PRA và vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới .... Để hiểu rõ và phát huy hơn nữa vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới, tôi tiến hành ng
Trang 1NGÔN VĂN VỮNG Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHONG CHÂU, HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khóa Học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, 2015
Trang 2NGÔN VĂN VỮNG Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHONG CHÂU, HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám Hiê ̣u nhà trường, Ban chủ
nhiê ̣m Khoa KT& PTNT, tôi đã tiến hành khóa luận tốt nghiệp: “Vai trò của
người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”
Để hoàn thành khóa luâ ̣n này , tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy
giáo Th.s Trần Việt Dũng người đã tâ ̣n tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin trân tro ̣ng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiê ̣u nhà trường , Ban chủ nhiệm Khoa cùng quý thầy, cô trong Khoa KT & PTNT - Trường Đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên đã tâ ̣n tình truyền đa ̣t kiến thức trong 4 năm ho ̣c tâ ̣p,
mô ̣t hành trang quý báu để tôi tự tin bước vào cuô ̣c sống
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cán bô ̣ nhân viên xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh , tỉnh Cao Bằng và bà con nhân dân trong xã Phong Châu đã quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình và cung cấp đầy đủ các tài liệu, thông tin trong quá trình điều tra thu thâ ̣p số liê ̣u và t ìm hiểu tại địa phương
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình , bạn bè đã ủng hộ
đô ̣ng viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p cũng như thực hiê ̣n khóa luận
Cuối cùng, xin chúc các thầy , cô giáo ma ̣nh k hỏe, hạnh phúc và thành công trong sự nghiê ̣p trồng người
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Ngôn Văn Vững
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã Phong Châu qua 3 năm
(2012-2014) 27
Bảng 4.2: Tình hình sản xuất một số cây trồng chính của xã năm 2014 31
Bảng 4.3: Tình hình dân số, dân tộc của xã trong năm 2014 34
Bảng 4.4: Tình hình dân số, lao động của xã năm 2014 35
Bảng 4.5: Sự hiểu biết của người dân về nông thôn mới 43
Bảng 4.6: Cách thức tiếp cận thông tin của người dântrong xây dựng NTM tại xã 45
Bảng 4.7: Đánh giá sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 46
Bảng 4.8: Lý do người dân tham gia xây dựng nông thôn mới 47
Bảng 4.9: Đánh giá sự cần thiết của việc xây dựng NTM 48
Bảng 4.10: Hình thức người dân tham gia tuyên truyền xây dựng NTM 49
Bảng 4.11: Các nội dung của người dân đóng góp trong các hoạt động xây dựng NTM 51
Bảng 4.12: Sự đóng góp công lao động của người dân trong xây dựng CSHT nông thôn 53
Bảng 4.13: Đóng góp kinh phí của người dân trong xây dựng NTM tại xã 55 Bảng 4.14: Vai trò của người dân trong việc giải phóng mặt bằng 57
Bảng 4.15: Sự tham gia giám sát,quản lý, sử dụng tài sản, các công trình trong xây dựng NTM 59
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ cơ cấu kinh tế của xã Phong Châu năm 2014 30 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động của xã năm 2014 35
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tế 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.1.1 Khái niệm và thuật ngữ 4
2.1.2 Sự cần thiết của chương trình xây dựng NTM 7
2.1.3 Căn cứ pháp lí của chương trình xây dựng NTM tại xã Phong Châu 7
2.1.4 Nguyên tắc xây dựng NTM theo chương trình mục tiêu quốc gia 8
2.1.5 PRA và vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 11
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về sự tăng cường sự tham gia, phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM 11
2.2.2 Kinh nghiêm xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương trong cả nước 15
Trang 8Phần 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra 22
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 22
3.4.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 24
4.1 Tình hình chung, đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 24
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 29
4.2 Đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 42
4.2.1 Nhận thức của người dân về chương trình xây dựng nông thôn mới 42
4.2.2 Vai trò của người dân trong chương trình xây dựng NTM 44
4 3 Một số khó khăn của người dân trong tham gia xây dựng NTM 47
4.4 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 49
Phần 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 9Phong Châu được chọn là một trong những xã điểm trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Cao Bằng, trong những năm qua nhờ sự hỗ trợ đầu tư của nhà nước cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của chính quyền xã và sự nỗ lực của nhân dân, bộ mặt của xã đã có những biến đổi rõ rệt, kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trường học được đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hoá, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao
Để đạt được những kết quả như vậy, ngoài sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo sát sao của UBND xã trong việc quy hoạch và thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, không thể không nói đến những sự đóng góp, vai trò to lớn của người dân nơi đây
