1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu và một số kết QUẢ của các LUẬN văn THẠC sỹ tại TRƯỜNG đại học y tế CÔNG CỘNG về sự hài LÒNG với CÔNG VIỆC của NHÂN VIÊN y tế TRONG BỆNH VIỆN

4 570 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 332,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA CÁC LUẬN VĂN THẠC SỸ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRONG BỆNH VIỆN PHẠM TRÍ D

Trang 1

Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 48

tổn thương hoại tử chảy máu Chính vì vậy chụp

CLVT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh chủ lực để

đánh giá hoại tử nhu mô tụy, vì nó phát hiện rất chính

xác vùng bị tổn thương và mức độ hoại tử để giúp

các nhà lâm sàng quyết định cách thức điều trị

Áp dụng phân loại của Balthazar: Trên cơ sở

mức độ viêm, mức độ hoại tử, dòng chảy tụy, VTC

được phân thành 5 bậc theo Balthazar Nghiên cứu

của chúng tôi, tổn thương VTC tập trung cao nhất ở

bậc E với 66/130 trường hợp (50,8%); bậc D 43/130

(33,1%); bậc C 19/130 (14,6%); bậc A và B chỉ chiếm

1,6% Có 3 trường hợp bậc E và 1 trường hợp bậc D

được phẫu thuật Dựa theo phân loại VTC của

Balthazar, hầu như toàn bộ số bệnh nhân trong

nghiên cứu được chỉ định điều trị nội khoa là chủ yếu,

chỉ định phẫu thuật chỉ chiếm 3,1%

Phương pháp tính điểm: Cách phân loại cải tiến

của Balthazar [0] là kết hợp phân loại theo bậc và

mức độ hoại tử nhu mô để tính điểm mức độ trầm

trọng, trong đó hai yếu tố tiên lượng là hoại tử và sự

tồn tại các ổ dịch được cho điểm từ 1-10 Nghiên cứu

của chúng tôi, nhóm từ 4-6 điểm gặp nhiều nhất

56,9% với 3 trường hợp phải phẫu thuật; nhóm có

điểm ≤ 3 chiếm 42,3%; nhóm từ 7-10 điểm chỉ có

0,8% với 1 bệnh nhân được phẫu thuật Ngoài ra

phương pháp tính điểm của Balthazar rất có giá trị để

đánh giá tiên lượng Tuy vậy vẫn gặp phải sự không

ăn nhịp giữa mức độ tổn thương trên hình ảnh chụp

CLVT với toàn trạng của bệnh nhân, do đó nên cần

phải sử dụng thêm các tiêu chuẩn về hồi sức

(Glasgow, Apache II)

Số ngày nằm viện và chỉ số trầm trọng: Số

ngày nằm viện liên quan chặt chẽ với mức độ viêm

và hoại tử nhu mô tụy và luôn tỷ lệ thuận với chỉ số

trầm trọng của bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi số ngày nằm

viện trung bình cao nhất bậc E là 10.8 ngày, bậc D là

6,6 ngày, bậc C là 5,5 ngày, bậc B và bậc A là 5 ngày

Nghiên cứu của Trần Công Hoan [2], số ngày nằm viện trung bình là 13 ngày, trong đó số ngày nằm viện trung bình bậc E là 23,3 ngày, bậc D là 14,3 ngày, bậc

C là 9,6 ngày, bậc B là 8,4 ngày, bậc A là 8 ngày Như vậy số ngày nằm viện trong nghiên cứu của chúng tôi

ở tất cả các bậc đều thấp hơn so với các tác giả khác

Có lẽ do hình thái bệnh tật ít thay đổi nên phương pháp chẩn đoán tiên lượng bệnh ngày càng chính xác nên bệnh nhân được điều trị nội khoa là chủ yếu và chất lượng điều trị chung ngày càng tốt hơn

KẾT LUẬN

Chụp CLVT có ý nghĩa rất lớn để chẩn đoán, đánh giá, tiên lượng cũng như xác định chỉ số trầm trọng Chụp CT còn có giá trị lớn để định hướng và hướng dẫn xử lý can thiệp trong quá trình điều trị, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm số ngày nằm viện cho người bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bollen TL, Van Santvoort HC, Besselink MG et al: The Atlanta Classification of acute pancreatitis revisited

