Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và ngành hàng miến dong nói riêng trong thời gian qua đã vấp phải những khó khăn và thách thức lớn làm ảnh hưởng đến giá trị gia tă
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS Vũ Thị Hiền
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn” của các trường chuyên nghiệp nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là bước quan trọng của sinh viên cuối khóa Đây là giai đoạn rất quan trọng nhằm củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
"Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh"
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên Th.s Vũ Thị Hiền, cùng sự giúp đỡ tận tình của các các bộ tại Ủy ban Nhân dân xã Đồng Tâm Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo cùng toàn thể các cán bộ UBND xã Đồng Tâm
Với khả năng và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lô Thị Mai
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Mẫu quan sát và phương pháp phỏng vấn 23 Bảng 4.1 Sản phẩm miến dong tiêu thụ theo nhóm khách hàng năm 2014 44 Bảng 4.2 Chi phí, giá bán, lợi nhuận bình quân trên 1kg miến dong của
tác nhân sản xuất miến dong Bình Liêu 46 Bảng 4.3 Chi phí, giá bán, lợi nhuận bình quân trên 1kg miến dong của
tác nhân người bán buôn miến dong Bình Liêu 48 Bảng 4.4 Chi phí, giá bán, lợi nhuận bình quân trên 1kg miến dong của
tác nhân người bán lẻ miến dong Bình Liêu 49 Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả, hiệu quả kinh tế của các tác nhân tham gia
trong chuỗi giá trị (tính BQ/1kg miến dong) 50 Bảng 4.6 Sự hình thành giá và giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh
tiêu thụ (Tính bình quân cho 1kg miến dong) 53 Bảng 4.7 Kinh nghiệm trồng và chế biến miến dong 59
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Sơ đồ ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm 37Hình 4.2 Quy trình chế biến miến dong thủ công 40Hình 4.3 Quy trình chế biến miến dong tại công ty chế biến miến dong 42Hình 4.4 Chuỗi giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh phân phối 51
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Các quan điểm và khái niệm về ngành hàng 4
2.1.2 Chuỗi 7
2.1.3 Cấu trúc của ngành hàng 7
2.1.4 Nội dung và các bước trong phân tích ngành hàng 10
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13
2.2.1 Vài nét về lịch sử nguồn gốc, phân bố cây dong riềng và sản phẩm chế biến từ củ dong 13
2.2.2 Tình hình phát triển ngành hàng nông sản một số nước trên thế giới 16
2.2.3 Thực trạng ngành hàng miến dong trong nước 18
PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 23
Trang 83.4.2 Phương pháp tính toán và tổng hợp số liệu 24
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 24
3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 25
3.5.1 Chỉ tiêu mô tả ngành hàng 25
3.5.2 Chỉ tiêu đặc điểm ngành hàng 25
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội 29
4.2 Chuỗi giá trị ngành hàng miến dong tại xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu 34
4.2.1 Khái quát tình hình sản xuất miến dong tại xã Đồng Tâm 34
4.2.2 Phân tích chi phí và lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm 46
4.2.3 Sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi 50
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng miến dong tại xã Đồng Tâm 53
4.3.1 Sự phát triển của thị trường nông sản 55
4.3.2 Vùng cung ứng nguyên liệu đầu vào 55
4.3.3 Công nghệ chế biến 56
4.3.4 Lao động 57
4.3.5 Các chính sách kinh tế của Nhà nước 58
4.3.6 Phân tích SWOT 58
4.4 Giải pháp chủ yếu phát triển ngành hàng miến dong Bình Liêu 64
4.4.1 Định hướng chung 64
4.4.2 Các giải pháp chính 65
PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 9Đến năm 2006, nhãn hiệu “Miến dong Bình Liêu” được xác lập, bảo hộ bởi Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam Sau khi được
Trang 10công nhận, sản phẩm "Miến dong Bình Liêu" đã dần khẳng định được vị thế của mình trên thị trường tiêu thụ trở thành một trong những sản phẩm đặc sản của huyện, xã Với thương hiệu Miến chất lượng tốt, đặc biệt không sử dụng hóa chất, sợi miến dai, mềm, thơm ngon, có hương vị đặc trưng khác hẳn với các loại miến sản xuất ở nơi khác, nhờ vậy đã được huyện đầu tư chú trọng phát triển quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu tập trung đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ miến dong tại địa bàn xã
Cấu trúc và hoạt động thị trường miến dong đã thay đổi theo hướng chuyên môn hoá Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và ngành hàng miến dong nói riêng trong thời gian qua đã vấp phải những khó khăn và thách thức lớn làm ảnh hưởng đến giá trị gia tăng của ngành hàng nhất là phân phối lợi ích và chi phí giữa các tác nhân tham gia ngành hàng
Để đánh giá, phân tích xác định lợi ích các tác nhân tham gia thị trường
và đề xuất những giải pháp cho việc phát triển bền vững của môi trường, ổn định các vấn đề kinh tế - xã hội và cạnh tranh gay gắt trên thị trường nông sản Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và tình hình thực tiễn, nhằm nghiên cứu thực trạng ngành hàng miến dong của xã, huyện để tìm ra những điểm mạnh điểm yếu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất miến dong, đưa ra những giải pháp hợp lý để phát triển ngành hàng miến dong trong thời gian tới Từ những vấn
đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh"
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Trang 111.2.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu trên địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Phân tích thực trạng ngành hàng miến dong Bình Liêu: Lập sơ đồ ngành hàng, phân tích kinh tế và xác định lợi ích các tác nhân tham gia ngành hàng Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng: xác định những lợi thế