Để hiểu rõ và phát huy hơn nữa vai trò của người dân trong xây dựng
nông thôn mới, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai trò của người dân
trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới và đề xuất được số giải pháp nhằm thúc đẩy, nâng cao vai trò của họ trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện kinh tế xã hội của xã
- Đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Phân tích những khó khăn, hạn chế của người dân khi tham gia xây dựng nông thôn mới
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy, nâng cao vai trò của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới
1.2.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập được trong quá trình làm đề tài phải chính xác, khách quan
- Đề tài phải đánh giá đúng vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Các giải pháp đưa ra nhằm phát huy, nâng cao vai trò của người dân phải thực tế, khả thi
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp bản thân có thể vận dụng được những kiến thức đã học được để viết bài báo cáo tốt nghiệp, phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học Nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng của mình
- Vận dụng được những kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và những kỹ năng tiếp cận các
Trang 11phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân
- Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh, phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn hiện nay
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tế
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho viê ̣c đánh giá sát thực hơn vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Qua đó giúp mọi người hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của người dân trong xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giải pháp để phát huy tốt vai trò của người dân vào xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển vùng nông thôn nói chung
- Là tài liệu tham khảo để xã có những bước đi đúng đắn, phát huy tốt vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
- Kết quả của đề tài là cơ sở cho các cấp chính quyền đi ̣a phương , các nhà đầu tư đưa ra quyết định phù hợp về hướng đi trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
- Nông thôn:
Khi nói về nông thôn có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Có quan điểm cho rằng vùng nông thôn là vùng thường có số dân và mật độ dân số thấp hơn vùng thành thị Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các nghành công nghiệp dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với các quan niệm trước đây Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ,t hị trấn, thị tứ, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại và thúc đẩy nhau phát triển
Trang 13Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có
nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác’’.[4]
- Phát triển nông thôn:
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở các quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam thuật ngữ PTNT được đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ lý luận quản lý, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận hệ thống về thuật ngữ này Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1975 đã đưa ra định nghĩa:
“Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện
sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển’’.[2]
Phát triển nông thôn tác động theo nhiều chiều khác nhau Đây là một quá trình thu hút người dân tham gia vào các chương trình phát triển nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống Đồng thời là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn giữ được những giá trị truyền thống PTNT mang tính toàn diện và đa phương phải đảm bảo yếu tố bền vững PTNT là sự phát triển tổng hợp tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được
Trang 14đặt trong khuôn khổ của chiến lược, chương trình phát triển của mỗi quốc gia
Như vậy,có rất nhiều quan điểm về khái niệm phát triển nông thôn.Tổng hợp quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ Việt Nam,thuật ngữ này có thể hiểu như sau:
“PTNT là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh
tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác’’.[2]
- Nông thôn mới:
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự
xã hội [6]
* Những đặc điểm, đặc trưng của mô hình nông thôn mới
Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 bao gồm các đặc trưng sau:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy
Trang 15- An ninh tốt, quản lý dân chủ
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao [3]
2.1.2 Sự cần thiết của chương trình xây dựng NTM
Sau nhiều năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo cuả Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sự cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển còn thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trạm y tế…còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Vì vậy phải tiến hành xây dựng xã nông thôn mới [3]
2.1.3 Căn cứ pháp lí của chương trình xây dựng NTM tại xã Phong Châu
- Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/08/2010 của Bộ xây dựng quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04 tháng 06 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
- Quyết định số 636/QD-UBND ngày 29/4/2010 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành kế hoạch lập quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
Trang 16- Quyết định số 2256/QĐ-UBND ngày 28 tháng 9 năm 2011 của UBND huyện Trùng Khánh về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.[7]
2.1.4 Nguyên tắc xây dựng NTM theo chương trình mục tiêu quốc gia
1 Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 4 năm
2009 và Quyết định số 342 ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
2 Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
3 Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
4 Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
5 Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực, tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của chương trình xây dựng nông thôn mới Phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
6 Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá
Trang 17trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới.[1]
2.1.5 PRA và vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới
PRA là phương pháp ra đời từ thâ ̣p kỷ 80 và phát triển mạnh trên thế giới trong những năm 90 PRA giúp chúng ta có cách tiếp câ ̣n từ dưới lên , tức từ cơ sở cô ̣ng đồng lên (Trước đây cán bô ̣ và người dân chỉ quen với cách tiếp
câ ̣n từ trên xuống cơ sở ) Ở đó PRA sẽ giúp chúng ta có được những thông tin, ý tưởng, giải pháp thực tế của người dân của cộng đồng để chúng ta - cán
bô ̣ các cấp đề ra những quyết sách hỗ trợ phù hợp với điều kiê ̣n cô ̣ng đồng mà nơi đó người dân là chủ thể của quá trình phát triển
PRA giú p chúng ta khơi dâ ̣y ý thức tự lực , tự cường, tự nỗ lực vươn lên của người dân để tồn tại và phát triển nhằm khắc phục một cái bệnh trầm kha và thông thường của nhiều quốc gia đang phát triển gă ̣p phải, đó là bê ̣nh ỷ la ̣i, trông nhờ, dựa dẫm vào sự ban bố , từ thiê ̣n và cung cấp tiền của từ nhà nước Chính cái bệnh này đã làm cho người dân thờ ơ với quá trình ph át triển đối với nông thôn nói riêng và đối với đất nước nói chung
PRA với những công cu ̣ của nó sẽ giúp cho người dân tham gia tích cực và xuyên suốt quá trình xây dựng nông thôn mới từ lúc khởi điểm cho đến khi nông thôn mớ i được hình thành cũng như tiếp tu ̣c giúp người dân nông thôn tự chủ, tự quản lý cô ̣ng đồng của mình để cô ̣ng đồng phát triển bền vững
Vì vậy PRA nên được ứng dụng ngay vào quá trình lấy ý kiến dân trong viê ̣c lâ ̣p đồ án quy hoạch và khảo sát cộng đồng trước khi chúng ta xây dựng đề án nông thôn mới Ở đó công cụ PRA sẽ lôi kéo, thu hút mô ̣t cách tự nhiên người dân tham gia vào công viê ̣c phát triển của cô ̣ng đồng , giúp chúng ta và người dân đi ̣a phương có cơ hô ̣i gần gũi nhau , có cơ hội trao đổi kinh nghiệm
Trang 18với nhau, chia sẻ ý kiến đánh giá tiềm năng , phân tích vấn đề của cô ̣ng đồng mà ở đó trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình người dân sẽ là nhữ ng người am hiểu, thấy rõ nhất và cũng là cơ hô ̣i cho người dân và chúng ta ho ̣c hỏi lẫn nhau và cùng phát hiện ra những nhu cầu , nguồn lực cho phát triển
cô ̣ng đồng trong tương lai
Chính PRA sẽ giúp cộng đồng được đánh th ức và người dân thì thức tỉnh trước những tiềm năng sẵn có về con người , về cơ sở vâ ̣t chất, tài nguyên thiên nhiên mà ở đó quá trình phát triển cần dựa vào vào đó PRA sẽ làm cho viê ̣c thực hiê ̣n dân chủ ở cơ sở được đả m bảo hơn nữa trong quá trình xây dựng nông thôn mới PRA sẽ ta ̣o điều kiê ̣n cho người dân tham gia mô ̣t cách tự nhiên, tích cực để thực hiện tốt phương châm của Đảng là “Dân biết, Dân bàn, Dân làm , Dân kiểm tra” (mà ở đại hội Đảng toàn quốc khóa VI năm
1986 đã nêu) và cuối cùng là dân hưởng lợi từ thành quả do chính họ làm ra Hiểu că ̣n kẽ hơn phương châm này khi áp du ̣ng vào viê ̣c xây dựng nông thôn mới nói chung và xây dựng đề án nông thôn mới nói riêng là:
Dân biết có nghĩa dân được biết rõ về nông thôn mới là gì thông qua
tuyên truyền , vâ ̣n đô ̣ng , thông qua sinh hoa ̣t cô ̣ng đồng thôn ấp ? Nô ̣i dung nông thôn mới với 19 tiêu chí gì ? Dân sẽ đóng vai trò thế nào để xây dựn g nông thôn mới? Nhà nước sẽ hỗ trợ như thế nào ? Cách làm cụ thể bắt đầu từ đâu? Ai sẽ hưởng lợi từ chương trình nông thôn mới?
Dân bàn là dân có cơ hội được bàn bạc công việc của phát triển cộng
đồng, làm những gì cho nông thôn mới ? Công trình trong tiêu chí nào được thực hiê ̣n trước mà đa số dân đồng tình ? Cách làm từng công trình , từng tiêu chí ra sao ? Cô ̣ng đồng đi ̣a phương tự đề ra những giải pháp nào là phù hợp với trình đô ̣, nguồn lực của dân? Mỗi người dân phải có vai trò trách nhiê ̣m gì đây? Nhà nước sẽ hỗ trợ những gi?
Dân làm có nghĩa là dân tham gia hội họp để bàn về ý tưởng, giải pháp
Trang 19thực hiê ̣n tiêu chí ? Tham gia thực hiê ̣n các công trình với t iến đô ̣ mà cô ̣ng đồng đề ra ? Thực hiê ̣n công viê ̣c duy tu , sữa chữa các công trình do cô ̣ng đồng đã tham gia làm như thế nào?
Dân kiểm tra là Ban giám sát cộng đồng gồm đại diện hội đồng nhân
