Tai biến trong phẫu thuật RKHD mọc lệch, ngầm Bảng 6: Tai biến trong phẫu thuật RKHD mọc lệch, ngầm Nhận xột: Trong 27 trường hợp được phẫu thuật nhổ răng cú 3 trường hợp gẫy chúp chõn
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 60
6 Tai biến trong phẫu thuật RKHD mọc lệch,
ngầm
Bảng 6: Tai biến trong phẫu thuật RKHD mọc lệch,
ngầm
Nhận xột: Trong 27 trường hợp được phẫu thuật
nhổ răng cú 3 trường hợp gẫy chúp chõn răng Cả 3
trường hợp này sau đú chỳng tụi dựng bẩy chúp lấy
chõn răng gẫy
BÀN LUẬN
Phõn bố bệnh nhõn theo nhúm tuổi và giới: Lứa
tuổi là một trong những yếu tố quyết định chỉ định, tiờn
lượng và phẫu thuật Những người trẻ tuổi cú sức
khoẻ tốt, xương ổ răng và răng chưa cốt hoỏ, răng
chưa được khoỏng hoỏ đầy đủ, do vậy việc mở
xương, chia cắt răng và bẩy răng được thực hiện dễ
dàng hơn
Lý do đến khỏm: Trong nghiờn cứu của chỳng tụi
lý do đến khỏm do đau nhức chiếm tỷ lệ rất
cao(87,5%) ở những BN này thường đó cú biến
chứng sõu R7 do đú chỳng tụi sau khi nhổ răng 8
thường phải chữa tuỷ răng 7 và làm chụp nờn rất gõy
tốn kộm về kinh tế cho BN
Biến chứng hay gặp: Sõu R7 chiếm tỷ lệ rất
cao(51,8%) điều đú cũng núi nờn rằng Bn đến với
chỳng tụi hầu hết đó ở giai đoạn muộn nờn việc khắc
phục hậu quả do răng 8 rất tốn kộm và phức tạp
Tai biến: Tai biến trong phẫu thuật của chỳng tụi
thỡ gẫy chúp chõn răng cú 3 trường hợp Đõy là những răng cú chõn cong ngược chiều bẩy sau đú chỳng tụi dựng bẩy chúp chõn răng lấy đi phần gẫy đú
KẾT LUẬN
- Phõn bố bệnh nhõn theo nhúm tuổi và giới:
Tuổi >40 hay gặp nhất, nữ nhiều hơn nam
- Lý do đến khỏm: Đau nhức chiếm tỷ lệ cao nhất
- Biến chứng: Sõu R7 chiếm tỷ lệ cao nhất
- Tai biến: Gẫy chúp chõn răng hay gặp nhất TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Cỏt (1977), “Sự hỡnh thành và phỏt
triển răng”, Răng Hàm Mặt, 1, trang 73-89
2 Nguyễn Văn Dỹ (1999), “Nhận xột qua 100 trường hợp nhổ răng khụn hàm dưới mọc lệch gõy biến chứng”,
Tạp chớ Y học Việt Nam, 10, trang 45-47
3 Trần Văn Trường (2002), “Nhổ cỏc răng hàm dưới
ngầm”, Giỏo trỡnh tiểu phẫu thuật trong miệng, tr.14-24
4 Melfi R.C (1988), “Tooth development”, Oral embryology and Microscopic anatomy,(8), pp.41-84
5 Tetsh P., Wilfried W (1985), “Operative extraction of wisdom teeth”, Wolfe medical publication Ltd, pp.215 –
420
6 Lamey P.J, Lewis M.A.O (1989), “Wisdom teeth removal” Diagnostic picture tests in dentistry Wolfe medical publication Ltd, pp.44
NGHIÊN CứU MộT Số BIếN CHứNG TRÊN BệNH NHÂN TĂNG HUYếT áP KHáNG TRị
Mai Tiến Dũng - Học viện Quân y
Tóm tắt
Qua nghiên cứu 189 bệnh nhân tăng huyết áp được
điều trị tại Bệnh viện 103 trong đó có 114 bệnh nhân
tăng huyết áp kháng trị (nhóm nghiên cứu), 75 bệnh
nhân tăng huyết áp không kháng trị (nhóm chứng)
chúng tôi nhận thấy tăng huyết áp có những biến
chứng chính như sau: biến chứng tim (76,3%), biến
chứng thận (24,4%), biến chứng não (21,1%) và biến
chứng mắt (44,7%) của nhóm tăng huyết áp kháng trị
cao hơn nhóm tăng huyết áp không kháng trị, với
p<0,05