và cơ hội, những cản trở và nguy cơ thách thức của các tác nhân trong ngành hàng
Đề xuất các giải pháp hành động để thực hiện chiến lược phát triển ngành hàng miến dong Bình Liêu trong thời gian tới
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn
Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo
Giúp hiểu thêm về tình hình sản xuất miến dong trên địa bàn xã Đồng Tâm- huyện Bình Liêu- tỉnh Quảng Ninh
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Nhận thấy những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tế người dân trong địa bàn
Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Các quan điểm và khái niệm về ngành hàng
2.1.1.1 Ngành hàng
Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng
là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa
các yếu tố trên cũng như với bên ngoài" ( J.P Boutonnet, INRA France)
Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng” Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ.[7] Có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến
và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp”.[1]
Trang 13Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó
Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng như sau: [1]
- Sự dịch chuyển về mặt thời gian
Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm
- Sự dịch chuyển về mặt không gian
Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ
- Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm)
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị thay đổi qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị thay đổi càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra
Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách Hơn nữa, theo Fabre thì “ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô
Trang 14hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
và các phương thức điều tiết” [1]
2.1.1.2 Tác nhân
Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ [7] Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,…)
- Tác nhân đợn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy,…)
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch
về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng
Trên thực tế có một số tác nhân chỉ tham gia vào một ngành hàng nhất định và có nhiều tác nhân có mặt trong nhiều ngành hàng của nền kinh tế quốc dân Có thể phân loại các tác nhân thành nhóm tùy theo bản chất hoạt động chủ yếu trong ngành hàng như sản xuất, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ
2.1.1.3 Mạch hàng
Là khoảng cách giữa hai tác nhân, mạch hàng mang nhiều mối quan hệ kinh tế giữa hai tác nhân và những hoạt động chuyển dịch sản phẩm Qua mỗi
Trang 15tác nhân giá trị của sản phẩm tăng lên, do sự sáng tạo và chất lượng cùng với tác dụng cũng tăng lên
Mỗi tác nhân có thể tham gia vào nhiều mạch hàng, tức là sẽ có nhiều mối quan hệ với các tác nhân chuỗi càng chặt chẽ, vậy chuỗi hàng từ đó càng bền vững
2.1.3 Cấu trúc của ngành hàng
2.1.3.1 Sự hình thành của ngành hàng
Giữa sản xuất và tiêu thụ có mối quan hệ hữu cơ, khăng khít không tách rời, trong đó sản xuất quyết định đến quá trình tiêu thụ Vì sản xuất tạo ra khối lượng sản phẩm cho quá trình tiêu thụ Quá trình lặp đi lặp lại từ khâu sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm do các tác nhân tác động ảnh hưởng tới được hình dung là ngành hàng sản phẩm
Trang 162.1.3.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm
Kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Nó cũng được coi như một dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hóa khi chúng được mua, bán qua các tác nhân khác nhau
Người sản xuất chú ý các trung gian khác nhau cần sử dụng để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng Vì vậy, họ có thể định nghĩa kênh tiêu thụ là hình thức di chuyển sản phẩm qua các trung gian khác nhau
Người bán buôn, bán lẻ - những người đang hy vọng có được dự trữ tồn kho thuận lợi từ những người sản xuất và tránh các rủi ro liên quan đến chức năng này – có thể quan niệm luồng quyền sở hữu như là mô tả tốt nhất kênh tiêu thụ
Người tiêu dùng có thể hiểu kênh tiêu thụ đơn giản: có các trung gian kết nối giữa họ và người sản xuất sản phẩm Các nhà nghiên cứu khi quan sát các kênh tiêu thụ hoạt động trong hệ thống kinh tế có thể mô tả nó dưới dạng các hình thức cấu trúc và kết quả hoạt động
Kênh tiêu thụ, thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp, người sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
Kênh tiêu thụ là tập hợp những cá nhân hay cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Có thể nói đây là một nhóm tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được coi là thành viên của kênh, các thành viên
Trang 17nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau
- Nhà bán buôn: là những trung gian hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác như các nhà bán lẻ hoặc nhà sử dụng công nghiệp
- Nhà bán lẻ: là những trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dung cuối cùng
- Đại lý và môi giới: là những trung gian có quyền hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác Trung gian này có thể đại diện cho nhà sản xuất nhưng không sở hữu sản phẩm mà
họ có nhiệm vụ đưa người mua và người bán đến với nhau
- Nhà phân phối: là chỉ trung những người trung gian thực hiện chức năng phân phối trên thị trường
2.1.3.3 Các kênh tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trính sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất Quá trình tiêu thụ sản phẩm được thể hiện qua các kênh tiêu thụ như sau:
- Kênh trực tiếp: Nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
cuối cùng, không thông qua khâu trung gian Người sản xuất kiêm luôn bán hàng Họ có hệ thống các cửa hàng, siêu thị để bán các sản phẩm sản xuất ra