British Journal of Surgery, 2008, 95: 6-21

2 Trần Công Hoan: “Viêm tuỵ cấp”, Chương trình đào tạo chụp cắt lớp điện toán Bệnh viện quân đội,

2006, tr 222-335

3 Mendez G Jr, Isikoff MB, Hill MC: CT of acute

pancreatitis: interim assessment, AJR Am J Roentgenol,

1980, Sep; 135(3): 463-9

4 Wenzel Vas M.D., B Patel, B Mahanta, Z Salimi,

C Markivee, P Garvin: Innocuous gas collections in pancreatic allografts demonstrated by computed

tomography, Gastrointestinal Radiology, 1989, Volume

14, Issue 1, 118-122

5 Balthazar E.J: Acute Pancreatitis: Assessment of

Sererity with Clinical and CT Evaluation, Radiology,

2002, 223: 603-613

6 Morgan DE, Baron TH: (1988) Practical imaging

in acute pancreatitis, Gastrointest Dis, 1988, Apr;9(2):

41-50

BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA CÁC LUẬN VĂN THẠC SỸ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRONG

BỆNH VIỆN PHẠM TRÍ DŨNG, PHÙNG THANH HÙNG, PHẠM QUỲNH ANH

Trường Đại học Y tế công cộng

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực luôn được coi là nhân tố quan

trọng quyết định sự thành công hay thất bại của các

tổ chức trong mọi lĩnh vực nói chung và trong lĩnh

vực y tế nói riêng1 Hiện nay, tình trạng thiếu hụt

nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng đang tồn

tại ở hầu khắp các địa phương trong cả nước2

Nguồn nhân lực được phân bố chưa đồng đều giữa

các vùng miền và các tuyến y tế Nhân lực y tế đang

có sự dịch chuyển theo hướng từ tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn ra thành thị do sự chênh lệch về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc và thu nhập3 Nghiên cứu về nhân lực y tế là mối quan tâm của nhiều tổ chức và của các cán bộ quản lý bệnh viện Từ năm 2008, một số học viên cao học - trường Đại học Y tế công cộng đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực y tế và đánh giá sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế trong hệ thống

Trang 2

Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 49

chăm sóc sức khỏe nói chung và tại bệnh viện (BV)

nói riêng Tuy nhiên chưa có sự thống nhất về

phương pháp và cách tiếp cận Chính vì vậy, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu “Bàn luận phương pháp

nghiên cứu và một số kết quả của các luận văn tại

trường Đại học Y tế công cộng về sự hài lòng với

công việc của nhân viên y tế trong bệnh viện” nhằm:

1) Tổng hợp một số kết quả về sự hài lòng với công

việc của nhân viên y tế trong bệnh viện 2) Bàn luận

phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong

việc đánh giá sự hài lòng với công việc của nhân viên

y tế trong bệnh viện

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ trường Đại học Y tế công cộng

về sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế trong

các BV từ 2008-6/2013

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Tổng quan tài liệu

Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Y tế công

cộng

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng

12/2013

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Chúng tôi rà soát được 09 luận văn nghiên cứu về

sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế tại bệnh

viện Sau đây là một số kết quả chính:

1 Tổng hợp một số kết quả về sự hài lòng với

công việc của nhân viên y tế tại các bệnh viện

Đa số các luận văn đều dựa vào cơ sở lý thuyết là

thuyết “hai yếu tố” của Herzberg4 Trong các nghiên

cứu, mỗi yếu tố để đánh giá sự hài lòng được chia

thành các tiểu mục nhỏ Tuy nhiên còn có sự khác

biệt về các tiểu mục nhỏ giữa các nghiên cứu Thực

trạng này là một trở ngại đối việc so sánh các kết quả

nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi đã rà soát chi tiết

và tìm ra 5 yếu tố có các tiểu mục nhỏ tương đối

tương đồng giữa các nghiên cứu và tiến hành tổng

hợp số liệu Kết quả như sau:

1.1 Hài lòng về lương và các khoản thu nhập

41.8 5.5

54.4

41.5 39.3

27 19

0

10

20

30

40

50

60

BV tp

Buôn Ma

Thuột

BV

huy ện

Đức

Giang

BV huy ện-tỉnh Đăk Lăk

BV huy ện-tỉnh Phú Yên

BV huy ện Lạng Giang

BV tỉnh Phú Yên

BV tỉnh Quảng Ngãi

BV hu yệ n BV tỉn h

khoản thu nhập

Yếu tố lương và các khoản thu nhập được 7 luận

văn nghiên cứu Hình 1 cho thấy, tỷ lệ nhân viên hài

lòng với lương và các khoản thu nhập tại các BV

tương đối thấp, có tới 4/7 BV có tỷ lệ nhân viên y tế

hài lòng với lương và thu nhập dưới 40% Đặc biệt, tỷ

lệ hài lòng về lương và các khoản thu nhập ở BVĐK tỉnh Quảng Ngãi thấp nhất (5,5%)

1.2 Hài lòng về điều kiện làm việc

68.3 36.3 23.6 53.1 52.9

32.8 18.5 17 0

10 20 30 40 50 60 70

BV tp Buôn Ma Thuột

BV huyện-tỉnh Đăk Lăk

BV huyện Đức Giang

BV huyện-tỉnh Phú Yên

BV huyện Lạng Giang

BV tỉnh Quảng Ninh

BV tỉnh Phú Yên

BV tỉnh Quảng Ngãi

BV huyện BV tỉnh

việc

Hình 2 cho thấy, có 8 nghiên cứu về yếu tố điều kiện làm việc Trên 50% BV (5/8) có tỷ lệ hài lòng về điều kiện làm việc dưới 40% Đặc biệt là ở các BV tuyến huyện, sự hài lòng cao nhất chỉ đạt 53,1% ở

BV TP Buôn Ma Thuột Một điểm đáng chú ý là, trong khi các BV tuyến tỉnh thường có điều kiện cơ

sở vật chất, trang thiết bị tốt hơn3, nhưng tỷ lệ hài lòng về điều kiện làm việc của nhân viên y tế ở đây cũng không cao Có 2/3 BV tỉnh có tỷ lệ nhân viên y

tế hài lòng dưới 40%: BVĐK tỉnh Quảng Ngãi và BVĐK tỉnh Phú Yên

1.3 Hài lòng về sự ghi nhận

26.8

58.2 67.3

61.9 50 40 30

0 10 20 30 40 50 60 70 80

BV huyện Lạng Giang

BV huyện-tỉnh Phú Yên

BV huyện Đức Giang

BV huyện-tỉnh Đăk Lăk

BV tỉnh Quảng Ngãi

BV tỉnh Phú Yên

BV tỉnh Quảng Ninh

BV huyện BV tỉnh

“Khen thưởng phi vật chất và sự ghi nhận những đóng góp của nhân viên” là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự nhiệt tình trong công việc cho nhân viên4 Kết quả của 3/7 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế với sự ghi nhận thấp, dưới 40%: BV tỉnh Quảng Ngãi (26,8%), BVĐK Lạng Giang (30%), BV tuyến huyện tại Phú Yên (40%) Tuy nhiên, các nghiên cứu mới dừng lại ở việc đánh giá khía cạnh ghi nhận thành tích và khen thưởng phi vật

