THỰC TRẠNG HÀNH VI SỨC KHỎE VÀ NGUY CƠ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ HAI ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI NGUYỄN THỊ HƯỞNG - Trường Đại học Thăng Long NGUYỄN HỮU HIẾU, TRẦN THỊ THANH HƯƠNG Trường
Trang 1Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật là 6%, trong đó
chủ yếu là biến chứng nhiễm trùng (3,2%)
Trong số 163 bệnh nhân liên lạc được có 25
trường hợp có tái phát sau điều trị (15,3%)
Vị trí hay tái phát là vùng da quanh mắt (28%), rãnh
mũi má (20%), mũi (16%)
Thời gian tái phát sau điều trị được ghi nhận nhiều
nhất là sau 24 tháng (48%)
Khối u kích thước lớn (> 5cm) có tỷ lệ tái phát cao
(71,4%), khối u kích thước nhỏ (≤ 2cm) có tỷ lệ tái phát
thấp (9,5%)
Giai đoạn III có tỷ lệ tái phát cao nhất (46,4%) và
giảm dần đến giai đoạn I chỉ còn 5,3%
Tỷ lệ tái phát của các thể lâm sàng là không khác
nhau
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ môn phẫu thuật tạo hình Trường Đại học Y Hà
Nội (2004) Các u ác tính của da Phẫu thuật tạo hình,
nhà xuất bản Y học, 116 – 120
2 Trần Văn Thiệp, Phan Triệu Cung, Võ Duy Phi Vũ,
Đỗ Tường Huân (2005) Vạt đảo có cuống dưới da trong
phẫu trị ung thư da vùng đầu cổ Chuyên đề Ung thư
học, Hội thảo phòng chống ung thư TP Hồ Chí Minh,
175 – 183
3 Wilson de Oliveira and all (2003) Dermatology Online Journal Volume 9, number 5; www.dermatology.cidlib.org/basal/ribeiro.html
4 Jeffey L Melton, M.D., Atlast of Dermatology www.meddean.luc.edu
5 Trần Thanh Cường, Võ Đăng Hùng, Bùi Xuân Trường, Trần Chí Tiến (2005) Sử dụng vạt tại chỗ trong điều trị ung thư da vùng đầu cổ Chuyên đề ung thư học, hội thảo phòng chống ung thư Tp Hồ Chí Minh, 163 –
170
6 Bùi Xuân Trường, Trần Văn Thiệp, Phó Đức Mẫn (1999) Chẩn đoán và phẫu thuật ung thư da vùng đầu cổ Tạp chí Thông tin Y dược, số đặc biệt chuyên đề ung thư,
122 – 128
7 Đỗ Thu Hằng (2004) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư biểu mô da tại bệnh viện K từ 1999 - 2004 Luận văn thạc sỹ y học
8 UICC (1997):TNM Atlast, 187 – 190
9 Rhodes A.R (1995) Public Education and Cancer
of the skin Cancer supplement: 613 – 630
10 Nguyễn Bá Đức (2007), “Các nguyên tắc xạ trị trong ung thư”, Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư, Nhà xuất bản Y học, tr 31-38
THỰC TRẠNG HÀNH VI SỨC KHỎE VÀ NGUY CƠ TRẦM CẢM
CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ HAI ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
NGUYỄN THỊ HƯỞNG - Trường Đại học Thăng Long
NGUYỄN HỮU HIẾU, TRẦN THỊ THANH HƯƠNG
Trường Đại học Y Hà Nội
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh
viên học tập và trải nghiệm bản thân Tuy nhiên, sự
thay đổi môi trường sống, môi trường học tập, sinh
viên thường đối mặt với hành vi sức khỏe có hại, cũng
như nguy cơ về trầm cảm và stress Mục tiêu: (1) Mô
tả thực trạng hành vi sức khỏe của sinh viên năm thứ
hai Trường Đại học Thương Mại (2) Đánh giá nguy cơ
trầm cảm của nhóm sinh viên trên Đối tượng và
phương pháp: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt
ngang, sử dụng bộ câu hỏi tự điền (bộ câu hỏi liên
quan tới hành vi sức khỏe được phát triển và thang đo
nguy cơ trầm cảm CESD) được tiến hành trên 400 sinh