dân, ngườ i dân, đoàn thể theo dõi tiến đô ̣ thi công, thực hiê ̣n công trình, giám sát khối lượng và chất lượng công trình , dự toán thực tế , nghiê ̣m thu công trình Kiểm tra là bước tham gia cao nhất của người dân trong cô ̣ng đồng
Phát huy vai trò của nhân dân là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công phong trào xây dựng nông thôn mới mà Đảng và nhà nước đã đề ra phù hợp với quan điểm trong nghị quyết 26 của ĐảngTrong mối
quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn”….nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới…’’.[13]
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong
trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông
Trang 20thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Người khởi xướng phong trào OVOP của thế giới, Tiến sĩ Mo-ri-hi-kô Hi-ra-mát-su nhấn mạnh ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP Đó là, địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu Cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào OVOP “Mỗi làng, một sản phẩm” của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao
Theo Tiến sĩ Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở châu Á và châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Đông-Nam Á như Thái-lan, Phi-li-pin tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP của Nhật Bản.[14]
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với
Trang 21chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là “nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông
thôn mới”: Mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng
mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn”
Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào
ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á.Tinh thần Saemaul Undong được xây dựng trên 3 trụ cột: Chuyên cần - tự giác- hợp tác Ba trụ cột đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, được công nhận đã góp công lớn đưa GNP bình quân từ 85 USD lên 20.000 USD sau 30 năm phát triển.[14]
2.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
Trang 22Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp.Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan
đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và
Trang 23nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[14]
2.2.2 Kinh nghiêm xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương trong
cả nước
2.2.2.1 Xây dựng nông thôn mới tại xã Nghĩa Đạo -Thuận Thành- Bắc Ninh
Sau ba năm triển khai chương trình xây dựng NTM, chúng tôi rút ra kinh nghiệm phải thực hiện đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân đóng góp, dân kiểm tra, dân được hưởng lợi” Đó là bộc bạch của đồng chí Vương Văn Thắng, Bí thư Chi bộ thôn Nghĩa Xá, xã Nghĩa Đạo (Thuận Thành), tại hội thảo phát huy vai trò của tổ chức Đảng trong xây dựng NTM
do Tỉnh ủy Bắc Ninh phối hợp Báo Nhân Dân vừa tổ chức
Hiện đại hóa nông thôn, câu chuyện mới của chi bộ trong điều kiện năng lực cán bộ cấp xã, thôn còn hạn chế nhưng phải gánh trách nhiệm lớn, nên Nghĩa Xá cũng có nhiều lúng túng khi triển khai Trong hai năm đầu xây dựng NTM (2011-2012), do chưa khai thác được tiềm năng nội lực cũng như sự chung sức của nhân dân nên tiến độ xây dựng các công trình có vốn đầu tư của Nhà nước quá chậm, gây hoài nghi, thiếu tin tưởng trong nhân dân; một bộ phận nhân dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào vốn đầu tư
Trang 24của Nhà nước
Phải đến năm thứ ba Nghĩa Xá mới tìm được sự đồng thuận và ủng hộ của người dân sau khi kiên trì tuyên truyền, thuyết phục Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nên nhận thức của cả hệ thống chính trị, nhất là của người dân về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi trong thực hiện chương trình xây dựng NTM đã có sự chuyển biến rõ rệt Từ chỗ trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn đầu tư của Nhà nước thì nay người dân Nghĩa Xá nhận thức rõ việc xây dựng NTM là làm cho chính mình, người dân được hưởng lợi thì phải là chủ thể tham gia và có trách nhiệm đóng góp vào các công trình xây dựng nhất là đường giao thông, rãnh thoát nước…
Đến nay, thôn đã huy động được 580 triệu đồng từ nhân dân đóng góp, chủ yếu sử dụng làm đường bê tông với tổng chiều dài 2.574m, khối lượng xấp xỉ 1.200 m³, tổng giá trị khoảng 1,3 tỷ đồng và 2.500 ngày công lao động Đặc biệt có một hộ gia đình tự nguyện đảm nhiệm thi công cả một đoạn đường trị giá khoảng 20 triệu đồng và sáu hộ gia đình tự nguyện tháo dỡ công trình, hiến đất làm đường Do có sự bàn bạc dân chủ, công khai, minh bạch, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong nhân dân nên tiến độ thi công các công trình hạ tầng cơ sở được đẩy nhanh, chất lượng, mỹ thuật được bảo đảm
Huy động tốt nội lực, phát huy tối đa vai trò làm chủ của người dân đã góp phần giúp cho Nghĩa Xá tháo gỡ những khó khăn, tồn tại trong quá trình xây dựng NTM, tạo sự chuyển biến về nhận thức trong cán bộ, nhân dân và tạo sự đồng thuận cao trong toàn thôn Nhờ vậy đã phát huy tối đa vai trò của từng đoàn thể và vai trò làm chủ của người dân nên đến nay, Nghĩa Xá đã hoàn thành 13/19 tiêu chí xây dựng NTM, củng cố được niềm tin của cán bộ, nhân dân đối với sự lãnh đạo của cấp ủy, tạo động lực cho thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM trong những năm tiếp theo.[15]