- Kênh gián tiếp: Nhà sản xuất thông qua các tác nhân trung gian như:
Đại lý, người bán buôn, người bán lẻ để đưa sản phẩm sản xuất đến tay người tiêu dùng Sau khi sản phẩm được sản xuất ra được nhập kho và phân phối ra thị trường qua kênh gián tiếp là chủ yếu Kênh gián tiếp bao gồm kênh gián tiếp đơn giản và kênh gián tiếp phức tạp Kênh gián tiếp đơn giản chỉ thông qua trung gian là người bán lẻ, kênh gián tiếp phức tạp thì có thêm tác nhân đại lý
và người bán buôn [18]
Trang 182.1.4 Nội dung và các bước trong phân tích ngành hàng
Để nhận biết những gì đang diễn ra giữa những người tham gia ngành hàng, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa họ hình thành và phát triển như thế nào trong phân tích ngành hàng Các công việc chủ yếu trong phân tích ngành hàng là:
Hiện trạng chung của sản phẩm thuộc ngành hàng: phải xác định được đối với một ngành hàng thì các vùng sản xuất chính, các vùng tiêu thụ và các vùng cung ứng đầu vào cho ngành hàng như thế nào
Các công đoạn kỹ thuật của ngành hàng: Mô tả tất cả các công đoạn kỹ thuật chế biến từ một nông sản cho tới tiêu dùng, có để ý tới sự đa dạng của các loại sản phẩm cuối cùng trước khi tiêu dùng
Các tác nhân tham gia ngành hàng: Xác định được các tác nhân tham gia ngành hàng trong thương mại hóa cũng như là chế biến sản phẩm Họ làm chức năng gì? làm như thế nào? ở đâu? mối quan hệ của họ ra sao? phải chú ý đến việc đánh giá tầm quan trọng của các tác nhân theo khối lượng hàng hóa
mà họ lưu thông trong ngành hàng
- Đặt tên cho ngành hàng: đây là việc đầu tiên của phân tích ngành
hàng Tên ngành hàng là tên sản phẩm chính của các tác nhân trong ngành
Trang 19hàng Ví dụ ngành hàng miến dong được đặt tên từ sản phẩm miến dong của các tác nhân người sản xuất và chế biến miến dong
- Xác định hệ thống các tác nhân trong ngành hàng: Đây là một việc khá
quan trọng bởi vì phân tích ngành hàng chính là phân tích kết quả và hiệu quả hoạt động của các tác nhân trong ngành hàng Do đó, chúng ta phải xác định được đúng, đầy đủ và sắp xếp các tác nhân theo một trật tự hợp lý trong từng mạch hàng, luồng hàng Mỗi ngành hàng khác nhau trong mỗi phạm vi nghiên cứu khác nhau mà bao gồm các loại tác nhân khác nhau Ví dụ: trong ngành hàng miến dong Bình Liêu hệ thống tác nhân được xác định bao gồm: tác nhân người sản xuất miến, tác nhân người bán buôn, người bán lẻ, tác nhân người tiêu dùng cuối cùng
- Mô tả quan hệ giữa các tác nhân trong ngành hàng: Việc mô tả các tác
nhân trong ngành hàng được dựa trên cơ sở chức năng hoạt động của từng tác nhân, sản phẩm mà mỗi tác nhân tạo ra cũng như mối quan hệ của chúng trong ngành hàng Nêu được số lượng của các tác nhân, mô tả được chức năng, sản phẩm, còn phải chỉ rõ các mối quan hệ mật thiết giữa các tác nhân thông qua luồng vật chất lưu chuyển và phương thức thanh toán Thông thường ta chỉ mô tả mối quan hệ giữa các tác nhân đứng kề trước và kế tiếp tác nhân đang được mô tả Công việc này rất quan trọng vì đó mới có cơ sở sắp xếp vị trí của từng tác nhân trong mạch hàng, luồng hàng của một ngành hàng Và chú ý tới sự ăn khớp giữa các mối quan hệ về các luồng vật chất lưu chuyển trong ngành hàng để mô tả cho chính xác
- Lập sơ đồ ngành hàng: là việc mô tả cấu trúc hoạt động của ngành
hàng Căn cứ vào hệ thống các tác nhân đã được xác định, chức năng, và quan
hệ giữa các tác nhân đã được mô tả để lập sơ đồ ngành hàng Sơ đồ ngành hàng phải thể hiện được mối quan hệ giữa các tác nhân qua các giai đoạn sản xuất, chế biến và lưu thông cũng như các hoạt động cung cấp đầu vào và được ghi nhận với số lượng vật chất lưu chuyển qua từng mạch hàng
Trang 20Trong sơ đồ ngành hàng, mỗi tác nhân tham gia trong ngành hàng được biểu diễn bởi các hình chữ nhật thể hiện sự cấu thành “lãnh thổ” kinh tế đóng kín bởi một “biên giới” Mối quan hệ giữa các tác nhân với nhau thể hiện sự lưu chuyển của các luồng vật chất qua từng mạch hàng được biểu thị bằng các kiểu mũi tên với các ký hiệu khác nhau cho từng loại sản phẩm trung gian Xác định ngành hàng là bước đầu tiên quan trọng của phân tích ngành hàng Nếu không giải quyết tốt được bước này sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng của sự phân tích ngành hàng, vì trong một chừng mực nào đó, chúng quyết định tới hình thức tổ chức của từng giai đoạn tổ chức sản xuất - kinh doanh trong ngành hàng Do đó, để xác định ngành hàng được tốt thì ngoài việc phải nghiên cứu để có hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về ngành hàng cần phải tổ chức tốt việc thu thập số liệu và các thông tin cần thiết có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến ngành hàng, thiết lập được sơ đồ ngành hàng với các số liệu, thông tin đầy đủ chính xác sẽ giúp cho việc phân tích được thực hiện, từ đó sẽ rút ra được kết luận và các đề xuất xác đáng cho nhà hoạch định chính sách có cơ sở đề ra các chính sách hợp lý về chiến lược phát triển ngành hàng Sơ đồ ngành hàng là bức tranh của toàn bộ ngành hàng trong phạm vi nghiên cứu trên cơ sở các mẫu đại diện Từ đây cũng có thể biết được giá trị gia tăng của toàn bộ ngành hàng
2.1.4.2 Phân tích kết quả hoạt động của các tác nhân trong ngành hàng
Việc phân tích kết quả hoạt động của các tác nhân được thực hiện thông qua hệ thống chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế với hai nội dung là phân tích tài chính và phân tích kinh tế
- Phân tích tài chính
Phân tích tài chính trong phân tích ngành hàng chủ yếu xem xét phần tài chính tương ứng và luồng vật chất được lượng hoá đối với từng tác nhân tham gia trong các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh Khi phân