viên năm thứ 2, được lựa chọn ngẫu nhiên Kết quả:
Tỷ lệ sinh viên uống rượu 48,8%, hút thuốc lá 8,8%, sử
dụng chất gây nghiện 3,2%, tỷ lệ sinh viên có nguy cơ
trầm cảm là 49,5%, một số yếu tố liên quan tới stress ở
sinh viên là bắt đầu khóa học đại học 85,5%, nhiều
trách nhiệm mới 84,8%, Kết luận: Sinh viên đang gặp
rất nhiều vấn đề liên quan tới hành vi sức khỏe, stress
và nguy cơ trầm cảm trong những năm đầu tiên của
thời gian học đại học, do đó cần phải có sự quan tâm
đúng mức tới sức khỏe của sinh viên
Từ khóa: Hành vi sức khỏe, nguy cơ trầm cảm,
CESD, sinh viên năm thứ 2
SUMMARY
HEALTH BEHAVIORS AND RISK OF
DEPRESSION FROM SECOND YEAR STUDENT OF
environment and learning environment, students is often faced with adverse health behaviors, as well as risks of depression The Trade University has more than 14,000 students are studying but study on health behavior of students were limited
Objectives: (1) To investigate health behaviors of second year student at the National Trade University; (2) To evaluate risk of depression in above students Methods: Cross-sectional study was applied in 400 second year students by self-filled questionnaire and applied CESD for identifying risk of depression Results: The health behaviors of student were as following: drinking rate was 48.8%, 8.8% smoking, drug use by 3.2%; the percentage of students at risk of depression was 49.5%
Conclusions: Students having a lot of health problems during the time studying in college, so it should have the relevant attention to the health of students
Keywords: Health behaviors, risk of depression,
CESD, 2 nd students
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với sinh viên (SV), thời gian ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm
và phương pháp tư duy cũng như là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân Tuy nhiên, theo quy luật phát triển tâm lý của lứa tuổi này, SV lại đối mặt
Trang 2đổi môi trường học tập với cách thức học tập khác hẳn
so với thời gian học phổ thông Vì vậy, nhiều SV không
thể đương đầu với những khó khăn, thử thách và do
vậy dễ có các nguy cơ lâm vào chứng trầm cảm
Theo điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh
niên Việt Nam lần thứ II (SAVY 2), tỷ lệ thanh thiếu
niên nói chung, SV nói riêng sử dụng rượu bia, hút
thuốc ngày càng nhiều hơn, có một tỷ lệ không nhỏ
trong số họ còn có lúc có cảm giác tự ti (29,9%), có
cảm giác thất vọng, chán chường về tương lai (14,3%)
[1] Theo nghiên cứu của Phạm Thị Huyền Trang, có
tới 63,6% SV bị stress, các yếu tố ảnh hưởng liên
quan tới stress như vấn đề về học tập trên 75%, căng
thẳng, lo lắng (81%), mệt mỏi, chán ăn khoảng 50 -
70% Kết quả từ một nghiên cứu tại một trường đại
học tại Đức cho thấy có khoảng 22,1% SV có hút
thuốc lá, 32,5% SV uống rượu vài lần một tuần, 10%
có sử dụng các thuốc gây nghiện (cần sa, cocain,
amphetamines,…) trong 3 tháng gần đây [2] Theo
nghiên cứu của Hiệp hội Y khoa Mỹ năm 2010,
khoảng 18.800.000 người Mỹ trưởng thành, chiếm
khoảng 9,5% độ tuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên
bị rối loạn trầm cảm trong một năm trong đó tỷ lệ gặp ở
phụ nữ cao gấp 2 lần so với nam giới [3]
Trường Đại học Thương Mại hiện với hơn 14.000