2.2.2.2 Xây dựng nông thôn mới tại xã Nhân Thành - Yên Thành - Nghệ An
Trang 25Nhân Thành là xã vùng sâu, trũng nằm phía Đông Nam huyện Yên Thành Diện tích đất tự nhiên trên 947 ha, trong đó có 556 ha đất trồng lúa 2
vụ Là vùng đất thuần nông, sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, thế nhưng bà con chưa mạnh dạn trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng trang trại, gia trại, sản xuất hàng hóa Nguồn vốn và KH-KT đầu tư cho xây dựng các mô hình sản xuất còn thấp Đời sống nhân dân còn thấp, ngân sách địa phương eo hẹp Vì thế, bắt tay vào thực hiện xây dựng NTM,
xã gặp nhiều khó khăn do nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình đảm bảo theo tiêu chí là quá lớn
Nhận rõ khó khăn, Đảng bộ và chính quyền xã Nhân Thành xác định phải làm tốt việc huy động sức dân; đầu tiên là phải làm thế nào cho dân hiểu, dân thông, chung sức, đồng lòng xây dựng NTM Đồng chí Phan Văn Thanh, Chủ tịch UBND xã Nhân Thành chia sẻ: Chúng tôi đặt công tác tuyên truyền lên hàng đầu Các cuộc họp dân được tổ chức, các chính sách của Nhà nước về xây dựng NTM được phổ biến đến tận người dân, giúp nhân dân nhận thức rõ, xây dựng NTM chính là để phục vụ, nâng cao cuộc sống người dân; tổ chức tham quan học tập mô hình; đặc biệt coi trọng phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân tự giác tham gia và dân hưởng thụ” Bên cạnh khai thác tối đa các nguồn vốn đầu tư, là phát huy các nguồn lực trong cộng đồng dân cư, huy động con em quê hương thành đạt đang công tác xa quê hướng về đóng góp
Ông Nguyễn Ngọc Đình, người dân ở xóm 10 Vân Tây, xã Nhân Thành cho biết: Được tuyên truyền, phổ biến về mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước, bà con trong xóm đều nhận thấy mình làm thì mình được hưởng Trong các cuộc họp, dân được công khai, dân chủ tham gia bàn bạc cách làm, chỉ tiêu đóng góp, nên bà con rất thoải mái, nhiệt tình ủng hộ và tự nguyện tham gia Phấn khởi lắm, vì trước khi xây dựng NTM, đường sá đi lại rất khó khăn,
Trang 26hầu hết là đường đất được đổ 1m bê tông ở giữa, nhưng bây giờ thì 100% đã
đổ bê tông rộng rãi
Là 1 trong 2 xóm được khen thưởng vì những thành tích xuất sắc trong xây dựng NTM, xóm Trung Xuân có những cách làm hay trong huy động nội lực, sức dân xây dựng NTM Ngoài việc Chi bộ xóm triển khai nhiệm vụ xây dựng NTM cho toàn đảng viên, cán bộ và nhân dân học tập, Ban chỉ huy xóm
đã liên tục phát thông tin về xây dựng NTM trên hệ thống loa truyền thanh, phổ biến kịp thời các chủ trương, quyết định của chi bộ, xóm đến tận mỗi người dân, phát hiện và xử lý kịp thời những thắc mắc, phát huy tối đa quyền làm chủ của dân trong quá trình thực hiện xây dựng các tiêu chí, đặc biệt là trong tiêu chí giao thông, được người dân đồng thuận và đánh giá cao
Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", Nhân Thành đã huy động tất cả máy xúc, tiến hành đào đắp quy hoạch chuyển ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, tạo điều kiện cho nhân dân đầu tư thâm canh, tăng năng suất, giá trị trên đơn vị diện tích Đây cũng là một trong những địa phương tiến hành chuyển đổi ruộng đất sớm, có cách làm sáng tạo, phát huy được sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia, trở thành một trong những điểm sáng trong công tác quy hoạch - chuyển đổi ruộng đất xây dựng NTM ở Yên Thành.[16]
2.2.2.3 Xây dựng nông thôn mới tại xã Tuy Lộc-TP Yên Bái
Thôn Long Thành xã Tuy Lộc thành phố Yên Bái có 127 hộ với 446 nhân khẩu là một trong 9 thôn của xã, đời sống kinh tế của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Có thời điểm các công trình xây dựng cơ bản nhiều năm triển khai xây dựng chậm Cá biệt có đường liên thôn 3 năm liên tục không vận động được nhân dân tham gia đóng góp để kiên cố hoá Nhưng từ khi xã triển khai phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới Các cấp uỷ đảng trong thôn
đã chú trọng đổi mới phương pháp lãnh chỉ đạo, tập trung tuyên truyền sâu
Trang 27rộng trong nhân dân các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Công khai các khoản đóng góp, các định hướng phát triển kinh tế xã hội đến người dân, thông qua các buổi họp thôn ông Hoàng Anh Sáng - Phó Bí thư chi bộ,
trưởng thôn Long Thành xã Tuy Lộc cho biết: “Rút kinh nghiệm từ thực tế
trong công tác vận động nhân dân, chúng tôi đã tập trung phát huy tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, mọi vấn đề đều đưa ra bàn bạc dân chủ trước nhân dân Qua đó, đã tạo được sự đồng thuận trong dân, nhân dân tham gia rất tích cực mọi vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”
Nhờ tập trung đưa ra nhiều giải pháp, đổi mới công tác dân vận, nhiều chỉ tiêu kinh tế, văn hoá xã hội trong thôn đã có những chuyển biến tích cực Chỉ tính từ năm 2014 đến nay, đã có 11 hộ dân trong thôn hiến trên 1 nghìn m² đất để mở mới và kiên cố hoá 3 tuyến đưòng liên thôn với tổng chiều dài 1.200m, mở mới trên 400m đường liên thôn Đóng góp ngày công lao động và tiền mặt để xây dựng nhà văn hoá thôn với tổng giá trị 300 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp 60 triệu đồng Không chỉ riêng thôn Long Thành, 8 thôn còn lại công tác dân vận luôn được cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể trong xã thường xuyên quan tâm chú trọng
