BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA CÁC LUẬN VĂN THẠC SỸ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRONG BỆNH VIỆN PHẠM TRÍ D
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 48
tổn thương hoại tử chảy máu Chính vì vậy chụp
CLVT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh chủ lực để
đánh giá hoại tử nhu mô tụy, vì nó phát hiện rất chính
xác vùng bị tổn thương và mức độ hoại tử để giúp
các nhà lâm sàng quyết định cách thức điều trị
Áp dụng phân loại của Balthazar: Trên cơ sở
mức độ viêm, mức độ hoại tử, dòng chảy tụy, VTC
được phân thành 5 bậc theo Balthazar Nghiên cứu
của chúng tôi, tổn thương VTC tập trung cao nhất ở
bậc E với 66/130 trường hợp (50,8%); bậc D 43/130
(33,1%); bậc C 19/130 (14,6%); bậc A và B chỉ chiếm
1,6% Có 3 trường hợp bậc E và 1 trường hợp bậc D
được phẫu thuật Dựa theo phân loại VTC của
Balthazar, hầu như toàn bộ số bệnh nhân trong
nghiên cứu được chỉ định điều trị nội khoa là chủ yếu,
chỉ định phẫu thuật chỉ chiếm 3,1%
Phương pháp tính điểm: Cách phân loại cải tiến
của Balthazar [0] là kết hợp phân loại theo bậc và
mức độ hoại tử nhu mô để tính điểm mức độ trầm
trọng, trong đó hai yếu tố tiên lượng là hoại tử và sự
tồn tại các ổ dịch được cho điểm từ 1-10 Nghiên cứu
của chúng tôi, nhóm từ 4-6 điểm gặp nhiều nhất
56,9% với 3 trường hợp phải phẫu thuật; nhóm có
điểm ≤ 3 chiếm 42,3%; nhóm từ 7-10 điểm chỉ có
0,8% với 1 bệnh nhân được phẫu thuật Ngoài ra
phương pháp tính điểm của Balthazar rất có giá trị để
đánh giá tiên lượng Tuy vậy vẫn gặp phải sự không
ăn nhịp giữa mức độ tổn thương trên hình ảnh chụp
CLVT với toàn trạng của bệnh nhân, do đó nên cần
phải sử dụng thêm các tiêu chuẩn về hồi sức
(Glasgow, Apache II)
Số ngày nằm viện và chỉ số trầm trọng: Số
ngày nằm viện liên quan chặt chẽ với mức độ viêm
và hoại tử nhu mô tụy và luôn tỷ lệ thuận với chỉ số
trầm trọng của bệnh nhân
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi số ngày nằm
viện trung bình cao nhất bậc E là 10.8 ngày, bậc D là
6,6 ngày, bậc C là 5,5 ngày, bậc B và bậc A là 5 ngày
Nghiên cứu của Trần Công Hoan [2], số ngày nằm viện trung bình là 13 ngày, trong đó số ngày nằm viện trung bình bậc E là 23,3 ngày, bậc D là 14,3 ngày, bậc
C là 9,6 ngày, bậc B là 8,4 ngày, bậc A là 8 ngày Như vậy số ngày nằm viện trong nghiên cứu của chúng tôi
ở tất cả các bậc đều thấp hơn so với các tác giả khác
Có lẽ do hình thái bệnh tật ít thay đổi nên phương pháp chẩn đoán tiên lượng bệnh ngày càng chính xác nên bệnh nhân được điều trị nội khoa là chủ yếu và chất lượng điều trị chung ngày càng tốt hơn
KẾT LUẬN
Chụp CLVT có ý nghĩa rất lớn để chẩn đoán, đánh giá, tiên lượng cũng như xác định chỉ số trầm trọng Chụp CT còn có giá trị lớn để định hướng và hướng dẫn xử lý can thiệp trong quá trình điều trị, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm số ngày nằm viện cho người bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bollen TL, Van Santvoort HC, Besselink MG et al: The Atlanta Classification of acute pancreatitis revisited
British Journal of Surgery, 2008, 95: 6-21
2 Trần Công Hoan: “Viêm tuỵ cấp”, Chương trình đào tạo chụp cắt lớp điện toán Bệnh viện quân đội,
2006, tr 222-335
3 Mendez G Jr, Isikoff MB, Hill MC: CT of acute
pancreatitis: interim assessment, AJR Am J Roentgenol,
1980, Sep; 135(3): 463-9
4 Wenzel Vas M.D., B Patel, B Mahanta, Z Salimi,
C Markivee, P Garvin: Innocuous gas collections in pancreatic allografts demonstrated by computed
tomography, Gastrointestinal Radiology, 1989, Volume
14, Issue 1, 118-122
5 Balthazar E.J: Acute Pancreatitis: Assessment of
Sererity with Clinical and CT Evaluation, Radiology,
2002, 223: 603-613
6 Morgan DE, Baron TH: (1988) Practical imaging