Trang 21tích tài chính có thể phân tích theo một đơn vị khối lượng sản phẩm của từng tác nhân đầu tiên trong ngành hàng, sau đó suy rộng cho ngành hàng Phân tích tài chính của ngành hàng được tiến hành từ những tài khoản riêng biệt của các tác nhân hợp vào tài khoản hợp nhất của toàn bộ ngành hàng Phân tích tài chính xuất phát từ những tài khoản trên được thiết lập cho từng tác nhân và sau đó rút ra kết luận sơ bộ chung về ngành hàng trên giác độ tài chính Mặt khác các chỉ tiêu tổng hợp như TR, IC, VA, MI có thể thấy được
vị trí của từng tác nhân trong ngành hàng và sự đóng góp vào việc tạo nên giá trị gia tăng (VA) của ngành hàng và phân chia lợi ích kinh tế cho từng tác nhân đó Trong phân tích tài chính giá cả sử dụng là giá thực tế mà từng tác nhân đã sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh (giá thị trường)
Khi phân tích tài chính, chúng tôi phân tích một đơn vị khối lượng sản phẩm chính (1 kg miến dong) sau đó chúng tôi suy rộng ra cả ngành hàng
- Phân tích kinh tế
Phân tích kinh tế trong ngành hàng là phân tích đầy đủ tất cả các hoạt động kinh tế của các tác nhân diễn ra trong một thời kỳ nhất định và hiệu quả của sản xuất kinh doanh phải được coi trọng
Trong phân tích kinh tế, giá cả sử dụng trong tính toán các chỉ tiêu là giá
cả qui đổi hay mức giá chung được quy định trên cả nước
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Vài nét về lịch sử nguồn gốc, phân bố cây dong riềng và sản phẩm chế biến từ củ dong
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), thuộc nhóm cây nông nghiệp có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới Nam Mỹ
là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là
những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann,
Trang 221999) Dong riềng có nhiều tên địa phương khác nhau tại Việt Nam như khoai
chuối, khoai lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót, chuối nước
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng Nam Mỹ, Châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương Tại Châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc, và Đài Loan Mặc dầu vậy đến nay chưa có số liệu thống kê về diện tích loại cây
trồng này (Hermann, M et al 2007)
Ở Ecuador, dong riềng thương mại được trồng trên đất cát pha, ở độ cao trên 2000m trên mực nước biển, trong điều kiện nhiệt bình quân 15-170 C Năng suất củ tươi đạt từ 17-96 tấn/ha; hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4-22% và đạt 12-31% qui về chất khô Mặc dù hàm lượng tinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên vẫn có năng suất tinh bột đạt 2,8-14,3 tấn/ha và chỉ số thu hoạch cao nên dong riềng là cây tăng góp phần xóa đói của nông dân nghèo Tuy nhiên cho đến nay, tại các nước có trồng dong riềng thì nó vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Ở châu Á, Trung Quốc và Việt Nam là những nước trồng và sử dụng dong riềng hiệu quả
nhất.(Hermann, M et al 2007)
Dong riềng được nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 19 Năm 1898, người Pháp đã trồng thử dong riềng ở nước ta nhưng rồi công việc đã bị dừng lại vì
thời đó chưa biết cách chế biến tinh bột dong riềng.(Lý Ban, 1963) Từ năm
1961 đến 1965 một số nghiên cứu về nông học với cây dong riềng đã được thực hiện tại Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp (INSA) nhằm mục đích mở rộng diện tích dong riềng, tuy nhiên vấn đề trồng dong riềng vẫn không được quan tâm vì thiếu công nghệ chế biến và tiêu thụ thấp Từ năm 1986 do nhu cầu sản xuất miến từ bột dong riềng ngày càng tăng đã đi kèm với việc mở rộng diện tích tự phát trồng loại cây này Những địa phương trồng dong riềng với diện tích lớn là Hoà Bình, ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu, Thanh
Trang 23Hoá, Hưng Yên, Tuyên Quang và Đồng Nai Vào những năm 60 của thế kỷ
XX, dong riềng được trồng chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực và có năm đã đạt trên 21 ngàn ha Hiện nay loại cây này không được đưa vào danh mục thống kê quốc gia, tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích dong riềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 30 nghìn ha với các giống dong riềng lấy củ và dong riềng cảnh vẫn được trồng phổ biến khắp cả nước, từ vùng đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Bắc Hà, tỉnh Hà Giang, Phó Bảng, tỉnh Tuyên
Quang (Mai Thạch Hoành, 2003)
Một số nước nghiên cứu về dong riềng cho thấy cây dong riềng là loài cây triển vọng cho hệ thống nông lâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quí như chịu bóng râm, trồng được những nơi khó khăn như thiếu nước, thời tiết lạnh
Củ dong riềng tại một số nước được chế biến với nhiều hình thức khác nhau trở thành thực phẩm hàng ngày của người dân như luộc để người ăn, làm bột, nấu rượu Bột dong riềng dễ tiêu hoá vì thế là nguồn thức ăn rất tốt cho trẻ nhỏ và người ốm Ngoài ra bột dong riềng còn dùng làm hạt trân châu, làm bánh, bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức ăn chăn nuôi Đối với miền núi, những nơi khó khăn ở Trung Quốc, Indonesia, Nam Mỹ dong riềng cũng là cây góp phần đảm bảo an ninh lương thực Trong thân cây dong riềng có sợi màu trắng, có thể được sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại bao bì nhỏ Củ dong riềng dùng làm thức ăn chăn nuôi Cả củ, thân lá đều dùng được vào mục đích này Nhiều vùng có truyền thống trồng dong riềng chế biến thành bột thì bã có thể dùng để nấu rượu Nấu rượu xong có thể dùng bã rượu dùng cho chăn nuôi Bã thải của chế biến tinh bột cũng có thể ủ làm phân bón cho cây trồng và làm giá để trồng nấm ăn Ngoài ra, hoa dong riềng có màu sặc sỡ,
bộ lá đẹp nên cũng có thể sử dụng dong riềng làm cây cảnh trong vườn
nhà.(Hermann và CS, 2007)
Trang 242.2.2 Tình hình phát triển ngành hàng nông sản một số nước trên thế giới
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước muộn hơn các nước trong khu vực Vì vậy, cần phải tìm hiểu nghiên cứu học hỏi và đúc kết kinh nghiệm nhằm lựa chọn và xây dựng cho mình con đường riêng, hội nhập với nền kinh tế khu vực và toàn cầu