Từ khóa: Tăng huyết áp kháng trị, Bệnh viện 103
Đặt vấn đề
Tăng huyết áp đang trở thành một vấn đề sức khỏe
trên toàn cầu do sự gia tăng tuổi thọ và tăng tần suất
các yếu tố nguy cơ Tăng huyết áp ước tính là nguyên
nhân gây tử vong 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm
4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người
sống trong tàn phế) Trên thế giới tỷ lệ tăng huyết áp
chiếm từ 8 đến 18% dân số (theo Tổ chức Y tế Thế
giới) thay đổi từ các nước châu á như Indonesia 6 -
15%, Malaysia 10 - 11%, Đài Loan 28%, tới các nước
Âu - Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 6 - 15%, Hoa Kỳ
24% ở Việt Nam, tần suất tăng huyết áp đang ngày
càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển, năm 2008 thì
tần suất tăng huyết áp ở người lớn Việt Nam là 25,1%
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính ảnh hưởng đến cơ
thể từ từ và liên tục Bệnh thường gây những biến
chứng nặng nề, thậm chí gây tàn phế và tử vong như:
đột quị não, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy
tim, suy thận và rút ngắn tuổi thọ của con người nếu
không được điều trị đúng Việc phát hiện sớm, điều trị tốt làm giảm tỷ lệ tai biến do tăng huyết áp gây ra Bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị là nhóm bệnh nhân còn chưa được hiểu biết đầy đủ, chưa thấy được
đề cập tới nhiều Chính vì vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu tăng huyết áp kháng trị có những biến chứng gì để giúp các bác sỹ thực hành lâm sàng có những đánh giá, chẩn đoán chính xác bệnh lý và đưa ra phương pháp
điều trị thích hợp nhằm mục đích giảm tỷ lệ biến chứng của tăng huyết áp kháng trị Đề tài tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu:
Tìm hiểu một số biến chứng của tăng huyết áp kháng trị
Tổng quan
* Khái niệm tăng huyết áp
Thuật ngữ tăng huyết áp (THA) hay tăng áp lực
động mạch mô tả sự tăng cao kéo dài huyết áp động mạch Tuy nhiên, xác định chỉ số huyết áp (HA) nào
được coi là ngưỡng cho chẩn đoán THA đến nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất, chưa có một ranh giới rõ ràng giữa HA bình thường và HA bệnh lý
+ Năm 1978, WHO đă qui định mức HA < 140/90mmHg thì được coi là bình thường, từ
>160/95mmHg là THA chính thức và từ 140/90mmHg
đến < 160/95mmHg là THA giới hạn Tuy nhiên, trong thực tế các thầy thuốc thấy mức qui định trên là khá cao, bởi vì ngay từ mức 140/90mmHg HA đã có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu đến cơ thể Nghiên cứu Framingham cho thấy ở nhóm người có trị số HA từ 140/90mmHg đến < 160/95mmHg được theo dõi trong
Trang 2Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 61
thời gian 20 năm có tỷ lệ tai biến tim mạch như tai biến
mạch não, suy tim, suy mạch vành hoặc tử vong do
nguyên nhân tim mạch đều tăng gần gấp đôi so với
những người có mức HA < 140/90mmHg
* Chẩn đoán
THA biểu hiện chủ yếu trên lâm sàng là những thay
đổi về trị số HA, bệnh tiến triển nói chung trong một
thời gian dài không có triệu chứng Các triệu chứng lâm
