào thai Loại cholesteatoma tai này không có triệu chứng thủng màng nhĩ cũng như bất cứ triệu chứng viêm tai nào Trên lâm sàng thường chỉ phát hiện được loại cholesteatom có lỗ thủng màng nhĩ Loại cholesteatoma không thủng màng nhĩ thường không
có bất cứ một triệu chứng viêm nhiễm nào ở tai nên rất khó phát hiện, thực tế chỉ phát hiện được sau phẫu thuật Hai phần ba trong tổng số cholesteatom nguyên phát của tai giữa [5] thường có biểu hiện bằng một khối trắng mờ phía sau màng nhĩ, góc một phần tư trước trên Loại cholesteatoma nguyên phát không chi khu trú trong tai giữa mà còn nằm sâu trong đỉnh xương đá nữa Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu loại Cholesteatom tai không thủng màng nhĩ hay còn gọi là cholesteatoma tiềm ẩn chỉ có những dấu hiệu mơ hồ như đau đầu, ù tai, suy giảm sức nghe [2]
Mục tiêu nghiên cứu:
1) Nghiên cứu lâm sàng, thăm dò chức năng thính giác, chẩn đoán hình ảnh cholesteatomas tai tiềm ẩn được xác định qua phẫu thuật và mô bệnh học
2) Đối chiếu kết quả thính giác, chụp cắt lớp vi tính(CLVT) với kết quả phẫu thuật để rút ra kinh
Trang 2Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014 76
nghiệm đoán và chỉ định đường vào phẫu thuật loại
cholesteatoma tai này
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
37 bệnh nhân cholesteatoma tai tiềm ẩn gặp tại
khoa TMH - Bệnh viện TMHTW và Việt Nam-Cuba đã
được phẫu thuật
2.Trình tự nghiên cứu
- 37 bệnh nhân nghe kém dẫn truyền hoặc tiếp
nhận một bên tai không rõ nguyên nhân, được khám
lâm sàng, nội soi tai, đo thính lực trước phẫu thuật
Ảnh 1 Nội soi tai
Ảnh 2 Thính lực và nhĩ lượng
- Chụp cắt lớp vi tính xương thái dương tư thế
Coronal và Axial có mở cửa sổ xương ( WW > 1700
H) với lát cắt 1mm để xác định vị trí khối choán chỗ
trong xương thái dương thuộc vị trí tai ngoài, tai
giữa hoặc tai trong Kết hợp MRI trong chẩn đoán
phân biệt
- Đối chiếu kết quả chẩn đoán hình ảnh với
thăm dò chức năng tai để xác định vị trí khối u và
những tổn thương đến những chức năng tai do u
gây ra từ đó đề xuất đường vào phẫu thuật thích
hợp
- Đối chiếu kết quả phẫu thuật, mô bệnh học
với lâm sàng và CLVT rút ra kinh nghiệm chẩn đoán
xác định, vị trí và biến chứng của khối
cholesteatoma
Ảnh 3 Cholesteatoma hòm tai (CT)
Ảnh 4 Cholesteatoma hòm tai
Trang 3Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014 77
KẾT QUẢ
Bảng 1 Các triệu chứng
Bảng 2 Nội soi tai
Bảng 3 Vị trí cholesteatoma trên CLVT
Bảng 4 Vị trí cholesteatoma trong các ngăn hòm
tai
BÀN LUẬN
1 Triệu chứng bệnh cholesteatom tai màng nhĩ
đóng kín rất nghèo nàn và mơ hồ như ù tai, nghe
kém đây là hai triệu chứng sớm và thường xuyên có
mặt nhưng người bệnh rất ít đến khám vào giai đoạn
này Đại đa số đến khám vào giai đoạn đã huỷ hoại
chuỗi xương con gây điếc dẫn truyền nặng hoặc điếc
tiếp nhận do bệnh tích lan vào tai trong Thậm chí
một số khám vào giai đoạn đã biến chứng liệt mặt
hoặc chóng mặt do dò ống bán khuyên (Bảng1)
Trường hợp soi tai thấy khối mờ trắng đục sau