%

%

%

Trang 3

Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 50

chất từ phía lãnh đạo, chưa đánh giá sự ghi nhận từ

phía đồng nghiệp và bệnh nhân

1.4 Hài lòng về yếu tố phát triển chuyên môn

Có 8 nghiên cứu về yếu tố phát triển chuyên môn

Tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế tại các BV được

nghiên cứu còn thấp, đặc biệt ở BVĐK tỉnh Yên Bái là

thấp nhất (25,4%) Nhiều bác sĩ luôn mong muốn

được tiếp tục học tập, nâng cao trình độ, năng lực

chuyên môn; nhưng chưa được đi học vì các lý do

chủ quan và khách quan như có con nhỏ, BV thiếu

cán bộ

1.5 Hài lòng về mối quan hệ với mọi người

Yếu tố mối quan hệ với mọi người được đa số các

luận văn nghiên cứu và tập trung khai thác góc độ

mối quan hệ với lãnh đạo và mối quan hệ đồng

nghiệp Tỷ lệ hài lòng của nhân viên về mối quan hệ

với lãnh đạo thấp hơn so với mối quan hệ đồng

nghiệp Ví dụ chỉ có 26,6% nhân viên ở BVĐK tỉnh

Quảng Ngãi hài lòng với mối quan hệ với lãnh đạo

trong khi tỷ lệ hài lòng với mối quan hệ đồng nghiệp

là 66,7% Tuy nhiên, ngoài yếu tố mối quan hệ với

lãnh đạo và đồng nghiệp, học thuyết Herzberg còn đề

cập đến yếu tố mối quan hệ với bệnh nhân Đây cũng

là một yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng với công

việc của nhân viên y tế tại các BV, tuy nhiên chưa

được nghiên cứu trong các luận văn

1.6 Các yếu tố có tỉ lệ hài lòng thấp

Sau khi rà soát kết quả của các nghiên cứu,

chúng tôi nhận thấy có 3 yếu tố có tỷ lệ hài lòng thấp

bao gồm:

Lương và các khoản thu nhập: 4/7 BV có tỷ lệ hài

lòng <40%; kết quả nghiên cứu định tính của 4/5 BV

đã chỉ ra yếu tố này là một trong những nguyên nhân

làm ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của

nhân viên y tế

Điều kiện làm việc: 5/8 BV có tỷ lệ hài lòng <40%;

kết quả nghiên cứu định tính của 3/6 BV cho thấy

phần lớn nhân viên y tế chưa hài lòng với cơ sở vật

chất và trang thiết bị phục vụ cho công việc

Sự ghi nhận: 3/7 BV có tỷ lệ hài lòng <40%; nhiều

nhân viên y tế được phỏng vấn đã chia sẻ rằng họ

chưa thực sự hài lòng với việc khen thưởng và sự

công nhận thành tích

2 Bàn luận phương pháp đánh giá sự hài lòng

các nghiên cứu đã sử dụng

Cơ sở lý thuyết:

7/9 nghiên cứu áp dụng học thuyết Herzberg và

2/9 nghiên cứu không đề cập đến cơ sở lý thuyết đã

áp dụng

Phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Tất cả các nghiên cứu đều

áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang,

trong đó 7/9 nghiên cứu kết hợp định lượng và định

tính, 2/9 nghiên cứu chỉ sử dụng phương pháp

nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng:

Đối tượng nghiên cứu: 5/9 nghiên cứu chọn toàn

bộ các nhân viên y tế trong BV và 4/9 nghiên cứu chỉ

chọn đối tượng là bác sĩ

Chọn mẫu: 8/9 nghiên cứu chọn mẫu toàn bộ, 1/9

nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Biến số nghiên cứu:

Không nghiên cứu nào áp dụng tất cả 14 yếu tố trong học thuyết Herzberg để xây dựng biến số nghiên cứu và bộ công cụ

Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố được sử dụng trong

các nghiên cứu để đánh giá sự hài lòng

Nhóm yếu tố duy trì

Tần suất xuất hiện

Nhóm yếu tố thúc đẩy

Tần suất xuất hiện Chế độ chính sách

Thành tựu trong

Sự giám sát trong

Sự tiến bộ/thăng

Quan hệ với mọi người (lãnh đạo, đồng nghiệp)*

8/9 Phát triển chuyên

Lương và các

Trách nhiệm với

Sự an toàn trong

Điều kiện làm

Chú thích: (*): Yếu tố được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu

Bảng 1 cho thấy, có 7 yếu tố được các tác giả sử dụng nhiều trong nghiên cứu gồm:

Nhóm yếu tố duy trì (5 yếu tố): Mối quan hệ với mọi người (8/9); Bản chất công việc (8/9); Điều kiện làm việc (8/9); Lương và các khoản thu nhập (7/9);

Sự giám sát trong công việc (6/9)

Nhóm yếu tố thúc đẩy (2 yếu tố): Sự phát triển chuyên môn (8/9); Sự ghi nhận (7/9)