sàng thấy được là do tác động của HA lên các cơ quan
đích, thường là các biến chứng Việc chẩn đoán THA
chủ yếu dựa vào chỉ số HA được đo theo phương pháp
lâm sàng qui chuẩn Đến nay đo HA tại phòng khám
bằng HA kế thuỷ ngân vẫn là tiêu chuẩn vàng cho
chẩn đoán THA Dựa vào phương pháp đo này nếu có
HATT ≥ 140mmHg và/ hoặc HATTr ≥ 90mmHg kéo dài
thì được chẩn đoán là THA
* Tăng huyết áp kháng trị (THAKT)
+ THAKT (Resistant Hypertension - RH) được định
nghĩa là THA mà khi đã sử dụng một phác đồ điều trị
với ít nhất 3 loại thuốc chống THA phối hợp với liều
thích hợp bao gồm một loại thuốc lợi tiểu vẫn không
đạt được HA mục tiêu HA mục tiêu ở những người
THA là < 140/90mmHg và < 130/80mmHg ở bệnh
nhân THA có nguy cơ cao (bao gồm những người đái
tháo đường, bệnh thận mãn tính ) Bệnh nhân không
dùng được thuốc lợi tiểu và phải sử dụng 3 thuốc khác
nhau trong phác đồ điều trị mà vẫn không đạt được HA
mục tiêu thì cũng coi là THAKT, hoặc bệnh nhân dùng
từ 4 thuốc trở lên để đạt được HA mục tiêu thì cũng xếp
vào diện THAKT Khái niệm này không áp dụng với
những bệnh nhân mới bị THA hoặc chưa được điều trị
* Biến chứng THAKT
- Biến chứng tim mạch: THA hay gây biến chứng
sớm ở hệ tim mạch, có thể gặp các biến chứng như:
phì đại thất trái, rối loạn nhịp, suy tim hoặc nhồi máu cơ
tim…phình, tắc hay hẹp các mạch máu Chẩn đoán
các biến chứng tim mạch thường dựa vào điện tim, siêu
âm tim, siêu âm mạch (nếu cần thiết thì có thể chụp
CT, MRI hoặc chụp mạch)…
- Biến chứng thận: THA là một yếu tố nguy cơ chính
cho sự tiến triển của bệnh thận mạn tính Thuốc đối
kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) có hiệu quả
trong việc kiểm soát HA ở bệnh nhân THAKT nhưng
không được sử dụng rộng rãi trong suy thận vì nguy cơ
tăng kali máu Mục tiêu HA cần đạt được ở bệnh nhân
suy thận mạn < 130/80mmHg, nhưng chỉ có khoảng
10% - 20% bệnh nhân đạt được mức này
- Biến chứng não: Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng
qua (TIA: transient ischemic attack), đột quị não
- Biến chứng mắt: Động mạch mắt (động mạch
võng mạc) là nhánh tận cùng của động mạch cảnh
trong, nằm ở đáy mắt, mặt trên của võng mạc áp lực
tâm thu của động mạch đáy mắt chỉ bằng một nửa của
động mạch cánh tay Tình trạng tổn thương động mạch
đáy mắt phản ánh gián tiếp tình trạng các động mạch
trong não nhờ vào phương pháp soi đáy mắt
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
189 bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện 103 trong đó, có 114 bệnh nhân THA có đủ tiêu chuẩn THA kháng trị (có 43 bệnh nhân do suy thận) và đưa vào nhóm 1 (nhóm bệnh) và 75 bệnh nhân THA không kháng trị (THAKKT) có cùng phân bố về tuổi, giới đưa vào nhóm 2 (nhóm chứng)
2 Phương pháp nghiên cứu
* Tiêu chuẩn chẩn đoán biến chứng não [2]
- Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA - Transient Ischemic Attack): Tổn thương thần kinh khu trú (ví dụ: bại liệt nửa mặt, rối loạn ngôn ngữ, liệt dây thần kinh VII, mù ) nhưng hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 giờ