màng nhĩ hoặc ống tai bị chít hẹp dù là bẩm sinh
hay sau chấn thương hoặc lỗ dò sàn ống tai ngay
cạnh phải nghĩ đến khối cholesteatoma nằm ngay
sau đó
2 CLVT có thể khẳng định khối u là
cholesteatoma những trường hợp sau: Thứ nhất
khối u nằm ở ngay trong vị trí chít hẹp ống tai
Trường hợp này cholesteatom hình thành từ phần
da ống tai không được thông khí phía trong vị trí chít
hẹp theo thuyết chôn vùi [4] Thứ hai u nằm ngay
dưới ống tai sụn phồng sàn ống tai , trên đỉnh chỗ phồng có lỗ dò thì khối u này là cholesteatoma hình thành từ biểu bì lợp trong lòng đường dò tai- cổ bẩm sinh Những u xương chũm, tai giữa hoặc đỉnh xương đá cần chụp thêm MRI [6] nếu là cholesteatom thì sẽ thấy ảnh rất rõ nét ở giai đoạn T2 (95% trường hợp) Những trường hợp chóng mặt hoặc điếc tai trong CLVT có thể giúp xác định nguyên nhân và vị trí tổn thương thành ngoài mê đạo
từ khối cholesteatom hòm nhĩ hoặc thành trong mê đạo từ khối cholesteatom đỉnh xương đá CLVT không những giúp xác định vị trí khối u mà còn giúp lựa chọn đường phẫu thuật thích hợp
3 Vai trò thính lực đồ rất có giá trị trong chẩn đoán khu trú vị trí khối u đặc biệt là khối u hòm nhĩ Khối cholesteatoma hòm nhĩ thường gây tổn thương chuỗi xương con nên thính lực đồ thường có điếc dẫn truyền với khoảng cách giữa đường khí và đường xương (ABG) trên 40dB [2]
4 Đối với khối cholesteatoma ống tai ngoài,xương chũm hoặc xương đá chúng tôi sử dụng đường rạch trước tai để vào xương chũm lấy u trái lại loại u chỉ khu trú trong hòm nhĩ chúng tôi sử dụng kỹ thuật nội soi xuyên ống tai mở màng nhĩ lấy u mà không cần mở xương chũm
KẾT LUẬN
1 Những trường hợp nghe kém tiếp nhận một tai cần chụp CLVT xương thái dương ,nếu có hình ảnh khối ở đỉnh xương đá thì MRI sẽ đóng vai trò quyết định chẩn đoán hoặc loại trừ Cholesteatoma
2 Triệu chứng chức năng như điếc dẫn truyền, chóng mặt hoặc liệt mặt rất có giá trị chẩn đoán vị trí cholesteatoma hòm nhĩ nhất là khi đối chiếu với CLVT
3 Trường hợp chít hẹp ống tai không hoàn toàn bẩm sinh hay mắc phải thì khối mờ ở phần ống tai xương phía trong đoạn chít hẹp trên CLVT chắc chắn
là khối cholesteatoma
“Công trình nghiên cứu được thông qua tại Hội đồng Khoa học Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương tháng 11/2006”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Byron J., Bailley J.B.: Otitis media with effusion Head and neck surgery Otolaryngology Lippincot company, Philadelphia, 1993
2 Byrol J., Bailley J.B.: Auditory function test Head and neck surgery Otolaryngology Lippincot company, Philadelphia 1994
3 Sheehy, J.L.: Acquired cholesteatoma in aduls Otolaryngol Clin North Am 1989
4 Eric E Smouha, M., FACS Cholesteatoma Thieme Medical Publishers, Inc 333 Seventh Ave, New York, NY 10001 2012
5 Louw L (2010), Acquered cholesteatoma pathogenesis: stepwise explanation J Laryngol Otol 124[6]: p 587-93
6 Nguyễn Tấn Phong, Điện quang trong tai mũi họng, Nhà xuất bản Y học 2005