SV chính qui đang theo học, những cử nhân kinh tế
tương lai Hiện tại chưa có nghiên cứu nào liên quan
đến sức khỏe của SV trong trường Với mục đích tìm
hiểu cụ thể các hành vi liên quan đến sức khỏe, vấn
đề trầm cảm và stress của SV, phân tích những cảm
nhận trải nghiệm từ đó đưa ra một số một số biện
pháp để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và điều
chỉnh hành vi của SV, chúng tôi tiến hành đề tài này
với các mục tiêu như sau:
Mô tả thực trạng hành vi sức khỏe của SV năm thứ
hai Trường Đại học Thương Mại
Đánh giá nguy cơ trầm cảm của nhóm SV nói trên
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên hiện đang
học năm thứ 2 trường Đại học Thương Mại
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Hiện đang học năm thứ 2 hệ chính quy
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Hiện không có vấn đề sức khỏe tâm thần hay một
số tật như khiếm thị, tật nguyền cũng như không trong
thời kỳ điều tra liên quan tới vấn đề pháp lý
Tiêu chuẩn loại trừ:
Hiện đang học các năm thứ 1, 3, 4
Từ chối tham gia nghiên cứu
Hiện đang có vấn đề về sức khỏe tâm thần hoặc
một số tật như khiếm thị, tật nguyền
Đang trong thời kỳ điều tra liên quan tới vấn đề
pháp lý
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Thương
Mại
Thời gian nghiên cứu: 1/2013 – 11/2013
3 Cỡ mẫu và chọn mẫu
Cỡ mẫu: Được tính từ công thức tính cỡ mẫu cho
việc ước tính một tỷ lệ:
n = Z2(1 - /2) p x 1 - p
2 Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z2 (1 - /2): Hệ số tin cậy, với = 0,05 ta có Z = 1,96 p: Tỷ lệ SV có nguy cơ trầm cảm, p = 0,4
: Sai lệch mong muốn, = 0,05
Từ đó ta tính được n 369, lấy tròn cỡ mẫu là 400
SV
Chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên từ danh sách sinh
viên năm thứ 2 của các lớp, phân bổ theo tỷ lệ nam/nữ
là 1/4
4 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
5 Công cụ thu thập thông tin: Sử dụng bộ câu
hỏi được phát triển để đánh giá một số hành vi sức khỏe (uống rượu, hút thuốc, sinh hoạt tình dục, sử dụng mạng xã hội và game online…), sử dụng thang
đo CES-D đã được chuẩn hóa để đánh giá nguy cơ trầm cảm
6 Nhập và xử lý số liệu
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
Xử lý bằng phần mềm STATA v12.0
Thang đo CES-D là thang đo đã được chuẩn hóa, gồm 20 câu, đánh giá các triệu chứng thường gặp trong 1 tuần vừa qua Mỗi câu hỏi được đánh giá trên thang điểm 4, với các mức độ như sau:
0: không bao giờ gặp hoặc hiếm khi, < 1 ngày 1: xuất hiện một vài khi hoặc từ 1 – 2 ngày 2: thỉnh thoảng gặp, đôi khi hoặc trung bình từ 3 –
4 ngày
3: rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian, trong hoặc hơn 7 ngày
Sau đó tính tổng điểm của các câu hỏi, kết quả tổng điểm được phân tích theo 2 mức độ:
< 22 điểm: Không có nguy cơ trầm cảm
≥ 22 điểm: Có nguy cơ trầm cảm
7 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự thống nhất và đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường Đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện và có quyền tự do rút khỏi nghiên cứu Các thông tin về đối tượng được giữ bí mật và chỉ được sử dụng với mục đích nghiên cứu khoa học
KẾT QUẢ
Tổng số SV tham gia nghiên cứu là 400, trong đó