- Đột quị não: Đột quị não là tình trạng đột ngột mất chức năng não khu vực hoặc lan tỏa gây hôn mê > 24 giờ, tùy thuộc vào vị trí tổn thương của động mạch não
mà gây những triệu chứng lâm sàng khác nhau như:
* Biến chứng tim
- Phì đại thất trái (PĐTT)
- Suy tim: Dựa vào tiêu chuẩn Framingham 1993 bao gồm suy chức năng tâm thu thất trái hay là suy chức năng tâm trương thất trái hoặc suy tim toàn bộ
- Rối loạn nhịp tim: Dựa vào lâm sàng và các tiêu chuẩn điện tâm đồ của Trần Đỗ Trinh để phân ra: Rung nhĩ, ngoại tâm thu thất, Block nhĩ thất
* Biến chứng thận
- Xác định tổn thương thận khi có protein niệu (+) hoặc tăng ure, creatinin máu
- Suy thận (mức lọc cầu thận < 60ml/ 1 phút hoặc
ước lượng dựa vào nồng độ creatinin máu)
* Biến chứng mắt: Tổn thương đáy mắt được chia
4 độ theo Keith, Wegener và Baker
* Các kỹ thuật chẩn đoán như: Điện tim, siêu âm,
chụp CT, soi đáy mắt, xét nghiệm sinh hóa máu được thực hiện tại Bệnh viện103
Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Bảng 1: Tuổi và giới đối tượng nghiên cứu Nhóm
Tuổi
p
Giới
Nhận xét:
- Sự phân bố về tuổi và giới của nhóm THAKT và nhóm THA tương đương nhau (p>0,05); Tuổi trung bình nhóm THAKT là 58,54 13,75 và tuổi trung bình nhóm THA là 60,28 11,49 (p >0,05)
- Nhóm THAKT có tỷ lệ nam giới bị bệnh cao hơn nữ giới, sự khác biệt có ý nghĩa với p <0,05
Bảng 2: Giá trị HA đo phương pháp Korotkoff khi vào viện
Trang 3Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 62
Giá trị THAKT (n = 71) THAKKT (n = 75) p
HATT (mmHg) 173,27 ± 20,47 154,52 ± 17,22 < 0,001
HATTr (mmHg) 99,86 ± 11,64 91,16 ± 8,92 < 0,001
T.bình (X ± SD) 121,35 ± 15,67 109,73 ± 10,81 < 0,001
Nhận xét:
Giá trị HA đo thông thường khi vào viện của nhóm
THAKT cao hơn nhóm THAKKT, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,001
HATT của nhóm THAKT đo thông thường là 173,27
20,47 cao hơn nhóm THAKKT là 154,52 17,22, với
p < 0,001
HATTr của nhóm THAKT đo thông thường 99,86
11,64 cao hơn nhóm THAKKT là 91,16 8,92
Bảng 3: Một số biến chứng ở cơ quan đích của
nhóm nghiên cứu
Nhóm
Cơ quan đích
p
Não Đột quị (n=7) 15/71 21,1 4/75 5,4 < 0,05
Cơn TIA (n=8)
- Tỷ lệ biến chứng mắt ở nhóm THAKT là 44,7 tăng
hơn nhóm THAKKT là 17,5, sự khác biệt có ý nghĩa với
p < 0,05
- Biến chứng thận ở nhóm THAKT có tỷ lệ 21,1%
cao hơn nhóm THAKKT, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0, 05
- Tỷ lệ biến chứng não ở nhóm THAKT là 21,2% cao hơn nhóm THAKKT là 4,0%, sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05
Kết luận
Qua nghiên cứu 189 bệnh nhân tăng huyết áp trong đó có 114 bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị chúng tôi nhận thấy: Biến chứng ở cơ quan đích: tim (76,3%), thận (24,4%), não (21,1%) và mắt (44,7%) của nhóm tăng huyết áp kháng trị cao hơn nhóm tăng huyết áp không kháng trị, với p < 0,05
Tài liệu tham khảo
1 Hoàng Trâm Anh – 2008, Nghiên cứu biến đổi huyết
áp 24 giờ ở bệnh nhân suy thận mạn có tăng huyết áp kháng trị, Luận văn thạc sỹ y học - Học viện Quân y