Một số yếu tố chưa được đề cập đến hoặc được nhắc đến một cách mờ nhạt Đó là yếu tố về cuộc sống cá nhân, sự an toàn trong công việc, sự hứng thú trong công việc, và trách nhiệm với công việc Bên cạnh đó, trong quá trình thiết kế công cụ và phân tích kết quả, các tác giả nghiên cứu đã ghép, gộp và xếp lẫn một số yếu tố với nhau, không hoàn toàn tuân theo học thuyết Herzberg

Bộ công cụ nghiên cứu:

Một số nghiên cứu sử dụng bộ công cụ của tác giả Paul Krueger5, đã được Lê Thanh Nhuận kiểm định trên đối tượng nhân viên y tế khối dự phòng6 Tuy nhiên khi tham khảo để áp dụng cho các nghiên cứu trong BV, một số tác giả đã chỉnh sửa (thay đổi nội dung, thêm bớt tiểu mục) nhưng chưa kiểm định

về tính giá trị và độ tin cậy Có 1/9 nghiên cứu kiểm định về tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ

Phương pháp thu thập số liệu: phần lớn các

nghiên cứu sử dụng phương pháp phát vấn, trong đó 3/9 nghiên cứu mô tả rõ cách thức phát vấn theo nhóm tại mỗi khoa/phòng

Nghiên cứu định tính:

Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu: 6/7 nghiên cứu

chưa đưa ra câu hỏi nghiên cứu định tính rõ ràng

Đối tượng nghiên cứu: 6/7 nghiên cứu chọn đối

Trang 4

Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 51

tượng là nhân viên y tế và cán bộ quản lý, 1/7 nghiên

cứu chỉ chọn đối tượng là cán bộ quản lý

Bộ công cụ: Do không có câu hỏi nghiên cứu rõ

ràng nên phần lớn các bộ công cụ định tính đều đưa

ra các câu hỏi chung chung, không có nhiều giá trị

trong việc thu thập thông tin cho mục đích nghiên

cứu Một số nghiên cứu chỉ áp dụng một bộ công cụ

cho nhiều đối tượng khác nhau

Phương pháp thu thập số liệu: 5/7 nghiên cứu sử

dụng phương pháp phỏng vấn sâu, 1/7 sử dụng

phương pháp thảo luận nhóm, 1/7 nghiên cứu sử

dụng kết hợp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Phương pháp phân tích số liệu: Tất cả các nghiên

cứu sử dụng phương pháp phân tích theo nội dung

và chủ đề

Cách thức sử dụng kết quả: Các tác giả đã sử

dụng kết quả định tính để giải thích và minh họa cho

kết quả định lượng tuy nhiên các thông tin định tính

chưa được phân tích một cách logic Một số nghiên

cứu khi trích dẫn thông tin định tính còn nhầm lẫn giữa

kết quả và bàn luận Nguyên nhân của hạn chế này là

do các tác giả chưa đưa ra được các câu hỏi và mục

tiêu của nghiên cứu định tính một cách cụ thể

KẾT LUẬN

- Hầu hết các nghiên cứu đều áp dụng cơ sở lý

thuyết là học thuyết Herzberg, tuy nhiên có sự khác

biệt về các nhóm yếu tố và các tiểu mục nhỏ để đánh

giá sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế

- 8/9 bộ công cụ được sử dụng trong các nghiên

cứu chưa được kiểm định về độ tin cậy và tính giá trị

- Phần lớn các nghiên cứu chưa nêu rõ được mục

đích và ý nghĩa của các kết quả định tính

- Lương và các khoản thu nhập, điều kiện làm

việc, sự ghi nhận là ba yếu tố có tỷ lệ hài lòng thấp và

được các đối tượng nghiên cứu đề cập đến nhiều

hơn trong các kết quả định tính

SUMMARY

A review of theses on motivation and job

satisfaction of health workers in hospital in

Vietnam: a study of Hanoi School of Public

Health

Background: Human Resource for Health is an

important contributor to the quality of health care

services Research on health workforce has been the

concern of health organizations and hospital managers Severals theses on health workforce and job satisfaction have been conducted recently However there has not been consistency in research methodology and approach We conducted a research to review the theses at Hanoi School of Public Health which are related to job satisfaction of health workers Our research aims to: 1) Summarize some results on job satisfaction of health workers in the hospitals, 2) Analyze the methodology used in the assessment of job satisfaction of health workers in the hospitals