nữ chiếm 73,7%, tuổi trung bình là 19,3 0,6, chủ yếu
SV sinh ra ở nông thôn (66,8%), hiện có 58,8% SV đang thuê nhà trọ, hầu hết SV vẫn chưa lập gia đình (99,5%)
Trang 3Bảng 1: Mức độ sử dụng các chất có hại cho sức khỏe của SV
Uống rượu
Chưa sử dụng bao giờ
Có, không phải 30 ngày qua
Sử dụng trong 1-9 ngày
Sử dụng trong 10-29 ngày
Sử dụng trong cả 30 ngày
18,1 59,1 18,1 4,7 0,0
63,0 31,2 4,4 1,4 0,0
51,2 38,5 8,0 2,3 0,0
(<0,001)
Hút thuốc lá
Chưa sử dụng bao giờ
Có, không phải 30 ngày qua
Sử dụng trong 1-9 ngày
Sử dụng trong 10-29 ngày
Sử dụng trong cả 30 ngày
79,0 11,4 5,7 2,8 0,1
95,6 3,8 0,6 0,0 0,0
91,2 5,8 1,7 1,2 0,1
(<0,001)
Sử dụng chất
gây nghiện
Chưa sử dụng bao giờ
Có, không phải 30 ngày qua
Sử dụng trong 1-9 ngày
Sử dụng trong 10-29 ngày
Sử dụng trong cả 30 ngày
96,1 2,9 1,0 0,0 0,0
97,0 2,0 0,7 0,3 0,0
96,8 2,2 0,8 0,2 0,0
Nhận xét: Tỷ lệ uống rượu ở nam cao gấp 7,7 lần ở nữ, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam cao hơn 5,7 lần ở nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Tỷ lệ SV nữ hút thuốc lá chiếm 4,4%, chủ yếu đã từng hút nhưng không phải trong 30 ngày qua; trong khi đó tỷ lệ nam hút thuốc cao hơn (21%), mức độ sử dụng trong tháng qua
từ 1-29 ngày là 8,5% Tỷ lệ SV có sử dụng chất gây nghiện (3%), không có sự khác biệt giữa nam và nữ, chủ yếu
đã từng sử dụng nhưng không phải trong 30 ngày qua (Bảng 1)
Bảng 2: Một số đặc điểm về hành vi sinh hoạt tình dục ở SV
Khuynh hướng tình dục
Khác giới Đồng giới Lưỡng giới Không biết
92,4 1,9 1,9 3,8
94,9 0,7 2,7 1,7
94,2 1,0 2,5 2,3
2,9 (0,404)
Mối quan hệ hiện tại
Chưa có người yêu
Có và đang sống cùng
Có nhưng không sống cùng
71,4 3,8 24,8
79,3 0,7 20,0
77,3 1,5 21,2
6,5 (0,039)
Số bạn tình trong 12 tháng
qua
Không Một Hai
Từ ba trở lên
48,6 39,1 0,9 11,4
55,3 39,7 1,7 3,3
53,5 39,5 1,5 5,5
10,5 (0,018)
Nhận xét: Khuynh hướng tình dục chủ yếu là khác
giới (94,2%) Bên cạnh đó, 5,8% sinh viên trả lời là có
có khuynh hướng đồng giới, lưỡng giới hoặc không
biết mình theo khuynh hướng nào, tỷ lệ này ở nam cao
hơn ở nữ Tỷ lệ SV nam có người yêu và đang sống
cùng cao hơn ở nữ (nam 3,8%, nữ 0,7%), sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Hầu hết SV không
có hoặc chỉ có 1 bạn tình trong 12 tháng qua (93%),
5,5% sinh viên có số bạn tình từ ba trở lên (5,5%), đặc
biệt ở SV nam (11,4%) (Bảng 2)
Tỷ lệ SV đã quan hệ tình dục trong 12 tháng qua có
sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ, tỷ lệ đã quan hệ ở
nam là 17,1% gấp 6 lần so với SV nữ (2,7%)
Biểu đồ 1: Các biện pháp tránh thai được sử dụng khi
quan hệ
Nhận xét: Biểu đồ 1 cho thấy chủ yếu SV khi quan
hệ tình dục sử dụng bao cao su để tránh thai (57,7%).Tuy nhiên, khoảng 1/4 số SV không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục
Bảng 3: Tỷ lệ chơi game online và vào mạng xã hội
ở SV
Sử dụng Internet
Nam
n (%)
Nữ
n (%)
Chung
2 (p) Chơi game
online
86 (81,9)
196 (66,4)
282 (70,5) 2,3
8,9 (0,003) Vào mạng xã
hội
103 (98,1)
293 (99,3)
396 (99,0) 0,4
1,2 (0,278)
Nhận xét: Tỷ lệ SV sử dụng Internet để chơi game
online cao (70,5%) trong đó tỷ lệ SV nam chơi cao gấp 2,3 lần SV nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,01) Hầu hết SV đều sử dụng mạng xã hội (99%),