Mặc dù theo chính sách tăng cường hợp tác chung nhưng mỗi nước đều
có chiến lược riêng phát triển kinh tế nông thôn và nông nghiệp của mình
Dịch vụ hỗ trợ và trợ cấp nông nghiệp bằng dịch vụ như khuyến nông đào tạo và trợ giá, vật tư, xúc tiến tiêu thụ
Hỗ trợ các nông dân nhỏ bằng vốn
Phát triển các ngành công nghệp sử dụng nguyên liệu là nông sản
Phục hồi các làng nghề sản xuất nông sản truyền thống
Đô thị hóa nông thôn
Malaysia đã tiến hành chính sách phát triển trong khuôn khổ chiến lược
tự do theo hướng thị trường, theo đó chú trọng tổng hợp 4 vấn đề chính:
Trong phát triển nông nghiệp không lấy lương thực làm trọng tâm mà tập trung đến chiến lược phát triển có tính chất hàng hóa quy mô lớn các cây công nghiệp có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và hướng vào xuất khẩu cao su, cọ dầu, cô ca
Đối với việc chế biến nông sản, chính phủ tập trung vào xây dựng các
Trang 25nhà máy lớn với thiết bị công nghệ hiện đại vào sản xuất các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chiến lược cao nhằm tiêu thụ hết các sản phẩm nông sản đảm bảo chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Với các sản phẩm nội địa thì kết hợp cả hiện đại và thủ công với các máy móc công suất nhỏ, cơ động tập trung vào các ngành xay xát gạo, bột ngô, chế biến sắn, thức ăn gia súc
Trong phát triển các ngành công nghiệp ở nông thôn, chính phủ Malaysia tiếp tục thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài ở vùng nông thôn, giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ nghiên cứu giống Nhà nước chủ trương tiếp tục duy trì các đồn điền lớn của nước ngoài để phát triển hàng hóa nông sản thu hút lao động duy trì mối liên hệ thương mại với nước
đề cơ bản đó là ưu tiên phát triển nông thôn với việc chính phủ lập quỹ phát triển nông thôn nhằm mở rộng thị trường trong nước Xuất khẩu nông phẩm
và khuyến khích phát triển phát triển các ngành công nghiệp chế biến và sản xuất sản phẩm từ nông sản Quá trình phát triển của nền kinh tế Thái Lan có tính chất lựa chọn và phát triển công nghiệp tập trung được coi hướng chính, nông nghiệp ít phát triển và nông thôn chỉ là nơi cung cấp lao động và nông sản cho thành thị Từ những năm 1980 trở đi chính phủ Thái Lan rất chú trọng tới phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh, xuất khẩu và phát triển các khu công nghiệp tại các vùng nông thôn để cân đối sự phát triển giữa các
Trang 26vùng, phục vụ cho sự công nghiệp hóa
Để tạo môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn Thái Lan đã có những biện pháp và chính sách rất cụ thể nhằm duy trì sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường thu mua lúa gạo, quản lý việc tiêu thụ mía đường, loại bỏ nhiều hạn chế đối với xuất khẩu nông sản, giảm bớt thuế xuất khẩu Thái Lan cũng đã coi trọng việc cơ giới hóa nông thôn, đến nay thay vì việc nhập khẩu các máy móc nông nghiệp từ nước ngoài Thái Lan đã sản xuất các loại máy kéo có công suất từ 5-12 mã lực, cấu tạo đơn giản, dễ sử dụng, giá thành rẻ
Chính phủ Thái Lan quan tâm tới việc hỗ trợ xây dựng hệ thống các chợ
nông sản bán buôn lớn mang tầm cỡ quốc gia và khu vực.(Hermann và CS,
2007)
2.2.3 Thực trạng ngành hàng miến dong trong nước
2.2.3.1 Tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh thuộc Đông Bắc của vùng Trung du miền núi phía Bắc,
là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Kạn đã tập trung chỉ đạo phát triển những lĩnh vực mà tỉnh có tiềm năng, phát huy tối đa mọi nguồn lực sẵn có của địa phương, đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển như cây dong riềng Cây dong riềng là một trong những cây trồng có tiềm năng, năng suất cao, thích hợp với đất đai Bắc Kạn, là cây trồng được chọn để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới làm giầu cho người dân Bắc Kạn
Diện tích trồng cây dong riềng tỉnh Bắc Kạn hàng năm đều tăng đồng đều tập trung chủ yếu ở các huyện Na Rì, Ba Bể, Chợ Mới, Bạch Thông và thị
xã Bắc Kạn trong đó Na Rì có diện tích trồng lớn nhất là 374ha
Sản phẩm miến dong của tỉnh Bắc Kạn đặc trưng bởi sợi miến làm bằng tinh bột dong nguyên chất, sợi miến không pha trộn bột tạp, dai và có hương thơm đặc trưng của bột dong Sợi miến sau khi nấu có thể để lâu mà không bị
Trang 27bở, nát và không có sạn mang thương hiệu đặc trưng riêng được nhiều vùng biết đến
Ngay từ công đoạn chọn nguyên liệu dùng để sản xuất miến dong đã yêu cầu rất cao Dong phải là thứ Dong riềng tía, ngọt mát được lựa chọn kỹ càng tận vùng sản xuất Củ dong đem về làm sạch sau đó dùng dao nhỏ gọt bỏ những phần hỏng, cạo vỏ rồi cho vào mài nát
Sau khi dong được làm nhuyễn được bọc vào một tấm vải màn thưa để lọc Nước lọc dong yêu cầu là nước mưa sạch và không có váng bẩn Có thể dùng nước giếng nhưng phải là giếng đào chứ không dùng giếng khoan Sau khi đã có nước dong gột qua 2 đến 3 lần người thợ sẽ pha chế thêm một phần bột gạo và một số phụ gia nữa và bắt đầu quấy bột cho thật sánh Công đoạn này rất tốn sức nên đòi hỏi người làm miến phải dẻo dai và có sức khỏe vì càng lúc bột càng đặc hơn, phải quấy liên tục và đều tay thì bột không bị vón
và sống
Sau khi bột được cho vào máy ép thành sợi miến, người thợ dàn miến ra phên và đem phơi Quy trình phơi cũng phải có những bí kíp riêng thì mới tạo được hương vị đặc biệt cho miến Độ đẹp của miến phụ thuộc nhiều vào thời tiết, ngày nắng đều và không gắt phơi miến là đẹp nhất, vì miến khô chủ yếu bằng gió và nắng nhạt, nếu nắng gắt quá sẽ khiến miến mất nhiệt nhanh dẫn đến sợi miến khi nấu bị khô và không còn màu trong nữa Thông thường một
mẻ phơi đẹp là khoảng 2 nắng Miến sau khi phơi kỹ sẽ được gói lại, để nơi cao ráo tránh độ ẩm và được vận chuyển đi khắp các vùng miền trong và ngoài tỉnh Miến dong Bắc cạn đã trở thành đặc sản thân thiện với sức khỏe, được người tiêu dùng trên khắp cả nước tin dùng [17]