in acute pancreatitis, Gastrointest Dis, 1988, Apr;9(2):
41-50
BÀN LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA CÁC LUẬN VĂN THẠC SỸ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRONG
BỆNH VIỆN PHẠM TRÍ DŨNG, PHÙNG THANH HÙNG, PHẠM QUỲNH ANH
Trường Đại học Y tế công cộng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguồn nhân lực luôn được coi là nhân tố quan
trọng quyết định sự thành công hay thất bại của các
tổ chức trong mọi lĩnh vực nói chung và trong lĩnh
vực y tế nói riêng1 Hiện nay, tình trạng thiếu hụt
nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng đang tồn
tại ở hầu khắp các địa phương trong cả nước2
Nguồn nhân lực được phân bố chưa đồng đều giữa
các vùng miền và các tuyến y tế Nhân lực y tế đang
có sự dịch chuyển theo hướng từ tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn ra thành thị do sự chênh lệch về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc và thu nhập3 Nghiên cứu về nhân lực y tế là mối quan tâm của nhiều tổ chức và của các cán bộ quản lý bệnh viện Từ năm 2008, một số học viên cao học - trường Đại học Y tế công cộng đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực y tế và đánh giá sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế trong hệ thống
Trang 2Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 49
chăm sóc sức khỏe nói chung và tại bệnh viện (BV)
nói riêng Tuy nhiên chưa có sự thống nhất về
phương pháp và cách tiếp cận Chính vì vậy, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu “Bàn luận phương pháp
nghiên cứu và một số kết quả của các luận văn tại
trường Đại học Y tế công cộng về sự hài lòng với
công việc của nhân viên y tế trong bệnh viện” nhằm:
1) Tổng hợp một số kết quả về sự hài lòng với công
việc của nhân viên y tế trong bệnh viện 2) Bàn luận
phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong
việc đánh giá sự hài lòng với công việc của nhân viên
y tế trong bệnh viện
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ trường Đại học Y tế công cộng
về sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế trong
các BV từ 2008-6/2013
2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Tổng quan tài liệu
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Y tế công
cộng
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng
12/2013
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Chúng tôi rà soát được 09 luận văn nghiên cứu về
sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế tại bệnh
viện Sau đây là một số kết quả chính:
1 Tổng hợp một số kết quả về sự hài lòng với
công việc của nhân viên y tế tại các bệnh viện
Đa số các luận văn đều dựa vào cơ sở lý thuyết là
thuyết “hai yếu tố” của Herzberg4 Trong các nghiên
cứu, mỗi yếu tố để đánh giá sự hài lòng được chia
thành các tiểu mục nhỏ Tuy nhiên còn có sự khác
biệt về các tiểu mục nhỏ giữa các nghiên cứu Thực
trạng này là một trở ngại đối việc so sánh các kết quả
nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi đã rà soát chi tiết
và tìm ra 5 yếu tố có các tiểu mục nhỏ tương đối
tương đồng giữa các nghiên cứu và tiến hành tổng
hợp số liệu Kết quả như sau:
1.1 Hài lòng về lương và các khoản thu nhập
41.8 5.5
54.4
41.5 39.3
27 19
0
10
20
30
40
50
60
BV tp
Buôn Ma
Thuột
BV
huy ện
Đức
Giang
BV huy ện-tỉnh Đăk Lăk
BV huy ện-tỉnh Phú Yên
BV huy ện Lạng Giang
BV tỉnh Phú Yên
BV tỉnh Quảng Ngãi
BV hu yệ n BV tỉn h
khoản thu nhập
Yếu tố lương và các khoản thu nhập được 7 luận
văn nghiên cứu Hình 1 cho thấy, tỷ lệ nhân viên hài
lòng với lương và các khoản thu nhập tại các BV
tương đối thấp, có tới 4/7 BV có tỷ lệ nhân viên y tế
hài lòng với lương và thu nhập dưới 40% Đặc biệt, tỷ
lệ hài lòng về lương và các khoản thu nhập ở BVĐK tỉnh Quảng Ngãi thấp nhất (5,5%)
1.2 Hài lòng về điều kiện làm việc