Từ sự đồng thuận ủng hộ của người dân sau hơn 2 năm triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, xã Tuy Lộc đã vận động nhân dân đóng góp trên 1,3 tỷ đồng, hiến trên 4 nghìn m² đất để xây dựng 6 nhà văn hoá và bê tông hoá trên 5km đường giao thông liên thôn, kiên cố hoá gần 3km đường giao thông nội đồng Ngoài ra bằng nguồn vốn hộ trợ của Nhà nứơc đến nay xã Tuy Lộc đã vận động xoá được 70 ngôi nhà tạm cho các hộ nghèo, hộ chính sách và hội viên Hội CCB .Điều đáng ghi nhận, đến nay xã Tuy Lộc đã đạt 17/19 tiêu chí so với bộ tiêu chí quốc gia về chương trình xây dựng nông thôn mới
Để làm tốt công tác vận động nhân dân xây dựng nông thôn mới, trong
Trang 28thời gian tới, theo ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó bí thư Thường trực Đảng uỷ, Trưởng Ban Dân vận xã Tuy Lộc cho biết: Đảng bộ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyền truyền nâng cao nhận thức tạo sự đồng thuận trong nhân dân huy động tối đa nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới Đồng thời phát huy tốt vai trò, tính tiền phong gương mẫu của các đảng viên, cán bộ công chức trong việc tham gia đóng góp và thực hiện Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở xây dựng trên cơ sở phát huy những kết quả đạt được về mô hình dân vận khéo sát với tình hình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương để triển khai có hiệu quả Nhằm phấn đấu đưa xã Tuy Lộc trở thành xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới đúng lộ trình đề ra.[17]
Trang 29Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Từ 09/02/2015 đến 13/04/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện kinh tế xã hội của xã Phong Châu
- Một số vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
- Những khó khăn, trở ngại của người dân khi tham gia xây dựng nông thôn mới
- Một số giải pháp nhằm thúc đẩy, nâng cao vai trò của người dân trong việc xây dựng NTM
Trang 303.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để mang tính khái quát và khách quan Cụ thể: Xã Phong Châu có 12 xóm, tôi chọn ngẫu nhiên 4 xóm ở mỗi khu vực địa lý khác nhau bắt đầu từ trung tâm xã, xóm Pò Gài-Nà Giốc ở hướng Nam, xóm Cô Bây hướng Bắc, xóm Bài Siêng hướng Tây, xóm
Bó Thua Ma hướng Đông, mỗi xóm tôi chọn ngẫu nhiên 15 hộ để điều tra, tổng số mẫu là 60 mẫu, làm kết quả nghiên cứu của đề tài
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Các thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: Từ UBND xã và các bộ phận liên quan như: Ban thống kê xã, bộ phận địa chính, bộ phận văn hóa…
Các tài liệu từ báo, tài liệu, internet, các báo cáo, nghiên cứu chuyên đề
có liên quan
3.4.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập qua quá trình điều tra thực tế các hộ tại địa bàn nghiên cứu, kết hợp với quan sát thực tế
Quan sát: Là phương pháp quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các công cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu
Phỏng vấn: Phỏng vấn là cuộc nói chuyện được tiến hành theo một kế hoạch nhất định, thông qua cách thức hỏi – đáp trực tiếp giữa người phỏng vấn và người cung cấp thông tin dựa theo một bảng câu hỏi ( phiếu điều tra được chuẩn bị trước ) trong đó người phỏng vấn nêu các câu hỏi cho đối tượng cần khảo sát, lắng nghe ý kiến trả lời và ghi nhận kết quả vào phiếu điều tra
Trang 313.4.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
- Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trong quá trình thực tập, dùng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, biểu diễn số liệu trên các bảng và biểu đồ
- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, mô tả để phân tích thực trạng và và đưa ra các đánh giá
- Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsft Office Excel
- Phương pháp đánh giá phân tích dựa trên nguồn số lệu thu tập được
và lấy ý kiến của người dân trong quá trình điều tra
Trang 32Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 4.1 Tình hình chung, đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Phong Châu nằm ở phía Đông của huyện Trùng Khánh, cách thị trấn Trùng Khánh khoảng 12km, cách thị xã Cao Bằng khoảng 78km về phía Tây Nam, địa giới hành chính Xã được xác định như sau:
- Phía Đông giáp: Xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Phía Bắc giáp: Xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh,tỉnh Cao Bằng
- Phía Tây giáp: Xã Đình Minh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Phía Nam giáp: Xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh và xã Đức Quang, huyện Hạ Lang
Diện tích đất tự nhiên 2511,77 ha
Xã có 12 đơn vị xóm hành chính là: Xóm Tân Phong, xóm Bản Viết, xóm Bài Xiêng, xóm Pác Cóng, xóm Bó Thua Ma, xóm Pò Gài +Nà Giốc, xóm Bản Quan, xóm Bản Piên, xóm Nà Mằn, xóm Cô Bây, xóm Đông Quan, xóm Phia Bó
Là xã phía Đông của huyện Trùng Khánh gần khu du lịch Thác Bản Giốc và giáp các xã lân cận, do đó thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa với thị trường bên ngoài, thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động là điều kiện để phát triển kinh tế
Trang 33Khu vực II: Chiếm khoảng 70% diện tích đất tự nhiên, là khu vực có nhiều đồi, núi đá vôi và mỏ quặng Mangan, ruộng ít, nằm ở các khe núi, không thuận tiện cho sản xuất, giao thông đi lại khó khăn