2.2.3.2 Tỉnh Hưng Yên
Ở một số làng quê của tỉnh Hưng Yên thì nghề làm tinh bột và miến
dong truyền thống đã tồn tại và phát triển gần nửa thế kỷ
Trang 28Nhắc đến miến dong Hưng Yên du khách gần xa không khỏi nhắc đến
sản phẩm miến dong Khoái Châu, Lai Trạch
Miến dong thường được chia làm 2 loại đó là miến trắng và miến tráng mộc Miến tráng mộc làm khó hơn, đòi hỏi kỹ thuật cao hơn, chính vì thế mà giá thành của loại này cũng cao hơn so với miến trắng, còn miến trắng chủ yếu là hàng được mọi người đặt để đem đi biếu, làm quà vì loại miến này có
“hình thức” đẹp hơn Để có một mẻ miến đẹp thì phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp, trước tiên là chọn loại dong củ to, đều và già Những củ dong được tách lấy mầm giống, sau đó cho vào máy rửa, nghiền, lọc bột, lọc khử tạp chất, chọn bột, lọc bột 2-3 lần rồi sau đó đánh và hàm bột thành hồ, sau công đoạn này sẽ đưa vào máy cán ra bánh, rồi bánh lại được cắt thành sợi nhỏ và cuối cùng là phơi nắng Trong đó công đoạn chọn bột và pha chế bột
được coi là khâu quyết định và quan trọng nhất”
Sản phẩm miến dong Hưng Yên mà đặc sản là miến Khoái Châu, miến Lai Trạch, thường được thương lái đem đi bán ở các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương và có mặt ở cả một số tỉnh miền Trung như Nghệ An, Hà Tĩnh Nhờ nghề làm tinh bột và miến dong được duy trì và phát triển, những năm gần đây đời sống của nhân dân ở một số làng nghề đã và đang thay đổi từng ngày, kinh tế không ngừng được cải thiện.[13]
2.2.3.3 Tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên cũng là một trong những tỉnh có thương hiệu miến dong nổi tiếng, đặc biệt được nhắc đến nhiều đó là miến Việt Cường Thương hiệu miến Việt Cường trải qua 40 năm thăng trầm, nay đã trở thành thương hiệu không chỉ được ưa chuộng trên thị trường trong tỉnh mà còn được đông đảo các gia đình trên khắp cả nước biết đến
Miến Việt Cường chế biến quanh năm, nhưng vụ miến thường từ giữa năm cho đến gần Tết Quy trình làm miến Việt Cường về cơ bản không khác nhiều so với những vùng làm miến khác nhưng các công đoạn có phần cầu
kỳ, tỉ mỉ hơn, bởi vậy cho ra những cân miến đặc biệt mà người tiêu dung
Trang 29thưởng thức một lần rồi nhớ mãi
Ngay từ công đoạn chọn nguyên liệu đã yêu cầu rất cao Dong phải là thứ Dong riềng tía, ngọt mát được lựa chọn kỹ càng tận vùng đất Bắc Cạn Dong ấy đem về làm sạch sau đó dùng dao nhỏ gọt bỏ những phần hỏng, cạo
vỏ rồi cho vào mài nát
Sau khi dong được làm nhuyễn được bọc vào một tấm vải màn thưa để lọc Nước lọc dong yêu cầu là nước mưa sạch và không có váng bẩn Có thể dùng nước giếng nhưng phải là giếng đào chứ không dùng giếng khoan Sau khi đã có nước dong gột qua 2 đến 3 lần người thợ sẽ pha chế thêm một phần bột gạo và một số phụ gia nữa và bắt đầu quấy bột cho thật sánh Công đoạn này rất tốn sức nên đòi hỏi người làm miến phải dẻo dai và có sức khỏe vì càng lúc bột càng đặc hơn, phải quấy liên tục và đều tay thì bột không bị vón
và sống
Sau khi bột được cho vào máy ép thành sợi miến, người thợ dàn miến ra phên và đem phơi Quy trình phơi cũng phải có những bí kíp riêng thì mới tạo được hương vị đặc biệt cho miến Độ đẹp của miến phụ thuộc nhiều vào thời tiết, ngày nắng đều và không gắt phơi miến là đẹp nhất, vì miến khô chủ yếu bằng gió và nắng nhạt, nếu nắng gắt quá sẽ khiến miến mất nhiệt nhanh dẫn đến sợi miến khi nấu bị khô và không còn màu trong nữa Thông thường một
mẻ phơi đẹp là khoảng 2 nắng Miến sau khi phơi kỹ sẽ được gói lại, để nơi cao ráo tránh độ ẩm và được vận chuyển đi khắp các vùng miền
Miến thường được chia làm 2 loại đó là miến trắng và miến tráng mộc Miến tráng mộc làm khó hơn, đòi hỏi kỹ thuật cao hơn, chính vì thế mà giá thành của loại này cũng cao hơn so với miến trắng, miến trắng chủ yếu là hàng được mọi người đặt để đem đi biếu, làm quà vì loại miến này có “hình thức” đẹp hơn
Một số số chỉ số trong miến Việt Cường: Hàm lượng tinh bột: 84,4%, Hàm lượng protein: 0,84%, Hàm lượng lipit: 0,05%, Độ ẩm: 13,46%
Miến Việt Cường, cùng với hương vị đặc biệt và thành phần an toàn đã
Trang 30trở thành đặc sản thân thiện với sức khỏe, được người tiêu dùng trên khắp cả nước tin dùng [15]
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích về chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu trên phương diện kinh tế tổ chức và quản lý Các đối tượng khảo sát chính là các xưởng chế biến, các hộ sản xuất miến dong, một số đại lý cửa hàng bán buôn, bán lẻ, và người tiêu dùng miến dong Bình Liêu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài đi sâu phân tích chuỗi giá trị ngành hàng
miến dong Bình Liêu Từ đó định hướng giải pháp đề xuất để phát triển ngành hàng miến dong nhằm tăng thu nhập cho người dân
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh là một trong những xã đang sản xuất chế biến miến dong trên địa bàn huyện có diện tích trồng, chế biến và tiêu dùng miến dong lớn
- Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong năm 2014
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm tiến hành: Đề tài được nghiên cứu tại địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
- Thời gian tiến hành: Từ 01/2015 – 05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và các điều kiện kinh tế xã hội trong địa bàn nghiên cứu
Trang 31- Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại địa bàn xã Đông Tâm
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tác động đến chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm
- Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao giá trị sản xuất miến dong trên địa bàn xã Đồng Tâm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập thông tin thứ cấp: Các tài liệu, đề tài nghiên cứu, báo cáo
tổng kết của các ban ngành các cấp, các số liệu thống kê xã, bài báo, các tài liệu khác về phát triển sản xuất Các tài liệu này cung cấp các thông tin về vấn