đặc biệt ở SV nữ (Bảng 3)
Trang 4Biểu đồ 2: Thời gian chơi game online và sử dụng
mạng xã hội
Nhận xét: Thời gian chơi game online và vào mạng
xã hội của SV chủ yếu dưới 3 giờ (trên 80%), thường
từ 1 - 3 giờ Bên cạnh đó vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ
sử dụng trên 3 giờ để chơi game online (12,1%) hay
vào mạng xã hội (19,4%) (Biểu đồ 2)
Bảng 4: Nguy cơ trầm cảm ở SV
Nguy cơ
trầm cảm
Nam
n (%)
Nữ
n (%)
Chung
2 (p)
Có nguy
cơ
45
(42,9)
153 (51,9)
198 (49,5)
(0,113) Không có
nguy cơ
60
(57,1)
142 (48,1)
202 (50,5)
Nhận xét: Tỷ lệ SV có nguy cơ trầm cảm khá cao,
chiếm gần 1/2 số SV (49,5%) Tỷ lệ SV nữ có nguy cơ
trầm cảm cao hơn SV nam khoảng 10% Tuy nhiên sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
BÀN LUẬN
1 Sử dụng các chất có hại cho sức khỏe: Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ SV sử
dụng uống rượu ở SV nam là 81,9%, cao gấp 7,7 lần
ở SV nữ, tỷ lệ hút thuốc lá là 21%, cũng cao gấp 5,7
lần Kết quả này thấp hơn so với tỷ lệ sử dụng rượu và
thuốc lá trong SAVY 2 (58% có sử dụng rượu, 20,4%
hút thuốc lá) [1] Nguyên nhân là do đặc thù của nam
giới là sự mạnh mẽ, thích thể hiện nên thường dùng
rượu để làm thước đo độ mạnh mẽ và cũng như là lời
mời chào trong các bữa tiệc Một đặc thù nữa là nam
giới thường hút thuốc lá khi căng thẳng hoặc cũng có
thể do bạn bè lôi kéo rồi dẫn đến nghiện thuốc lá Mức
độ sử dụng rượu và thuốc lá thường đã từng sử dụng
hoặc sử dụng trong 1-9 ngày Việc sử dụng các chất
này không tốt cho SV bởi nó không chỉ hại sức khỏe
mà còn hao tốn tiền của của SV Ngoài ra còn có một
tỷ lệ nhỏ SV có sử dụng chất gây nghiện (khoảng 3%)
Có thể những SV này là những SV có điều kiện, hay
vào các quán bar, sử dụng các thuốc gây nghiện để
bay nhảy, hoặc có thể gặp ở một số SV khác dễ bị
cám dỗ, lôi kéo khi bắt đầu vào môi trường phức tạp ở
đô thị Hậu quả có thể dẫn SV tới những tệ nạn xã hội
khác rồi cả những hành vi vi phạm pháp luật Nhà
trường cần có các biện pháp tuyên truyền trên bảng
tin, băng rôn và đài phát thanh về tác hại của chất gây
nghiện Đồng thời, Trạm y tế và Phòng Công tác SV
có thể tổ chức xét nghiệm bất chợt phát hiện sử dụng
chất gây nghiện trong người cho SV năm thứ nhất
Đây là hình thức răn đe, góp phần đảm bảo môi
trường học đường nói không với ma túy
2 Hành vi sinh hoạt tình dục: Khuynh hướng tình
dục của SV trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là khác giới (94,2%) Bên cạnh đó còn có khoảng 5,8%
SV có khuynh hướng đồng giới, lưỡng giới hoặc không biết mình theo khuynh hướng này, các đối tượng này có thể do bản thân về cấu tạo cơ thể hay tâm sinh lý của họ nhưng cũng có thể do một số SV có nhu cầu kiếm thêm tiền mà có thể phục vụ những người có nhu cầu tình dục đồng giới Điều này có thể
là nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội cao, vì vậy cần phát hiện và tổ chức tư vấn cho những SV này Ngoài
ra, một số có người yêu và đang sống cùng, nguyên nhân có thể do thuê nhà ở không có sự kiểm soát của gia đình, nhà trường, đây là vấn đề đang nhức nhối đặt ra ở giới trẻ Theo nghiên cứu về sống thử và quan
hệ tình dục trước hôn nhân của SV do Trung ương hội