Trong khu vực có một số gò đồi thấp, tạo thành những thung lũng phân bố tương đối đều, hình thành những cánh đồng cao thấp khác nhau
4.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Xã Phong Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa, phân thành 2 mùa rõ rệt mùa nóng và mùa lạnh
- Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9
- Mùa lạnh kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ trung bình 19,8ºC
- Nhiệt độ cao nhất 36,3ºC
- Nhiệt độ thấp nhất -1ºC
- Độ ẩm trung bình là 81%
- Lượng bốc hơi trung bình năm là 856mm
- Lượng mưa trung bình năm 1.665,5mm
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 6,
7, 8 chiếm khoảng 70% lượng mưa của cả năm, mưa ít nhất vào tháng 1, 2, 3
Từ các yếu tố khí hậu cho thấy rằng: Xã Phong Châu có điều kiện khá thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp, thích hợp cho việc trồng lúa, ngô, thuốc lá và các cây hoa màu khác
4.1.1.4 Thực trạng cảnh quan môi trường
Cảnh quan của xã mang những nét đặc trưng của vùng miền núi phía bắc với nhiều dãy núi cao, xen kẽ là những cánh đồng trồng lúa và màu Trong quá trình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất, tài nguyên thiên nhiên, do tập quán sinh hoạt của nhân dân chưa hợp lý gây ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan môi trường
Trang 34Môi trường xã Phong Châu bị ô nhiễm do các hoạt động làm suy giảm môi trường (hoạt động của nhà máy Fero Mangan gây khói bụi, khai thác khoáng sản) Việc nông dân sử dụng ngày càng tăng lượng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nước
Hiện trạng môi trường sống nhân dân trong xã đã bị ô nhiễm bởi nước thải, chất thải rắn tại các xóm chưa được thu gom và xử lý, tỷ lệ nhà sàn nuôi trâu bò ở gầm sàn còn nhiều, vệ sinh môi trường trong xóm chưa được quan tâm đúng mức, chưa có bãi rác tập trung Các nghĩa trang tự chôn cất chưa được hợp vệ sinh
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất và tình hình sử dụng đất
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng không có gì thay thế được, là nơi con người sống và làm việc, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng Đất có vai trò cực kì quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của xã, là một trong những yếu tố rất quan trọng để đề ra phương hướng phát triển của
xã trong tương lai
+ Tình hình sử dụng đất: Cơ cấu sử dụng đất của xã Phong Châu thay đổi qua các năm, theo sự phát triển kinh tế của xã
Với tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 2.511,77 ha Trong năm
2014, diện tích đất nông nghiệp của xã là 2.124,89 ha chiếm 84,60% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp chỉ là 360,42 ha chiếm 16, 96% diện tích đất nông nghiệp, đây là diện tích mà người dân canh tác trên đó Còn lại 82,87% là diện tích đất lâm nghiệp, vì là một xã vùng núi phía Bắc nên diện tích đất lâm nghiệp là rất lớn, hầu hết diện tích đất này là đất đồi núi, đất rừng, đất trồng cây lâm nghiệp
Tình hình sử dụng đất đai của xã trong vài năm trở lại đây được thể hiện trong bảng sau:
Trang 35(Nguồn: Ban thống kê xã Phong Châu, năm 2014)
Trang 36Qua bảng 4.1 ta thấy:
- Diện tích đất nông nghiệp qua 3 năm giảm đi 6,54 ha (bình quân qua
3 năm giảm 0,15%) Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm 3,58
ha Diện tích đất lâm nghiệp giảm 3,72 ha (bình quân 3 năm giảm 0,11%) Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng qua 3 năm là 1,03 ha (bình quân 3 năm tăng là 19,67%) Nhìn tổng quát, đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp đều bị giảm diện tích, tuy nhiên mức độ giảm không đáng kể Người dân xây dựng các công trình, nhà ở trên những diện tích đất nông nghiệp, cộng với việc khai thác rừng làm chất đốt phục vụ đời sống là nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp
- Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, với diện tích năm
2014 là 378,77 ha, chiếm 15,08% tổng diện tích Qua 3 năm, diện tích đất phi nông nghiệp tăng 7,38 ha ( bình quân mỗi năm tăng gần 1%) Diện tích đất phi nông nghiệp tăng là do quá trình đô thị hóa, dân số tăng làm cho đất ở và đất chuyên dùng được mở rộng
- Diện tích đất ở qua 3 năm tăng là 1,25 ha (bình quân 3 năm tăng 4,42%), đất chuyên dùng tăng 2,24 ha ( bình quân 3 năm tăng 0,37%)
- Diện tích đất ở và diện tích đất chuyên dùng tăng là do sự gia tăng nhân khẩu trong xã, cũng như việc xây dựng các công trình nông thôn như đường, kênh mương, bưu điện Làm cho diện tích đất chuyên dùng tăng Diện tích đất chưa sử dụng giảm 0,84 ha (bình quân 3 năm giảm 4,79% )
Tóm lại qua phân tích tình hình sử dụng đất ở xã Phong Châu, có thể thấy diện tích đất thay đổi qua từng năm nhưng sự thay đổi không mang tính biến động lớn Sự thay đổi là do người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất và do quá trình phát triển kinh tế xã hội của xã
Tiềm năng đất đai để khai thác bổ sung cho các mục đích sử dụng chủ yếu là quỹ đất chưa sử dụng Đây là nguồn tiềm năng lớn sẽ được đưa vào khai thác để mở rộng quỹ đất sản xuất lâm nghiệp cũng như đáp ứng nhu cầu về đất cho các mục đích chuyên dùng
Trang 37Ngoài ra tiềm năng đất đai còn nằm trong những diện tích đất đang sử dụng thông qua việc đầu tư thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất hợp lý hơn, làm tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trên những diện tích đất đang sử dụng