đề nghiên cứu tổng quan, ngoài ra cung cấp các thông tin khác như: thông tin
về sản xuất, các vấn đề liên quan đến thực trạng sản xuất và tiêu thụ Các tài liệu này được thu thập theo phương pháp kế thừa có chọn lọc
* Thu thập thông tin sơ cấp: Phương pháp phỏng vấn và thảo luận nhóm
được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Phỏng vấn được thực hiện trên tác nhân là các hộ nông dân dựa vào bảng câu hỏi phỏng vấn Ngoài ra, các cuộc thảo luận nhóm có sự tham gia của các ban ngành có liên quan đến ngành sản xuất miến dong Căn cứ vào thực tế sản xuất miến dong trên địa bàn, chúng tôi tiến hành điều tra một số điểm như sau:
Bảng 3.1 Mẫu quan sát và phương pháp phỏng vấn Tác nhân trong ngành hàng Số quan sát Phương pháp nghiên cứu
1 Hộ sản xuất miến dong 15 Phỏng vấn trực tiếp (PVTT)
bằng bảng câu hỏi
2 Công ty, xưởng sản xuất
3 Người bán buôn, bán lẻ 20 PVTT bằng bảng câu hỏi
Trang 324 Người tiêu dùng 15 PVTT bằng bảng câu hỏi
Nội dung điều tra :
- Thông tin về người được phỏng vấn
- Thông tin chung về hộ phỏng vấn
- Năng suất, thu nhập từ sản xuất miến dong của hộ sản xuất và công ty/ xưởng sản xuất
- Ý kiến của hộ điều tra đánh giá hoạt động sản xuất miến dong trong
cơ cấu cây trồng, nguồn thu của hộ
- Nguyện vọng, ý kiến của các hộ điều tra
Phương pháp điều tra: phỏng vấn trực tiếp các hộ dân/công ty/xưởng sản xuất miến dong; các đối tượng tiêu dùng sản phẩm miến dong; những người bán buôn, người bán lẻ sản phẩm miến dong Bình Liêu
3.4.2 Phương pháp tính toán và tổng hợp số liệu
Kiểm tra phiếu điều tra: tiến hành sau khi thu thập số liệu tại địa bàn nghiên cứu, bổ sung các thông tin thiếu, chưa đầy đủ và phân loại các tác nhân theo tiêu thức cần nghiên cứu
Tổng hợp và xử lý thông tin: tổng hợp kết quả điều tra theo các chỉ tiêu phân tích
Xây dựng cơ sở dữ liệu và vào số liệu: sử dụng phần mềm Excel và các phần mềm trợ giúp khác để tổng hợp tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp phân tích số liệu sau đây được áp dụng:
- Phân tích thống kê mô tả nhằm phản ánh thực trạng sản xuất, thị trường
Trang 33của ngành hàng và nhận ra các giải pháp tiềm năng để lực chọn một số trong các giải pháp đó cho việc đánh giá sâu hơn
- Phân tích lợi ích – chi phí được sử dụng để xác định lợi nhuận và lợi nhuận giữa các tác nhân trên kênh thị trường
- Phân tích SWOT được sử dụng để đánh giá các mặt:
S (Điểm mạnh): Điều kiện thuận lợi ở bên trong cộng đồng, nguồn lực thúc đẩy góp phần phát triển tốt hơn (hiện tại)
W (Điểm yếu): Các yếu tố bất lợi bên tổng cộng đồng, những điều kiện không thích hợp hạn chế phát triển (hiện tại)
O (Cơ hội): Những tác động bên ngoài cộng đồng, phương hướng cần được thực hiện nhằm tối ưu hóa sự phát triển, các kết quả dự kiến sẽ đạt được (tương lai)
T (Nguy cơ/Thách thức): Những yếu tố bên ngoài cộng đồng có khả năng tác động vào cộng đồng tạo ra kết quả xấu, những kết quả không mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển (tương lai)
3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.5.1 Chỉ tiêu mô tả ngành hàng
- Số lượng tác nhân tham gia ngành hàng miến dong
- Phân chia các tác nhân trong ngành hàng theo chức năng:
+ Tác nhân thực hiện chức năng sản xuất
+ Tác nhân thực hiện chức năng vận chuyển, thu gom
+ Tác nhân thực hiện chức năng phân phối
+ Tác nhân thực hiện chức năng tiêu dùng
- Kênh thị trường của ngành hàng
3.5.2 Chỉ tiêu đặc điểm ngành hàng
- Đặc điểm sản xuất miến dong
Trang 34+ Vốn đầu tư sản xuất miến dong (1.000 đ)
+ Tổng số lao động gia đình, lao động thuê sản xuất miến dong
Trang 35- Đặc điểm kênh bán buôn và bán lẻ miến dong
+ Vốn đầu tư kinh doanh (1.000 đ)
+ Số lao động tham gia kinh doanh
- Đặc điểm tiêu dùng miến dong của người dân
+ Thói quen tiêu dùng của người dân
+ Số tiền dùng 1 lần để mua miến dong
+ Số lần người tiêu dùng mua miến dong trong tháng
3.5.3 Chỉ tiêu đánh giá kết quả
- Đối với tác nhân sản xuất
+ Sản lượng miến dong (tạ/năm)
+ Năng suất miến (tạ/lần)
+ Công suất chế biến (lần)
- Đối với các tác nhân kinh doanh
+ Số lượng miến dong kinh doanh/ngày/tháng
+ Tổng doanh thu (TR)
- Đối với tất cả các tác nhân
+ Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch
vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của từng
tác nhân Chi phí trung gian được thể hiện bằng công thức:
IC = ∑Cj* Gj Trong đó: Cj: số lượng đầu tư của đầu vào thứ j
Gj: đơn giá đầu vào thứ j
Hộ SX: Chi phí mua đầu vào + Chi phí máy móc
Hộ bán buôn, bán lẻ: Chi phí mua SP + Chi phí hoa hồng cho thu gom
Chi phí vận chuyển + vé chợ (nếu có) + Chi phí thuê quầy hàng…
+ Giá trị gia tăng (VA): là phần giá trị tăng thêm của một quá trình sản
xuất kinh doanh VA = TR – IC = GO – IC
Trang 36+ Thu nhập hỗn hợp (MI): là thu nhập thuần túy của người sản xuất trong một chu kỳ sản xuất
MI = VA – (A + T + LT) Trong đó: A là khấu hao tài sản cố định
T là thuế sản xuất
LT là công lao động thuê (nếu có)
+ Lợi nhuận (LN) hay còn gọi là Giá trị gia tăng thuần được tính bằng cách lấy giá trị gia tăng trừ đi các chi phí tăng thêm Công thức tính:
LN = GTGT – chi phí tăng thêm
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
- Phía Đông giáp thôn Đồng Tranh xã Hoành Mô
- Phía Tây giáp xã Lục Hồn, xã Tình Húc, nước CHND Trung Hoa
- Phía Bắc giáp xã Hoành Mô, nước CHND Trung Hoa
- Phía Nam giáp xã Lục Hồn
4.1.1.2 Đất đai, địa hình
Có địa hình đất dốc, chia cắt mạnh, có nhiều đồi núi cao, xen kẽ là các cánh đồng thung lũng hẹp ven sông, suối và thung lũng núi đá vôi Dạng địa hình núi đất là phổ biến, có độ dốc trên 25 độ, chiếm trên 88% diện tích
4.1.1.3 Khí hậu
Xã Đồng Tâm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hạ nóng
ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô hanh ít mưa Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,40C, độ ẩm không khí trung bình là 82%