68.3 36.3 23.6 53.1 52.9
32.8 18.5 17 0
10 20 30 40 50 60 70
BV tp Buôn Ma Thuột
BV huyện-tỉnh Đăk Lăk
BV huyện Đức Giang
BV huyện-tỉnh Phú Yên
BV huyện Lạng Giang
BV tỉnh Quảng Ninh
BV tỉnh Phú Yên
BV tỉnh Quảng Ngãi
BV huyện BV tỉnh
việc
Hình 2 cho thấy, có 8 nghiên cứu về yếu tố điều kiện làm việc Trên 50% BV (5/8) có tỷ lệ hài lòng về điều kiện làm việc dưới 40% Đặc biệt là ở các BV tuyến huyện, sự hài lòng cao nhất chỉ đạt 53,1% ở
BV TP Buôn Ma Thuột Một điểm đáng chú ý là, trong khi các BV tuyến tỉnh thường có điều kiện cơ
sở vật chất, trang thiết bị tốt hơn3, nhưng tỷ lệ hài lòng về điều kiện làm việc của nhân viên y tế ở đây cũng không cao Có 2/3 BV tỉnh có tỷ lệ nhân viên y
tế hài lòng dưới 40%: BVĐK tỉnh Quảng Ngãi và BVĐK tỉnh Phú Yên
1.3 Hài lòng về sự ghi nhận
26.8
58.2 67.3
61.9 50 40 30
0 10 20 30 40 50 60 70 80
BV huyện Lạng Giang
BV huyện-tỉnh Phú Yên
BV huyện Đức Giang
BV huyện-tỉnh Đăk Lăk
BV tỉnh Quảng Ngãi
BV tỉnh Phú Yên
BV tỉnh Quảng Ninh
BV huyện BV tỉnh
“Khen thưởng phi vật chất và sự ghi nhận những đóng góp của nhân viên” là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự nhiệt tình trong công việc cho nhân viên4 Kết quả của 3/7 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế với sự ghi nhận thấp, dưới 40%: BV tỉnh Quảng Ngãi (26,8%), BVĐK Lạng Giang (30%), BV tuyến huyện tại Phú Yên (40%) Tuy nhiên, các nghiên cứu mới dừng lại ở việc đánh giá khía cạnh ghi nhận thành tích và khen thưởng phi vật
%
%
%
Trang 3Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 50
chất từ phía lãnh đạo, chưa đánh giá sự ghi nhận từ
phía đồng nghiệp và bệnh nhân
1.4 Hài lòng về yếu tố phát triển chuyên môn
Có 8 nghiên cứu về yếu tố phát triển chuyên môn
Tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế tại các BV được
nghiên cứu còn thấp, đặc biệt ở BVĐK tỉnh Yên Bái là
thấp nhất (25,4%) Nhiều bác sĩ luôn mong muốn
được tiếp tục học tập, nâng cao trình độ, năng lực
chuyên môn; nhưng chưa được đi học vì các lý do
chủ quan và khách quan như có con nhỏ, BV thiếu
cán bộ
1.5 Hài lòng về mối quan hệ với mọi người
Yếu tố mối quan hệ với mọi người được đa số các
luận văn nghiên cứu và tập trung khai thác góc độ
mối quan hệ với lãnh đạo và mối quan hệ đồng
nghiệp Tỷ lệ hài lòng của nhân viên về mối quan hệ
với lãnh đạo thấp hơn so với mối quan hệ đồng
nghiệp Ví dụ chỉ có 26,6% nhân viên ở BVĐK tỉnh
Quảng Ngãi hài lòng với mối quan hệ với lãnh đạo
trong khi tỷ lệ hài lòng với mối quan hệ đồng nghiệp
là 66,7% Tuy nhiên, ngoài yếu tố mối quan hệ với
lãnh đạo và đồng nghiệp, học thuyết Herzberg còn đề
cập đến yếu tố mối quan hệ với bệnh nhân Đây cũng
là một yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng với công
việc của nhân viên y tế tại các BV, tuy nhiên chưa
được nghiên cứu trong các luận văn
1.6 Các yếu tố có tỉ lệ hài lòng thấp
Sau khi rà soát kết quả của các nghiên cứu,
chúng tôi nhận thấy có 3 yếu tố có tỷ lệ hài lòng thấp
bao gồm:
Lương và các khoản thu nhập: 4/7 BV có tỷ lệ hài
lòng <40%; kết quả nghiên cứu định tính của 4/5 BV
đã chỉ ra yếu tố này là một trong những nguyên nhân
làm ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của
nhân viên y tế
Điều kiện làm việc: 5/8 BV có tỷ lệ hài lòng <40%;
kết quả nghiên cứu định tính của 3/6 BV cho thấy
phần lớn nhân viên y tế chưa hài lòng với cơ sở vật
chất và trang thiết bị phục vụ cho công việc
Sự ghi nhận: 3/7 BV có tỷ lệ hài lòng <40%; nhiều
nhân viên y tế được phỏng vấn đã chia sẻ rằng họ
chưa thực sự hài lòng với việc khen thưởng và sự
công nhận thành tích
2 Bàn luận phương pháp đánh giá sự hài lòng
các nghiên cứu đã sử dụng
Cơ sở lý thuyết:
7/9 nghiên cứu áp dụng học thuyết Herzberg và
2/9 nghiên cứu không đề cập đến cơ sở lý thuyết đã
áp dụng
Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu: Tất cả các nghiên cứu đều
áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang,
trong đó 7/9 nghiên cứu kết hợp định lượng và định
tính, 2/9 nghiên cứu chỉ sử dụng phương pháp
nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng:
Đối tượng nghiên cứu: 5/9 nghiên cứu chọn toàn
bộ các nhân viên y tế trong BV và 4/9 nghiên cứu chỉ
chọn đối tượng là bác sĩ
Chọn mẫu: 8/9 nghiên cứu chọn mẫu toàn bộ, 1/9
nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Biến số nghiên cứu:
Không nghiên cứu nào áp dụng tất cả 14 yếu tố trong học thuyết Herzberg để xây dựng biến số nghiên cứu và bộ công cụ
Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố được sử dụng trong
các nghiên cứu để đánh giá sự hài lòng
Nhóm yếu tố duy trì
Tần suất xuất hiện
Nhóm yếu tố thúc đẩy
Tần suất xuất hiện Chế độ chính sách
Thành tựu trong
Sự giám sát trong
Sự tiến bộ/thăng
Quan hệ với mọi người (lãnh đạo, đồng nghiệp)*
8/9 Phát triển chuyên
Lương và các
Trách nhiệm với
Sự an toàn trong
Điều kiện làm
Chú thích: (*): Yếu tố được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu
Bảng 1 cho thấy, có 7 yếu tố được các tác giả sử dụng nhiều trong nghiên cứu gồm:
Nhóm yếu tố duy trì (5 yếu tố): Mối quan hệ với mọi người (8/9); Bản chất công việc (8/9); Điều kiện làm việc (8/9); Lương và các khoản thu nhập (7/9);
Sự giám sát trong công việc (6/9)
Nhóm yếu tố thúc đẩy (2 yếu tố): Sự phát triển chuyên môn (8/9); Sự ghi nhận (7/9)
Một số yếu tố chưa được đề cập đến hoặc được nhắc đến một cách mờ nhạt Đó là yếu tố về cuộc sống cá nhân, sự an toàn trong công việc, sự hứng thú trong công việc, và trách nhiệm với công việc Bên cạnh đó, trong quá trình thiết kế công cụ và phân tích kết quả, các tác giả nghiên cứu đã ghép, gộp và xếp lẫn một số yếu tố với nhau, không hoàn toàn tuân theo học thuyết Herzberg
Bộ công cụ nghiên cứu:
Một số nghiên cứu sử dụng bộ công cụ của tác giả Paul Krueger5, đã được Lê Thanh Nhuận kiểm định trên đối tượng nhân viên y tế khối dự phòng6 Tuy nhiên khi tham khảo để áp dụng cho các nghiên cứu trong BV, một số tác giả đã chỉnh sửa (thay đổi nội dung, thêm bớt tiểu mục) nhưng chưa kiểm định
về tính giá trị và độ tin cậy Có 1/9 nghiên cứu kiểm định về tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ
Phương pháp thu thập số liệu: phần lớn các
nghiên cứu sử dụng phương pháp phát vấn, trong đó 3/9 nghiên cứu mô tả rõ cách thức phát vấn theo nhóm tại mỗi khoa/phòng
Nghiên cứu định tính:
Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu: 6/7 nghiên cứu
chưa đưa ra câu hỏi nghiên cứu định tính rõ ràng
Đối tượng nghiên cứu: 6/7 nghiên cứu chọn đối
Trang 4Y HỌC THỰC HÀNH (907) – SỐ 3/2014 51
tượng là nhân viên y tế và cán bộ quản lý, 1/7 nghiên
cứu chỉ chọn đối tượng là cán bộ quản lý
Bộ công cụ: Do không có câu hỏi nghiên cứu rõ
ràng nên phần lớn các bộ công cụ định tính đều đưa
ra các câu hỏi chung chung, không có nhiều giá trị
trong việc thu thập thông tin cho mục đích nghiên
cứu Một số nghiên cứu chỉ áp dụng một bộ công cụ
cho nhiều đối tượng khác nhau
Phương pháp thu thập số liệu: 5/7 nghiên cứu sử
dụng phương pháp phỏng vấn sâu, 1/7 sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm, 1/7 nghiên cứu sử
dụng kết hợp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Phương pháp phân tích số liệu: Tất cả các nghiên
cứu sử dụng phương pháp phân tích theo nội dung
và chủ đề
Cách thức sử dụng kết quả: Các tác giả đã sử
dụng kết quả định tính để giải thích và minh họa cho
kết quả định lượng tuy nhiên các thông tin định tính
chưa được phân tích một cách logic Một số nghiên
cứu khi trích dẫn thông tin định tính còn nhầm lẫn giữa
kết quả và bàn luận Nguyên nhân của hạn chế này là
do các tác giả chưa đưa ra được các câu hỏi và mục