Methods: Literature review

Conclusions:

Almost theses applied Herzberg conceptual framework, however, there are differences between factors related to job satisfaction of health workers

As some questionaires were not validated, the quality of results could be influenced

Almost research did not clearly mention purpose and significances of qualitative results Three major factors dissatisfied health workers the most including Remuneration, Working Environment and Recognition

Keywords: Motivation, job satisfaction, health

workers, hospital

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 World Health Organization Working together for health: World Health Organization 2006

2 Ministry of Health JAHR 2012: Improving quality

of medical services Joint Annual Health Review 2012

2012

3 Ministry of Health JAHR 2009: Health workforce

in Vietnam Joint Annual Health Review 2009 2009

4 Herzberg Motivation-hygiene profiles: Pinpointing what ails the organization Organizational Dynamics

1974

5 Paul Krueger KB, Lynne Lohfeld, H Gayle Edward, David Lewis & Erin Tjam, "Organization specific predictors of job satisfaction: findings from a Canadian multi-site quality of work life cross-sectional survey", BMC Health Services Research 2002

6 Lê Thanh Nhuận Thực trạng nguồn nhân lực và

sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế cơ sở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008

NHËN XÐT §ÆC §IÓM L¢M SµNG, H×NH ¶NH NéI SOI Vµ M¤ BÖNH HäC

BÖNH TRµO NG¦îC D¹ DµY THùC QU¶N T¹I BÖNH VIÖN K

TrÇn V¨n ThuÊn TÓM TẮT

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ bệnh viêm loét dạ

dày, trào ngược dạ dày, thực quản cao, một số

trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn không dược điều

trị kịp thời sẽ gây biến chứng như loét nặng, ung thư

thực quản Nghiên cứu được tiến hành từ 2/2010 –

11/2010 trên 115 bệnh nhân với phương pháp mô tả

tiến cứu nhằm tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi mô bệnh học bệnh trào ngược dạ dày thực quản Công cụ thu thập thông tin bảng câu hỏi đánh giá mức độ triệu chứng

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nam giới mắc bệnh ít hơn nữ, nhóm tuổi này hay gặp từ 31 -

40 tuổi Thời gian mắc bệnh ít nhất dưới 1 tuần và lớn

Ngày đăng: 19/08/2015, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế về lương và các - BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu và một số kết QUẢ của các LUẬN văn THẠC sỹ tại TRƯỜNG đại học y tế CÔNG CỘNG về sự hài LÒNG với CÔNG VIỆC của NHÂN VIÊN y tế TRONG BỆNH VIỆN
Hình 1 Tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế về lương và các (Trang 2)
Hình 2: Tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế về điều kiện làm - BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu và một số kết QUẢ của các LUẬN văn THẠC sỹ tại TRƯỜNG đại học y tế CÔNG CỘNG về sự hài LÒNG với CÔNG VIỆC của NHÂN VIÊN y tế TRONG BỆNH VIỆN
Hình 2 Tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế về điều kiện làm (Trang 2)
Hình  2  cho thấy,  có  8  nghiên  cứu  về  yếu  tố điều  kiện làm việc. Trên 50% BV (5/8) có tỷ lệ hài lòng về  điều  kiện  làm  việc  dưới  40% - BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu và một số kết QUẢ của các LUẬN văn THẠC sỹ tại TRƯỜNG đại học y tế CÔNG CỘNG về sự hài LÒNG với CÔNG VIỆC của NHÂN VIÊN y tế TRONG BỆNH VIỆN
nh 2 cho thấy, có 8 nghiên cứu về yếu tố điều kiện làm việc. Trên 50% BV (5/8) có tỷ lệ hài lòng về điều kiện làm việc dưới 40% (Trang 2)
Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố được sử dụng trong - BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu và một số kết QUẢ của các LUẬN văn THẠC sỹ tại TRƯỜNG đại học y tế CÔNG CỘNG về sự hài LÒNG với CÔNG VIỆC của NHÂN VIÊN y tế TRONG BỆNH VIỆN
Bảng 1 Tổng hợp các yếu tố được sử dụng trong (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w