b) Tài nguyên nước
Xã Phong Châu có nguồn nước mặt khá dồi dào gồm: Có hồ thủy lợi Bản Viết với diện tích 2,7 ha, với hệ thống kênh mương dày đặc, suối Phia Bó, suối Pò Gài, xen lẫn là các ao nằm rải rác trong xã đã tạo điều kiên thuận lợi cho việc sinh hoạt và cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp của nhân dân
c) Tài nguyên rừng: Xã có tổng diện tích đất lâm nghiệp 1762,07 ha, chiếm 82,87% diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất này phân bố đều trong toàn xã, đa số là rừng sản xuất như thông, bạch đàn…
d) Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn xã Phong Châu có mỏ khoáng sản Mangan và đá quý đang được thăm dò và khai thác, lượng đá vôi phong phú có tiềm năng khai thác để làm vật liệu xây dựng trong những năm tới
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tình hình kinh tế
Cùng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền và sự cần cù chịu khó của người dân nơi đây đã đưa tốc độ phát triển kinh tế ngày càng được gia tăng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị được giữ vững Trong năm 2014 cán bộ và nhân dân trong xã đã đạt được một số kết quả trên các lĩnh vực kinh tế xã hội như sau:
Giá trị sản xuất của xã đạt 11,215 (tỉ đồng) với cơ cấu kinh tế Nông – Lâm - Ngư nghiệp, Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và Thương mại - Dịch vụ là 83,60%, 9,30%, 7,10% Bình quân thu nhập theo đầu người đạt 13 triệu/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm xuống còn 3%
Trang 38Cơ cấu kinh tế của xã được thể hiện ở hình dưới đây:
Hình 4.1: Biểu đồ cơ cấu kinh tế của xã Phong Châu năm 2014
Qua biểu đồ trên ta nghành Nông – Lâm – Ngư nghiệp chiếm vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của xã với 83,60%, với một xã đa số phần lớn diện tích đất đai là đồi núi xen lẫn là các cánh đồng thì Nông – Lâm - Ngư nghiệp một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân
CN - TTCN và dịch vụ chỉ chiếm lần lượt là 9,30 và 7,10% trong cơ cấu kinh tế của xã , những nghành này đang trong quá trình phát triển, hi vọng trong những năm tới nhờ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng
NN tăng tỉ trọng CN - TTCN và TM - DV các nghành này sẽ được phát triển hơn nữa
Hiện nay xã đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi Giảm tỷ trọng các nghành Nông – Lâm - Ngư nghiệp, phát triển CN - TTCN và dịch vụ nhưng phải tăng giá trị sản xuất của ngành Nông – Lâm - Ngư nghiệp, để làm được điều đó cần phát triển những loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, tập huấn kĩ thuật trồng trọt, chăn nuôi và mở các lớp đào tạo nghề cho người dân
Tình hình trồng trọt, chăn nuôi
Trang 39- Trồng trọt:
Trồng trọt: Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện Trùng Khánh, sự giúp đỡ của phòng NN và PTNT huyện, trong năm 2014 UBND xã đã chỉ đạo khuyến khích bà con mạnh dạn đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa nhiều giống mới có chất lượng năng suất cao vào sản xuất và đạt được thành quả đáng khích lệ
Bảng 4.2: Tình hình sản xuất một số cây trồng chính của xã năm 2014
TT Tên cây trồng
Diện tích
TH (ha)
Chỉ tiêu giao (ha)
So với
CT giao (%)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
Sản lƣợng so với năm
(Nguồn: Ban thống kê xã phong Châu, năm 2014)
Trang 40Qua bảng 4.2 ta thấy: Xã Phong Châu có sự đa dạng về giống cây trồng, cây trồng chính của người dân là cây lúa, cây ngô, cây đậu tương và cây sắn
Cây lúa: Vụ mùa đã cấy được: 226/226 ha đạt 100% tổng diện tích, năng suất đạt 43,4 tạ/ha sản lượng đạt 980,40 tấn Đa số người dân trồng các giống lúa của địa phương, một số ít hộ dùng giống lúa mới
Cây ngô: Diện tích ngô ruộng và ngô rẫy nhân dân đều sử dụng giống ngô lai, các loại giống cây mọc tương đối đều, cho năng suất cao
Ngoài cây lúa và cây ngô là 2 cây trồng chính của người dân, trong năm
2014 được sự hỗ trợ của UBND xã người dân đã trồng thêm cây thuốc lá với diện tích là 4,3 ha, về diện tích tăng 282% so với năm 2013 Cây thuốc lá là cây cho hiệu quả kinh tế cao, nhưng tốn nhiều công chăm sóc và không chịu được ngập úng nên mặc dù diện tích có tăng, song so với chỉ tiêu được giao chỉ đạt 43%
Các loại đậu, đỗ, mạch hoa, sắn đều có năng suất cao hơn so với năm 2013 Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 1501,14 tấn, bình quân đạt 721,78kg/người/năm, sản lượng giảm 0,1% so với năm 2013
Trong những năm tới cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, quy hoạch vùng trồng cây thuốc lá để năng suất đạt hiệu quả cao hơn, đồng thời tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm để người dân yên tâm sản xuất
- Chăn nuôi:
Nhìn chung tình hình chăn nuôi của xã Phong Châu trong thời gian gần đây có sự phát triển cả về chất và lượng, góp phần tích cực vào chuyển đổi
cơ cấu sản xuất trong nghành nông nghiệp
Ngành chăn nuôi đã dần chuyển sang hình thức sản xuất hàng hóa, tốc độ phát triển nhanh về cả quy mô lẫn cơ cấu đàn Mặc dù hình thức chăn nuôi mới ở quy mô hộ gia đình, nhưng do nắm bắt được nhu cầu thị trường, có thị trường tiêu thụ ổn định, nên bà con đã có những sự lựa chọn phù hợp về hình thức chăn nuôi và vật nuôi phù hợp với điều kiện của hộ gia đình