4.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế
* Nông nghiệp
Nền nông nghiệp của xã tăng trưởng khá nhưng thiếu tính ổn định và bền vững, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm hàng hoá ít, sức cạnh tranh chưa cao, chưa hình thành các vùng sản suất hàng hoá Kết quả sản xuất nông nghiệp tăng là do áp dụng các biện pháp thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao
- Trồng trọt: Mặc dù chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, những năm qua
Trang 38tốc độ tăng trưởng giá trị về trồng trọt của xã luôn giữ được ổn định, có loại cây trồng đạt mức cao như cây dong riềng Nhìn chung diện tích thực hiện cơ bản đạt kế hoạch , bên cạnh đó có một số diện tích cây trồng tăng do diện tích thực hiện cây dong riềng giảm nên người dân chuyển sang trồng một số loại cây trồng khác như: Khoai sọ, Sắn, rau, cây khoai và diện tích bỏ hoang là 3,8ha chiếm 0,73%
- Chăn nuôi: Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm chưa được nhân dân quan tâm đúng mức; chăn nuôi còn nhỏ lẻ, thủ công, truyền thống, giống con chưa phong phú, đa dạng mặc dù nhiều năm nay xã đã triển khai thực hiện các đề
án chuyển đổi vật nuôi đem lại nhiều lợi ích và năng xuất cao, phù hợp với điều kiện của địa phương Các mô hình chăn nuôi có quy mô lớn và hiệu quả còn ít Nhìn chung tốc độ tăng trưởng đàn gia súc, gia cầm và các loại vật nuôi còn chậm Kết quả chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại vật nuôi khác trên địa bàn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với điều kiện và tiềm năng đất rừng của xã Tích cực làm tốt công tác tuyên truyền chăm sóc và bảo vệ cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn trên địa bàn xã, khi có dịch bệnh xảy ra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc lây lan của dịch bệnh Chỉ đạo tuyên truyền vận động nhân dân phát triển nghề chăn nuôi phù hợp với lợi thế, hoàn cảnh của từng hộ gia đình, từng thôn bản nhưng hầu hết các mô hình đều không nhận rộng được như mô hình chăn nuôi gà, ong mật,…
- Nuôi trồng thuỷ sản: Chủ yếu nhân dân sử dụng diện tích này vào chăn nuôi
cá nước chảy Những năm qua, xã thực hiện Đề án nuôi cá nước chảy, hàng năm trích một phần kinh phí hỗ trợ cho thực hiện Đề án song thực chất kết quả còn hạn chế, sản lượng đánh bắt hàng năm thấp, chủ yếu phục vụ các hộ gia đình chăn nuôi, sản phẩm hàng hoá chưa nhiều, chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân trên địa bàn
Trang 39* Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự chuyển biến và phát triển song còn chậm Các sản phẩm chủ yếu như: gạch nung, say sát lương thực, sản phẩm mộc dân dụng, chế biến miêng dong, Các ngành nghề, sản phẩm khác có tốc độ phát triển ổn định Xã đã khôi phục lại nghề sản xuất miến dong truyền thống, sản phẩm miến dong Bình Liêu đã trở thành hàng hoá có uy tín, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài xã, huyện biết đến
và ưa chuộng, mở ra nhiều cơ hội cho sản xuất hàng hoá loại sản phẩm này
* Thương mại và dịch vụ
Thương mại và dịch vụ có bước phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống; hàng hóa và các ngành nghề kinh doanh ngày càng đa dạng, phong phú, thu hút được nhiều hộ dân tại địa bàn xã vào kinh doanh, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy giao lưu kinh tế hàng hóa trên địa bàn
4.1.2.2 Đặc điểm về xã hội
* Dân số, lao động, việc làm
Tỷ lệ phát triển dân số của xã có nhiều biến động, tỷ lệ phát triển dân
số tự nhiên ổn định ở mức 1,01% , nhưng tỷ lệ phát triển dân số cơ học biến động tăng giảm không ổn định Xã cần có những biện pháp để quản lý tốt vấn
đề di cư, nhập cư trên địa bàn huyện
Với đặc thù là xã miền núi nên lao động của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trình độ chưa cao Nguồn lao động của xã cần được quan tâm, đào tạo để đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Cùng với sự gia tăng dân số lực lượng lao động của xã không ngừng tăng lên Nhìn chung lao động tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế -
xã hội trên địa bàn huyện hiện nay chưa được sử dụng hợp lý, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, một ngành mang tính chất thời vụ nên vẫn còn tình
Trang 40trạng thiếu việc làm, năng suất thấp, nhất là đối với thanh niên, học sinh mới
ra trường cũng như lực lượng lao động nông nhàn vẫn là vấn đề bức xúc cần được giải quyết
Trong nhưng năm qua, bằng nhiều hình thức, huyện và xã đã thực hiện chương trình Quốc gia giải quyết việc làm và lồng ghép các chương trình dự
án đã có những biện pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động như hỗ trợ, đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiến việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo Trong những năm tới, cùng sự phát triển KT -
XH, cần đặc biệt chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn xã
* Cơ sở hạ tầng
100% các hộ dân trong địa bàn xã đã được sử dụng điện lưới quốc gia Các tuyến đường liên thôn bản thường xuyên được xây dựng, nhằm đảm bảo giao thôn luôn luôn thông suốt đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa trên địa bàn
Quan tâm chỉ đạo các dự án đầu tư theo quy định, công trình chuyển tiếp, công trình đường giao thông nông thôn Tăng cường công tác giám sát thi công để đảm bảo chất lượng công trình, công tác GPMB tiếp tục được chú trọng tập trung chỉ đạo
Các ngành, đoàn thể xã quan tâm, tích cực làm tốt công tác tuyên truyền nhân dân hiến đất đặc biệt là chương trình xây dựng các công trình hạ tầng, xây dựng nông thôn mới Xây kè chống sạt thôn Pắc Pền đã hoàn thành
và đưa vào sử dụng
Bưu điện và dịch vụ luôn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, đảy mạnh hoạt động có hiệu quả, tiến hành rà soát các cụm loa đài bị hỏng và lắp đặt các cụm truyền thanh thôn bản