2 Đặng Duy Quý – 2002, Yếu tố nguy cơ, nguyên nhân và biến chứng của THAKT, Luận văn thạc sỹ y khoa
- Học viện Quân y
3 Calhoun DA; Zaamn MA, 2002, Resistant hypertension, Curr Hypertens Rep Jun; 4 (3): 221-228
4 Moser M, Setato JF – 2006, Clinical practice Resistant or difficult-to-control hypertension, N Engl J Med; 355(4):385-392
5 Pepperell JC, Ramdassingh-Dow S., 2002, Ambulatory blood pressure after therapeutic and subtherapeutic nasal continuous positive airway pressure for obstructive sleep apne: a randomised parallel trial, Lancer; 359: 204 – 210
NGHIÊN CứU MộT Số YếU Tố NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐếN CậN THị HọC ĐƯờNG
ở HọC SINH TIểU HọC Và TRUNG HọC CƠ Sở CủA THàNH PHố Hà Nội NĂM 2009
Vũ Thị Thanh - Bệnh viện Mắt Hà Nội
Đoàn Huy HẬu - Học viện Quân y
Hoàng Thị Phúc - Bệnh viện Mắt TW
Tóm tắt
Mục đích nghiên cứu: Xác định một số yếu tố nguy
cơ liên quan đến cận thị học đường ở học sinh thành
phố Hà Nội Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt
ngang Nghiên cứu trên 6.184 học sinh (3.222 nam và
2.962 nữ) tiểu học và trung học cơ sở từ 6- 15 tuổi ở
04 quận, huyện ở Hà Nội năm 2009 Kết quả nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ cận thị là 33,7% (khúc xạ cầu
tương đương: ≥ -0,75D) Một số yếu tố nguy cơ liên
quan đến cận thị học đường là tiền sử gia đình có
người mắc bệnh cận thị (OR = 5,54); nhìn gần trên 8
giờ/ngày (OR = 8,19); xem ti vi, chơi điện tử trên 3
giờ/ngày (OR = 11,78); ngồi sai tư thế khi học, đọc
sách, báo (OR = 5,08)
Từ khóa: Cận thị, yếu tố nguy cơ
SUMMARY
Research objectives: To identify some risk factors
related to myopia school students at Hanoi Methods:
Cross- sectional and prospective study in 2009
Research on 6.184 childrens (3,222 males and 2,962
females) from primary and secondary schools, of 4
districts in Hanoi, aged 6 -15 years The study results
showed that the rate of myopia was 33.7% (SE: ≥
-0.75 D) Some risk factors related to myopia school is
a family that have myopia (OR = 5.54); near look ≥ 8 hours / day (OR = 8.19); watching television, playing computer games ≥ 3 hours / day (OR = 11.78); sitting posture while studying, reading books, newspapers (OR = 5.08)
Keywords: Myopia, risk factors
ĐặT VấN Đề
Cận thị học đường (CTHĐ) là một trong hai bệnh trường học có nhiều nguyên nhân và các yếu tố liên quan như bẩm sinh, di truyền, chủng tộc, môi trường học tập (điều kiện chiếu sáng, bàn ghế không phù hợp, thời gian học) và bản thân học sinh (HS)… [2], [4], [7], [8] Do đó, việc xác định được những yếu tố nào có nguy cơ rõ rệt làm cho CTHĐ ở HS có chiều hướng gia tăng là vấn đề mà các nhà nghiên cứu về nhãn khoa cộng đồng, y tế trường học và các nhà giáo dục quan tâm
Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu: “Xác
định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến cận thị học
đường ở học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở của Thành phố Hà Nội năm 2009”