tiêu của nghiên cứu định tính một cách cụ thể
KẾT LUẬN
- Hầu hết các nghiên cứu đều áp dụng cơ sở lý
thuyết là học thuyết Herzberg, tuy nhiên có sự khác
biệt về các nhóm yếu tố và các tiểu mục nhỏ để đánh
giá sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế
- 8/9 bộ công cụ được sử dụng trong các nghiên
cứu chưa được kiểm định về độ tin cậy và tính giá trị
- Phần lớn các nghiên cứu chưa nêu rõ được mục
đích và ý nghĩa của các kết quả định tính
- Lương và các khoản thu nhập, điều kiện làm
việc, sự ghi nhận là ba yếu tố có tỷ lệ hài lòng thấp và
được các đối tượng nghiên cứu đề cập đến nhiều
hơn trong các kết quả định tính
SUMMARY
A review of theses on motivation and job
satisfaction of health workers in hospital in
Vietnam: a study of Hanoi School of Public
Health
Background: Human Resource for Health is an
important contributor to the quality of health care
services Research on health workforce has been the
concern of health organizations and hospital managers Severals theses on health workforce and job satisfaction have been conducted recently However there has not been consistency in research methodology and approach We conducted a research to review the theses at Hanoi School of Public Health which are related to job satisfaction of health workers Our research aims to: 1) Summarize some results on job satisfaction of health workers in the hospitals, 2) Analyze the methodology used in the assessment of job satisfaction of health workers in the hospitals
Methods: Literature review
Conclusions:
Almost theses applied Herzberg conceptual framework, however, there are differences between factors related to job satisfaction of health workers
As some questionaires were not validated, the quality of results could be influenced
Almost research did not clearly mention purpose and significances of qualitative results Three major factors dissatisfied health workers the most including Remuneration, Working Environment and Recognition
Keywords: Motivation, job satisfaction, health
workers, hospital
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 World Health Organization Working together for health: World Health Organization 2006
2 Ministry of Health JAHR 2012: Improving quality
of medical services Joint Annual Health Review 2012
2012
3 Ministry of Health JAHR 2009: Health workforce
in Vietnam Joint Annual Health Review 2009 2009
4 Herzberg Motivation-hygiene profiles: Pinpointing what ails the organization Organizational Dynamics
1974
5 Paul Krueger KB, Lynne Lohfeld, H Gayle Edward, David Lewis & Erin Tjam, "Organization specific predictors of job satisfaction: findings from a Canadian multi-site quality of work life cross-sectional survey", BMC Health Services Research 2002
6 Lê Thanh Nhuận Thực trạng nguồn nhân lực và
sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế cơ sở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008
NHËN XÐT §ÆC §IÓM L¢M SµNG, H×NH ¶NH NéI SOI Vµ M¤ BÖNH HäC
BÖNH TRµO NG¦îC D¹ DµY THùC QU¶N T¹I BÖNH VIÖN K
TrÇn V¨n ThuÊn TÓM TẮT
Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ bệnh viêm loét dạ
dày, trào ngược dạ dày, thực quản cao, một số
trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn không dược điều
trị kịp thời sẽ gây biến chứng như loét nặng, ung thư
thực quản Nghiên cứu được tiến hành từ 2/2010 –
11/2010 trên 115 bệnh nhân với phương pháp mô tả
tiến cứu nhằm tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi mô bệnh học bệnh trào ngược dạ dày thực quản Công cụ thu thập thông tin bảng câu hỏi đánh giá mức độ triệu chứng
Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nam giới mắc bệnh ít hơn nữ, nhóm tuổi này hay gặp từ 31 -
40 tuổi Thời gian mắc bệnh ít nhất dưới 1 tuần và lớn