SV kết hợp với Bộ Y tế tiến hành năm 2008 tại các trường đại học phía nam kết quả cho thấy tỷ lệ SV đồng ý với việc sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng cao, có xu hướng tăng lên ở một
số khu vực nội thành đô thị lớn [4] Từ đây sẽ dẫn đến những ý nghĩ và hành động nguy hại hơn của các em
SV đặc biệt là SV nữ như lỡ có thai ngoài ý muốn rồi nạo phá thai, tập trung cuộc sống “vợ chồng” không tập trung học hành… Đây là những vấn đề cần tìm hiểu sâu hơn, đồng thời Trạm y tế trường và Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên cần phải tìm hiểu kỹ hơn
và tổ chức các hoạt động nhằm tư vấn kiến thức liên quan đến sức khỏe sinh sản và ngăn chặn hệ lụy xảy
ra
3 Sử dụng internet: Đối với SV, môi trường học
tập, giải trí phong phú đa dạng, nhu cầu sử dụng internet ngày càng cao Sự ra đời của internet đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh thần cũng như đời sống học tập của SV trong môi trường sống luôn năng động
và bận rộn hiện nay Nghiên cứu về thị trường Internet Việt Nam năm 2012 vừa được công bố, internet đã vượt qua radio (23%) và báo giấy (40%) để trở thành phương tiện thông tin được sử dụng hàng ngày phổ biến nhất tại Việt Nam (42%) Trong đó giới trẻ độ tuổi
từ 15 đến 24 là đối tượng dùng internet nhiều nhất Tuy nhiên thời gian sử dụng internet để chơi game online của SV năm thứ 2 khá cao Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tiền bạc và kéo theo đó
là các hành vi tiêu cực Nhà trường nên kết hợp với Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường sinh hoạt văn hóa lành mạnh, bổ ích, qua
đó làm hạn chế thời gian chơi game online
4 Đánh giá nguy cơ trầm cảm: 49,5% là con số
cho thấy tỷ lệ SV có nguy cơ trầm cảm khá cao, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Đình Quyên (39,6%) [5] hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Liên (47,6%) [6] Tỷ lệ SV nữ có nguy cơ trầm cảm cao hơn
SV nam khoảng 10% Trong một nghiên cứu ở Mỹ thì
tỷ lệ gặp ở nữ cao gấp 2 lần nam giới (12% so với 6,6%) [7] Do đa phần tính cách nữ yếu đuối hơn nam nên thường bị ảnh hưởng tâm lí và suy nghĩ nhiều hơn khi gặp khó khăn Điều này có thể giải thích vì khối lượng kiến thức học trong một buổi quá nhiều, quá nặng kèm theo các yếu tố khác như trò chơi, mạng xã
Trang 5hội cũng như cỏc cụng việc khỏc làm SV khụng thể tập
trung, dẫn đến kết quả học tập sỳt kộm, cú thể dẫn
đến sự chỏn nản, thất vọng Vỡ vậy nờn giảm tải khối
lượng kiến thức truyền tải trong một buổi, tổ chức bồi
dưỡng thờm cho những SV yếu kộm để cải thiện kết
quả học tập cho SV
KẾT LUẬN
1 Hành vi sức khỏe của SV
Tỷ lệ SV sử dụng cỏc chất cú hại cho sức khỏe khỏ
cao, chủ yếu là SV nam: sử dụng rượu 48,8%, hỳt
thuốc lỏ 8,8%, sử dụng chất gõy nghiện 3,2% Tỷ lệ
uống rượu ở nam cao gấp 7,7 lần ở nữ, tỷ lệ hỳt thuốc
lỏ ở nam cao hơn 5,7 lần ở nữ, sự khỏc biệt này cú ý
nghĩa thống kờ (p<0,05)
Tỷ lệ SV đó quan hệ tỡnh dục trong vũng 12 thỏng
qua là 6,5%, trong đú SV nam là 17,1%, cao gấp gần 6
lần SV nữ (2,7%)
Tỷ lệ SV sử dụng cỏc biện phỏp trỏnh thai khi quan
hệ tỡnh dục là 73,1%, trong đú sử dụng bao cao su
chiếm tỷ lệ 57,7%, thuốc trỏnh thai là 15,4%, khụng sử
dụng là 26,9%
Tỷ lệ SV sử dụng Internet để chơi game online cao
(70,5%) trong đú tỷ lệ SV nam chơi cao gấp 2,3 lần SV
nữ, sự khỏc biệt này cú ý nghĩa thống kờ (p<0,01)
2 Nguy cơ trầm cảm ở SV
Tỷ lệ SV cú nguy cơ trầm cảm là 49,5%, SV nữ cú
nguy cơ trầm cảm là 51,9%, SV nam là 42,9%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2010), "Điều tra quốc gia về vị thành niờn
và thanh niờn Việt Nam (SAVY2)"
2 Stefanie M Helmer (2012), "Health-related locus of control and health behaviour among university students in North Rhine Westphalia, Germany", BMC Research Notes
3 Katherine Skipworth (2011), "Relationship between Perceived Stress and Depression in College Students", The Degree Master of Science, Arizona State University
4 Trung tõm hỗ trợ sinh viờn (2008) Giảm stress cho tõn sinh viờn
http://www.hungvuong.edu.vn/tthtsv/index.php?option
=com_content&view=article&id=129:gim-stress-cho-tan-sinh-vien&catid=44:k-nng&Itemid=91
5 Do Dinh Quyen (2007), "Depression and among the first year medical students in university of medicine and pharmarcy Ho Chi Minh city, Vietnam", College of Public Health Sciences, Chulalongkom University
6 Nguyễn Thị Bớch Liờn (2011), "Nguy cơ trầm cảm ở một số khối sinh viờn đa khoa trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011 và một số yếu tố liờn quan", Khúa luận tốt nghiệp Bỏc sĩ đa khoa, Đại học Y Hà Nội
7 WHO (2005) “Child and adolescent mental health policies and plans”
http://www.who.int/mental heath/policy/en/Child2020Ado20Mental20Health final.pdf
KếT QUả LÂU DàI PHẫU THUậT TạO HìNH VAN BA Lá
Có ĐặT VòNG VAN Và TạO HìNH KHÔNG VòNG VAN TạI VIệN TIM Thành Phố Hồ Chí Minh Từ NĂM 2000 - 2012
Trương Nguyễn Hoài Linh, Nguyễn Văn Phan
Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm Thọ Tuấn Anh - Đại học Y Dược TP.HCM
TểM TẮT
Mục tiờu: Đỏnh giỏ kết quả lõu dài của 2 phương
phỏp phẫu thuật tạo hỡnh van 3 lỏ cú đặt vũng và
khụng vũng van tại Viện Tim Tp.HCM
Phương phỏp nghiờn cứu: Nghiờn cứu đoàn hệ hồi
cứu kết hợp tiến cứu với 581 bệnh nhõn phẫu thuật
bệnh van 2 lỏ cú kốm sửa van 3 lỏ trong khoảng thời
gian từ năm 2000 đến năm 2012
Kết quả: 581 bệnh nhõn đó được can thiệp điều trị
phẫu thuật van 3 lỏ đồng thời với phẫu thuật van hai lỏ,
trong đú cú 279 đặt vũng van 3 lỏ (48.02%) và 302 tạo
hỡnh khụng đặt vũng van 3 lỏ (51,97%) Thời gian theo
dừi là 6,19 ± 3,62 năm Cỏc yếu tố liờn quan đến chỉ
định đặt vũng van là rung nhĩ (OR=1.82); hở van 3 lỏ
thực thể (OR=5.72); mức độ hở van 3 lỏ trờn 2
(OR=3.11) và mức độ NYHA trờn II (OR=2.44) Sự cải
thiện mức độ hở van 3 lỏ, NYHA và ỏp lực ĐMP tõm
[95%CI, 0.37 – 0.60, p<0.001], tăng NYHA HR=0.72 [95%CI, 0.56 – 0.93, p=0.01], cũn ỏp lực ĐMP thỡ nguy
cơ tương đương giữa 2 nhúm
Kết luận: Kết quả điều trị lõu dài của nhúm bệnh nhõn được phẫu thuật tạo hỡnh van ba lỏ kốm đặt vũng van tốt hơn so với nhúm bệnh nhõn được tạo hỡnh khụng đặt vũng van Khuyến cỏo nờn sử dụng kỹ thuật đặt vũng van cho cỏc bệnh nhõn cú : rung nhĩ, hở van
ba lỏ thực thể, mức độ hở van ba lỏ mức độ vừa-nặng ( > 2), đường kớnh thất phải lớn (>35mm), NYHA >2 trước phẫu thuật để đảm bảo kết quả điều trị tốt về lõu dài (trờn 10 năm)
Từ khúa: hở van 3 lỏ, đặt vũng, tạo hỡnh, kết quả
lõu dài, Viện Tim Tp.HCM
summary
Objective: To evaluate the long-term outcomes of